Tiếng mèo hoang

Thứ Tư, 29/07/2026 00:52

. PHAN XUÂN LUẬT
 

Tôi biết bà cụ trong một hoàn cảnh khá trớ trêu.

Số là năm ấy tôi làm nhà. Vợ chồng ở nhà tập thể cơ quan, tích cóp, vay mượn đến gần chục năm mới mua được một miếng đất. Rồi lại đến gần chục năm tích cóp, vay mượn mới làm được ngôi nhà nhỏ. Khu đất đó, cả gần chục năm thường xuyên đi về, ngắm nghía và mơ ước, tôi đã thuộc như lòng bàn tay. Là một khu đất rộng đã được quy hoạch nhưng xa trung tâm thành phố, nhà cửa thưa thớt, ao tù nước đọng, cây cỏ um tùm. Nhiều nhất là cỏ lau. Vào tháng ba ta, cỏ lau trổ hoa trắng xoá, gió nam thổi về, tạo thành những sóng hoa dập dềnh không dứt. Đôi lần đi qua khu đất vào đêm mưa, nghe tiếng ếch nhái râm ran, tiếng côn trùng nỉ non, và cả tiếng mèo hoang gọi bạn tình, có cảm giác đang lạc vào một miền quê hoang vu lắm.

Hôm tôi bàn với vợ năm nay sẽ làm nhà, vợ ái ngại bảo thư thư một thời gian, chờ đông đông nhà đã, chứ làm nhà bây giờ em thấy sợ lắm. Nhưng gần hai mươi năm ở trong căn phòng bé như lỗ mũi, ra đụng vào chạm, ước mơ lớn nhất của tôi là làm được ngôi nhà, vì vậy tôi cố sức thuyết phục, mãi rồi vợ cũng nghe.

Đối diện với lô đất của tôi là ngôi nhà lô ba tầng khang trang vừa xây xong. Tôi bảo vợ, như vậy là nhà mình không phải đơn lẻ. Hôm động thổ, đang loay hoay kê bàn, sắp lễ thì một phụ nữ, áng chừng ngoài bốn mươi, to mập, mặt bự son phấn, chắp tay đứng nhìn. Tôi nở nụ cười làm quen, chị ta không nói gì, lắc mông đủng đỉnh đi vào. Lát sau nghe chị ta rổn rảng quát, giọng miền trong. Rồi thấp thoáng bóng người. Cả gần chục người, toàn là con gái, phấn son lòe loẹt, ăn mặc mát mẻ, nói cười rúc rích. Lát sau nữa, nắng lên, thấy một cụ bà, một tay ẵm con mèo con, một tay xách cái túi, có đứa bé gái chừng bốn năm tuổi, nắm vạt áo đi theo. Cụ đổ cái túi cát ra phơi, vuốt vuốt lên lưng con mèo, thầm thì, thầm thì, con mèo lim dim, khoan khoái nằm cuộn tròn trong lòng. Tôi không nghe rõ cụ nói gì, nhưng nghe âm sắc, đoán cụ là người Bắc. Cụ áng chừng đã ngoài bảy mươi, người gầy, tóc bạc trắng, khuôn mặt phúc hậu. Bất chợt cụ ngẩng đầu lên, thấy tôi, mỉm cười, tôi bắt gặp ánh mắt cụ, xa xăm, vời vợi. Ánh mắt này hình như tôi đã thấy ở đâu rồi. Tôi cũng mỉm cười, gật đầu chào cụ.

Hôm ấy là ngày tốt. Trước đó, tôi đã thấy có hai ông thợ đến bắc thang treo cái biển chỉ độ bằng cánh cửa sổ, lấp ló dưới tán cây bứng về trồng từ hôm nào, viết loằng ngoằng, luận mãi mới đọc ra dòng chữ: Tiệm Massage Ly Ly. Thảo nào ngôi nhà lại nhiều con gái trẻ lòe loẹt thế. Đến giờ hoàng đạo, anh trai cả hợp tuổi, thay tôi đứng ra làm lễ. Tôi thấy ở bên kia, người đàn bà mặt bự phấn cũng đang khấn vái sì sụp. Thật trớ trêu, bên này nhà mình động thổ, bên kia khai trương tiệm massage. Mặc, người đàn bà vẫn lầm rầm khấn vái, các cô mắt xanh mỏ đỏ lố nhố vào ra, bà cụ vẫn cùng đứa bé và con mèo thảnh thơi sưởi nắng. Thỉnh thoảng cụ lại lấy tay đảo cát và vuốt vuốt lưng con mèo.

