Một công trình tâm huyết

Thứ Sáu, 29/05/2026 00:07

. PHẠM THỊ MINH HUỆ
 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, văn học được coi là một “binh chủng đặc biệt” đóng vai trò quan trọng như các binh chủng quân sự khác trên chiến trường, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng đánh đuổi giặc xâm lăng. Đất nước thống nhất, non sông liền một dải, cần có một sự nhìn lại để đánh giá, ghi công, khẳng định, rút ra bài học cho hôm nay và mai sau. Trên tinh thần đó, hai nhà văn Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng đã biên soạn, nghiên cứu và tuyển chọn, cho ra mắt công trình Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954-1975): Một tiến trình độc đáo, do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vừa ấn hành cuối năm 2025, là việc làm rất đáng trân trọng. Sách in bìa cứng, dày 975 trang, khổ 16cm x 24cm. Trước nay, từ nhiều góc nhìn khác nhau, đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến văn học giải phóng, nhưng tập hợp một cách khá đầy đủ, dựng lại diện mạo một bộ phận văn học quan trọng trong nền văn học chống Mĩ của dân tộc, thì đây là công trình đầu tiên. Cũng phải nói ngay, có một thuận lợi về phía các tác giả: đó là hai nhà văn - chiến sĩ, từng là những học viên trẻ của lớp Bồi dưỡng viết văn khóa 4 do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp cùng Ban Thống nhất Trung ương tổ chức tháng 9/1970, rồi từ Hà Nội đi vào chiến trường miền Nam, sau này cùng công tác tại Báo Văn nghệ giải phóng và nên duyên vợ chồng, từng giữ những trọng trách trong đời sống văn học của đất nước. Công trình không chỉ là sự tổng kết mang ý nghĩa khoa học cao, mà còn là tâm huyết, nỗi lòng, trách nhiệm của các tác giả và đồng nghiệp, đồng đội của họ đã tượng hình trong từng con chữ.

Đóng góp đầu tiên của công trình là giá trị học thuật, thể hiện ở việc đi tìm điểm tựa lí thuyết vững chãi cho khái niệm “văn học giải phóng”. Có thể nói, bất kể một công trình khoa học nào, thuật ngữ cũng luôn là “từ khoá” để mở ra nội dung, là công cụ để tìm kiếm, đồng thời thể hiện đóng góp của tác giả. Nhằm xác minh thuật ngữ “văn học giải phóng”, các tác giả công trình đã công phu khảo sát, nhìn lại lịch sử đất nước và một số nước trong khu vực cùng sự đối chiếu nhiều tài liệu để khẳng định sự tồn tại của dòng văn học này. Từ phía tiếp nhận, người viết bài này xin góp mấy ý về khái niệm, chỉ có ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975.

Năm 1954, dân tộc ta đã viết nên trang sử vẻ vang Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng, nhưng đất nước vẫn chưa thống nhất, ở hai miền có hai thể chế chính trị khác nhau. Đúng với quy luật văn học là tiếng nói của lịch sử, là tấm gương của thời đại, trên miền Bắc là văn học xã hội chủ nghĩa, ở miền Nam với tính chất chính trị phức tạp văn học chia làm nhiều khuynh hướng. Theo GS. Huỳnh Như Phương, trong một nghiên cứu công phu về văn học miền Nam 1955-1975, thì có các khuynh hướng văn học sau: 1/ Đề cao chủ nghĩa quốc gia, tiêu biểu là Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Nghiêm Xuân Hồng...; 2/ Thể hiện tinh thần phản kháng, với Lý Văn Sâm, Thiếu Sơn, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Viễn Phương, Lê Vĩnh Hòa, Trang Thế Hy, Ngọc Linh, Tô Nguyệt Đình, Dương Trữ La, Chinh Ba, Truy Phong…; 3/ Tôn vinh truyền thống văn hóa dân tộc, tiêu biểu là Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Thích Minh Châu, Nhất Hạnh, Bửu Cầm, Kim Định, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San, Tuệ Sỹ… Nhìn từ thời toàn cầu hóa hôm nay, khái niệm “văn hóa ngoại biên” (marginal culture) được dùng để chỉ vùng trung gian gặp gỡ, tức các “đường biên” - nơi cộng sinh, pha tạp, chồng chéo nhau của nhiều dòng, luồng văn hóa; chính ở đây sức sống văn hóa mới thể hiện mãnh liệt. Soi vào thực tiễn văn học miền Nam 1954-1975, thì miền Nam thời kì đó có sự giao thoa nhiều luồng văn hoá: văn hoá yêu nước bản địa, văn hoá cách mạng (của Đảng ta), văn hoá phương Tây (đi theo con đường xâm lược của Mĩ)... Điều này lí giải thêm vì sao giai đoạn đó văn học miền Nam có nhiều tiếng nói, đa dạng, sinh động, kết tinh được nhiều tác phẩm có giá trị.