 

Từ hôm đó, tôi làm một cái lán để trông coi nguyên vật liệu làm nhà. Không thể gọi đêm đầu tiên ngủ lán là một đêm ngủ ngon. Giữa xuân, tiết trời còn rất lạnh, màn đêm phủ xuống, cảnh vật mờ mờ, ánh đèn yếu ớt từ ngôi nhà xa xa không đủ sức xua đi sự vắng lạnh. Nhìn sang tiệm massage, thấy đèn xanh đèn đỏ nhấp nháy, chốc chốc, một chiếc xe máy vù tới, chạy thẳng vào; chiếc tắc xi đỗ lại rồi vù đi, người khách cúi mặt bước nhanh vào tiệm. Tiệm massage mới ngày khai trương mà đã khá đông khách. Nhưng tầm độ hơn mười giờ thì hết, ngôi nhà xa xa cũng đã đóng cửa, chỉ còn một màn đêm đen kịt. Và đâu bỗng gió, ào ạt tràn về hả hê giữa một vùng trống trải, cả một biển lau và cỏ dại rạp mình trong gió. Rồi có tiếng mèo kêu bởi đói, tiếng mèo đuổi chuột, tiếng mèo gọi bạn tình…, có lúc hoan hỉ, lúc gào lên thảm thiết, có lúc lại thê lương như tiếng trẻ con bị bỏ rơi. Sao đêm nay nhiều tiếng mèo đến thế, dù tôi đã biết rằng vùng này có khá nhiều mèo hoang, ban ngày thỉnh thoảng phóng xe máy qua đây tôi vẫn thấy những con mèo hoang vụt chạy qua đường.

Cũng vừa lúc ấy, tôi thấy bà cụ mở cửa bước ra. Trời lạnh, gió như thốc vào mặt, trên tay cụ xách một cái giỏ khá nặng. Đi một quãng, cụ ngồi xuống bên vệ đường, bật đèn pin, trải tấm ni lông xuống lề đường rồi dốc dốc cái giỏ vào tấm ni lông, hình như là thức ăn. Xong rồi cụ lùi ra một khoảng, hướng về đám cỏ lau, miệng kêu meo meo meo…. Tiếng kêu thật nhẹ nhàng, ấm áp, như tiếng mẹ gọi con, bà gọi cháu. Một chốc sau, có mấy con mèo hoang rón rén tiến đến. Chúng nhìn vào tấm ni lông, nhìn bà cụ, nhìn xung quanh, ngần ngừ. Trong đêm, mắt mèo sáng rực. Nhưng rồi, dường như không phát hiện thấy sự nguy hiểm nào, lần lượt từng con sà vào tấm ni lông chúi đầu ăn. Cụ bà đắm đuối nhìn lũ mèo, thỉnh thoảng lại cất tiếng meo, meo… trìu mến.

Và đêm nào cũng thế, tầm độ hơn mười giờ, tôi lại thấy bà cụ đi cho mèo ăn. Tôi để ý, hình như việc cho mèo ăn của cụ cũng có kế hoạch. Địa điểm cho mèo ăn cứ lùi dần về phía tiệm massage. Ban đầu lũ mèo còn rụt rè cảnh giác, dần dần chúng mạnh dạn hẳn lên, cứ đến giờ là rủ nhau đến, dù đôi lần bà cụ có ra muộn. Có đến hơn chục con mèo hoang, đủ sắc lông, trẻ già lớn bé, gầy xơ xác. Theo thời gian, lũ mèo cứ mượt mà dần lên, chừng vài tháng sau thì bà cụ cũng không cần ngồi cách xa lũ mèo nữa. Cụ ngồi giữa tấm ni lông, lũ mèo quây quần xung quanh, để yên cho cụ vuốt lưng con này, đút cho con kia. Rồi tiếng mèo kêu hoang trong đêm cũng thưa dần. Chừng hơn hai tháng sau, khi nhà tôi đã xây xong phần thô, tôi không còn phải nằm lán nữa mà chuyển hẳn vào trong nhà, thì địa điểm cho mèo ăn cũng đã lùi hẳn vào trong tiệm.

Cũng từ đêm ấy, tôi không còn nghe tiếng mèo hoang từ phía rừng cỏ lau và khu đầm lầy nữa, nhưng thấy mỗi sáng, bà cụ lại lễ mễ xách một cái túi cát rất to, hơn hẳn lần tôi mới đến, ra phơi. Tôi đoán đó là túi cát cụ rải ra cho lũ mèo nằm. Cụ đem đi phơi khá xa, sợ ảnh hưởng mùi hôi đến tiệm massage và nhà tôi. Lâu lâu cụ lại thay bằng một túi cát mới. Từ đây, lũ mèo hoang đã có nhà, chúng được cụ già chăm sóc, nuôi nấng như con cháu. Khu đất như cũng đỡ hoang vắng hơn.

 

Minh họa: Trương Đình Dung

Tiệm massage lặng lẽ ở một nơi hoang vắng hóa ra lại làm ăn được. Tiếp viên của tiệm cũng đông hơn. Sáng ra, các cô gái ngồi phơi nắng trên bờ vườn hoang ăn cách con đường phía nhà tôi và tiệm, líu ra líu ríu đủ các âm sắc vùng miền. Cô nào cũng chúi mặt vào điện thoại, hết nghe, gọi ai đó lại bấm bàn phím. Chừng độ bảy giờ tối thì bắt đầu có khách. Thỉnh thoảng vô tình tôi nhìn thấy người quen. Phóng xe máy vào hoặc bước xuống từ xe hơi, vội vã. Rất ít khi thấy mặt chủ tiệm, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng quát tháo cùng tiếng bát đĩa xủng xoảng đập xuống nền gạch. Đó là khi quán vắng khách nhiều ngày. Nghe nói đập vỡ chén bát để xua tà đuổi xui.

Và một lần như thế, tôi đã phải giáp mặt với bà chủ tiệm. Chiều hôm ấy, một chiều có tiếng bát đĩa vỡ trong tiệm massage, trong khi thi công, anh thợ lái máy xúc đã vô tình múc cả một đoạn bê tông bó vỉa hè. Tôi bảo anh thợ tạm thời khuân đoạn bê tông ấy đặt lên vườn hoa để khi nào làm vỉa hè thì hoàn trả, ấy thế mà bà chủ tiệm sinh sự. Bà ta kéo cả gần chục cô tiếp viên quây lấy tôi, mắng nhiếc, xỉ vả. Tôi đứng ngây người ra, không hiểu vì sao bỗng nhiên mình trở thành nạn nhân của một cuộc mắng chửi tập thể như thế. Tôi đang lúng túng thì nghe một tiếng “hừm” và thấy cụ bà từ trong tiệm bước ra. Cụ nói nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ: “Việc gì mà náo loạn lên thế? Vào, đi vào ngay!”. Chỉ một câu nói mà xoay hẳn tình thế. Bà chủ tiệm “dạ” một tiếng rồi đi vào, theo sau là các cô mắt xanh mỏ đỏ.

Sáng hôm sau, tôi vừa pha xong ấm chè nụ vối thì bà cụ đi sang, trên tay vẫn ẵm con mèo, cùng cô bé con theo sau. Tôi mời cụ uống chè. Cụ trao con mèo cho cô bé, xoay xoay chén nước trên lòng bàn tay, ngắm nhìn cái màu nước vàng sóng sánh, đưa lên ngang mũi, hít hà cái mùi khói nước âm ấm, ngòn ngọt, nhấp một ngụm rồi khen chè ngon. Cụ bảo, hồi nhỏ, cụ vẫn uống chè vối, chè tươi, sáng ra nấu một nồi to, cho cả nhà, uống cả ngày. Nhà cụ có cây vối to lắm, vối nếp, cành lá xum xuê che rợp một góc vườn, rất ngon, nhà uống không hết, hàng xóm vẫn sang xin. Cụ vừa nói vừa đưa tay quệt nước mắt, nhìn đi đâu, mãi một lúc rồi mới quay lại bảo tôi: “Cho bà xin lỗi nhé, con gái bà hư, không phải với cháu, bà xấu hổ lắm”. Nói xong, cụ làm dấu thánh rồi đứng dậy ra về. Tôi để ý thấy cụ đeo trước ngực một cây thánh giá nhỏ. Tôi mời cụ sáng mai lại sang uống chè, cụ gật đầu.