Trong bức tranh văn học miền Nam nhiều màu sắc và phức tạp ấy, “văn học giải phóng miền Nam” ra đời như một tất yếu. Có một đội ngũ tác giả hùng hậu, từ miền Bắc “vô” và xuất hiện ở miền Nam nhưng được tiếp thu ánh sáng cách mạng từ miền Bắc. Họ sống và viết ngay tại chiến trường, nhiều người đã cầm súng chiến đấu như những người lính thực thụ. Sự hi sinh cùng những trang viết của họ đã góp phần vào chiến thắng vĩ đại của toàn dân tộc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, như các tác giả Lê Quang Trang - Trần Thị Thắng đã nhận định trong cuốn sách: “Chỉ nhìn hẹp trong những người hoạt động văn nghệ, sự hi sinh đã vô cùng đa dạng và không hề nhỏ (…) nhưng dường như ai ai cũng đều dành hết sức cho cuộc kháng chiến, đêm ngày lo nghĩ cho trang viết, mong muốn đóng góp vào làm nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tất cả tâm huyết, nghị lực, nghĩ suy dẫn ra đầu ngọn bút” (tr.144).

Từ sự thật lịch sử và từ thực tiễn văn học ấy, hoàn toàn có thể khẳng định cùng các tác giả công trình: có một dòng văn học giải phóng trong nền văn học cách mạng Việt Nam, với định nghĩa “văn học giải phóng hay rộng hơn là văn nghệ giải phóng là hiện tượng, một thực thể tồn tại trong đời sống, một tiến trình độc đáo, đặc sắc của văn học Việt Nam trong thời gian từ 1954-1975 của thế kỉ XX. Đó là hiện tượng được sinh ra từ những yêu cầu của đời sống, từ yêu cầu cụ thể với những nhiệm vụ cụ thể, mục tiêu cụ thể của cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ” (tr.133). Đây là dòng văn học ra đời trong khói lửa chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà biểu tượng là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Dòng văn học này chịu sự chi phối của hoàn cảnh khắc nghiệt thời chiến, lấy thực tế chiến đấu chống Mĩ và tay sai làm đối tượng phản ánh, lấy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước làm mục tiêu, lí tưởng.

Phần thứ nhất của công trình có tên Văn nghệ giải phóng - một tiến trình độc đáo là một chuyên luận dài gần 150 trang, gồm 7 chương. Hai chữ “tiến trình” là sự khẳng định một nền văn nghệ mang tính hệ thống, chỉnh thể, có những quy luật vận động nội tại riêng và đóng vai trò, chức năng quan trọng trong thực tiễn. Phần này xem xét văn nghệ/ văn học giải phóng từ cơ sở xã hội hình thành, quá trình phát triển qua từng giai đoạn, những giá trị của nó trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và trong lịch sử văn học nghệ thuật cách mạng nước nhà. Lịch sử vấn đề được trình bày bao quát, công phu, không chỉ điểm lại các sách, các công trình đi trước mà còn là sự vinh danh, ghi nhận, sự khiêm tốn kế thừa và rạch ròi khẳng định phần thiếu hụt để công trình này bổ khuyết.