Từ hôm đó, cụ trở thành bạn uống chè vối của tôi. Lần nào sang nhà tôi uống chè, cụ cũng dắt theo đứa bé và ẵm theo một con mèo nhỏ. Tôi biết về cuộc đời của cụ từ những lần uống chè như thế…

*

*        *

Nạn đói khủng khiếp năm một chín bốn lăm quét qua cái làng nhỏ ven sông của Vũ Thị Lý. Đó là một làng công giáo toàn tòng có từ mấy đời. Cánh đồng mênh mông trước làng một năm hai vụ lúa giờ rờn rợn một màu đay. Lúa đã đến thì con gái, có đám đã ngậm đòng, nhưng lính Nhật về bắt nhổ hết để trồng đay lấy sợi phục vụ chiến tranh. Thóc lúa mấy vụ trước còn sót lại cũng bị người Nhật vơ vét chở đi đâu hết. Làng đói, hết khoai hết rau trong vườn, người làng rủ nhau ra đồng bắt cua bắt ốc, đào rau má. Nhưng rồi cua ốc, rau má, cả những thứ rau hàng ngày cho lợn ăn cũng chẳng còn. Người đói lả dần rồi chết. Nhiều nhà chết không còn một người. Chết nhiều quá, người sống cũng chẳng còn sức để đào đất chôn. Tiếng chuông nhà thờ run rẩy vào mỗi sáng mỗi chiều cũng đứt quãng, yếu dần rồi ngừng hẳn. Chỉ còn tiếng quạ. Quạ đỗ đen làng, khàn khàn gọi nhau trên những xác người, nghe âm u như cất lên từ địa ngục.

Năm đó Lý mới chín tuổi. Trước đó, cô nhặt được một con mèo, con mèo mướp ở đâu đi lạc vào vườn nhà. Con mèo bé xíu, gầy trơ xương, lông xơ xác, miệng kêu ngheo ngheo trông thật tội nghiệp. Cô chăm nó lắm, những buổi đi chăn trâu cho cụ Kiểm bá trong làng, thế nào cũng cố kiếm được vài con thia lia, cân cấn, có khi được cả con rô, con diếc, trộn với chút phần cơm ít ỏi cho nó. Con mèo phổng phao dần, chẳng bao lâu đã ra dáng một nàng mèo thật đẹp. Con mèo với cô như hình với bóng. Hễ về đến nhà là cô quấn quýt với nó. Cô thích nhất là những hôm mùa đông khi nắng mới lên, bế nó ra sân, ôm vào lòng, vuốt vuốt bộ lông xám sọc vàng mượt như nhung, dí dí ngón tay vào cái mũi phớt hồng lúc nào cũng ướt nước, giật nhẹ cái râu dài như mấy sợi cước của nó. Mẹ cô bảo cái tướng mèo bụng thon, đầu tròn, râu dài, tai đứng, mũi ướt như thế là bắt chuột giỏi lắm. Từ khi nuôi mèo, cả nhà cô không thấy bóng một con chuột. Chưa kể, con mèo có biệt tài bắt cá. Không hiểu bằng cách nào, nhiều sáng thức dậy, thấy trong cối đá nhà khi thì dăm ba con diếc, con rô, có hôm nó tha về hẳn một con cá quả. Mẹ kho cá, nấu canh dấm, bao giờ cũng dành cho mèo cái đầu.

Nhưng giờ người đói, mèo cũng đói. Chuột người ta cũng bắt hết, không đến phần mèo. Đói, mèo sục sạo khắp nơi, trong làng, ngoài đồng, có hôm nó tha ở đâu về một con cá đã chết ươn và khúc xương ai đó đã gặm nhẵn bóng. Vậy mà cả nhà mừng rơn, luộc cá, hầm xương đến rục ra, cả người và mèo nhờ đó mà qua được mấy ngày. Nhưng rồi đến lúc không có gì ăn nữa, người và mèo lả dần.