Phần thứ hai Tác giả, tác phẩm tiêu biểu - dài hơn 800 trang giới thiệu khái quát tiểu sử các tác giả nhiều thế hệ của văn học giải phóng cùng tác phẩm tiêu biểu của họ. Đó là những tên tuổi không chỉ làm nên lịch sử của văn học giải phóng mà còn góp phần làm nên lịch sử và thành tựu của cả nền văn học Việt Nam hiện đại. Phần Thơ giới thiệu 67 tác giả, trong đó có nhiều gương mặt nổi tiếng, quen thuộc như Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly, Giang Nam, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… Phần Văn xuôi và lí luận phê bình có sự hội tụ của 52 tác giả, như Anh Đức, Vũ Hạnh, Lý Văn Sâm, Nguyễn Quang Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Chí Trung… Trong số hơn 100 cây bút ở các thể loại khác nhau này, có những nhà văn, nhà thơ đã chiến đấu và hi sinh anh dũng, mãi mãi nằm lại ở dải đất miền Nam như Nguyễn Thi, Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Hồng, Nguyễn Mĩ, Lê Anh Xuân… Đọc các trang viết của họ, thấy thấm đẫm tình yêu đất nước và đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân; mặc dù cùng mang âm hưởng chủ đạo của khuynh hướng sử thi, ở các tác phẩm vẫn có những nét riêng trong nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu. Nhiều trang giản dị nhưng thấm thía, bởi được kết tinh từ chính cuộc sống chiến đấu, lao động của người viết với những cảm xúc, suy nghĩ chân thật, chân thành về bản thân, đồng đội, gia đình, quê hương, đất nước. Có thể nói, văn học giải phóng miền Nam đã kế thừa xuất sắc tinh thần yêu nước, xả thân, chí hi sinh trong văn học yêu nước và cách mạng Nam Bộ (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX), trong văn học kháng chiến chống Pháp (1946-1954), đã tiếp nối tinh hoa quá khứ dân tộc để khẳng định tinh thần và ý chí thời đại: quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Nếu như phần thứ nhất của công trình (phần chuyên luận) thể hiện rõ tính khoa học và giá trị học thuật thì phần thứ hai (tác giả, tác phẩm) là những trang giàu giá trị tư liệu. Trong bối cảnh kháng chiến 1954-1975, quân ta và quân địch luôn ở thế “cài răng lược”, nên công trình chú ý đến sự có mặt của văn học đô thị, văn học nông thôn, miền núi với nhiều tiếng nói: công khai, bí mật, du kích, chính quy, sinh viên, phụ nữ… Từ các trang sách đã hiện lên bức tranh “toàn dân chiến đấu, toàn diện chiến đấu”, “tất cả vì giải phóng miền Nam”. Ngoài hình ảnh về cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, thiếu thốn, khốc liệt, trong cuốn sách còn có những chi tiết thể hiện sâu sắc, thiết tha tình nghĩa con người, với những khát khao nhân tính, nhân bản. Phải đọc lại và suy ngẫm những trang Bút máu của Vũ Hạnh… để thấy thêm yêu Tổ quốc, yêu hoà bình. Phải chiêm nghiệm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng để thấm thía tình cha con sâu nặng, hay đọc Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo để ý thức hơn về trách nhiệm, bổn phận của công dân với đất nước.

Trong tình trạng bản thảo sau chiến tranh thất thoát nhiều, công lao thu thập, sưu tầm tư liệu ở công trình này là một nỗ lực lớn. Ở trang 150, các tác giả bộc bạch: “Số lượng tác giả, tác phẩm muốn in thì nhiều mà dung lượng để in có hạn. Do đó, mỗi tác giả chỉ giới thiệu được một, hai tác phẩm tiêu biểu, ngắn gọn. Với những tác phẩm văn xuôi dài, không thể in toàn bộ, xin tham khảo bằng tóm lược qua Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam”. Dẫu biết vậy, nhưng thiết nghĩ, nếu như mở rộng quy mô cuốn sách, thì có thể chọn lựa và đưa thêm vào đây những trang nhật kí, hồi kí có phẩm chất văn học của các vị lãnh đạo, tướng lĩnh, cả các anh hùng, liệt sĩ như Đặng Thuỳ Trâm, Nguyễn Văn Thạc… Đã có tới hàng trăm cuốn hồi kí của những người có vị trí quan trọng ở miền Nam trong giai đoạn 1954-1975 kể lại trung thực và nói được một cách bản chất về cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ. Những trang viết giàu giá trị hiện thực ấy rất cần cho mọi người đọc, nhất là các thế hệ mai sau, khi cuộc chiến mới chỉ lùi xa hơn 50 năm nhưng đến nay đã có những người hiểu (hoặc cố tình hiểu) một cách sai lệch về bản chất của chiến tranh, lẫn lộn tính chính nghĩa - phi nghĩa. Điều này, cuốn sách đã phần nào đề cập ở phần chuyên luận: “Cần tuyên truyền mạnh mẽ hơn các giá trị của văn nghệ giải phóng trong thế hệ trẻ, nhấn mạnh đến những thành tựu sinh ra trong điều kiện khó khăn, qua đó cổ vũ sự cống hiến của những người trẻ” (tr.136).

Kỉ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975-2025), trong năm qua đã diễn ra nhiều hoạt động tôn vinh chiến thắng, tri ân các thế hệ cha anh và khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, trong đó có các hội thảo khoa học, các chương trình văn hóa, các tác phẩm văn học nghệ thuật… Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954-1975): Một tiến trình độc đáo của hai tác giả Lê Quang Trang - Trần Thị Thắng là một công trình công phu, tâm huyết, khẳng định đóng góp lớn của văn học giải phóng trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Thiết nghĩ, trên giá sách của mỗi người yêu văn học và biết trân trọng quá khứ đều nên có cuốn sách này.

P.T.M.H

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)