Nhớ sáng hôm ấy, một sáng đầu thu lạnh lẽo, con mèo chỉ còn da bọc xương ngước đôi mắt đục xám, phủ đầy ghèn tuyệt vọng nhìn cô, cô cũng nhìn nó, buồn muốn khóc mà chẳng có chút sức nào nữa để mà khóc. Rồi nó từ từ nhắm mắt, bốn chân duỗi ra. Vừa đói vừa thương, cô bỗng thấy trời đất tối sầm lại không biết gì nữa. Khi cô tỉnh dậy thì thấy bên cạnh mình có một bát canh thơm phức. Mẹ thấy cô tỉnh dậy, mừng quá, đỡ đầu lên đùi mình, bón canh cho ăn. Cô nhìn quanh, không thấy con mèo đâu nữa, chợt hiểu ra, nước mắt ròng ròng, mím môi lại. Mẹ phải dỗ mãi cô mới chịu nuốt mấy thìa. Đói, thèm ăn đến cồn cào, mà sao nuốt miếng canh thịt mèo cô thấy buồn nôn, miệng đắng nghét.

Con mèo đã cứu cả nhà bốn miệng ăn của Lý. Mấy ngày sau, Việt Minh kêu gọi mọi người phá kho thóc của Nhật. Kho thóc nằm ngay trong nhà thờ. Bố cô cũng hăm hở theo mọi người đi phá kho thóc. Rồi những đoàn cứu tế của Việt Minh về làng. Những người còn sống sót được Việt Minh cứu. Tiếng chuông nhà thờ lại ngân nga ấm áp sáng chiều. Lý lại đi lễ nhà thờ. Cô xưng tội với cha, tội đã không những không cứu sống được con mèo yêu quý, lại còn ăn thịt nó. Cô khóc nức nở. Cha lắng nghe, bảo Lý rằng Chúa nhân từ đã thấu hiểu, tha thứ cho Lý và cho cả nhà Lý…

*

*          *

Cụ với tay ẵm lại con mèo từ tay cô bé, bảo tôi: “Dù đã xưng tội, đã được Chúa tha thứ, nhưng lúc nào già cũng day dứt. Từ bấy đến giờ, già vẫn thường mơ về con mèo tội nghiệp”. Vừa nói, cụ vừa làm dấu thánh. Tôi nhìn kĩ hơn gương mặt cụ, một gương mặt thánh thiện và đôi mắt vời vợi của người ngoan đạo, kính Chúa. Người ta nói, những người phụ nữ ngoan đạo thường có gương mặt, nhất là đôi mắt giống nhau. Đôi mắt hướng về Đức Mẹ.

“Thế vì sao cụ lại lưu lạc vào tận trong này?”- Tôi hỏi.

Bà cụ không trả lời. Cụ đi về, lát sau sang đưa tôi xem một bức tranh màu nước. Bức tranh vẽ một gia đình bốn người gồm bố mẹ và hai chị em cụ đứng trước ngôi nhà thờ nhỏ có cái tháp chuông cao vút.

“Nhà thờ xứ đạo của già đấy, đẹp không cậu? Cô chị là già đấy, cao hơn mẹ rồi, đã là một thiếu nữ rồi đấy. Bức tranh này già thuê họa sĩ vẽ khi bà mới vào Nam, lấy bối cảnh trước khi quân Pháp tràn vào đốt làng, theo nguyên mẫu là già và lời mô tả lại. Già và em gái giống mẹ lắm nên vẽ không khó, nhưng vẽ bố thì lâu hơn, vì phải sửa đi sửa lại theo trí nhớ. Chúng đốt làng già vì là làng Việt Minh. Tan hoang hết. Mạnh ai người nấy chạy. Già thất lạc bố mẹ và em gái. Chạy mãi, rồi già lưu lạc vào một xứ đạo lớn tận trên mạn Nam Định. Đến cuối năm một chín năm tư, già bị người ta đẩy lên tàu, bảo Chúa đã vào Nam, phải đi theo Chúa. Người ta bảo vậy thì già biết vậy, chứ có biết Nam Bắc gì đâu. Sau năm bảy lăm, già cất công đi tìm, về lại làng mấy lần, hỏi thăm đủ người nhưng chẳng ai biết bố mẹ và em già ở đâu cả. Không biết họ còn sống hay lưu lạc ở phương trời nào.”

Cụ lấy tay quệt nước mắt: “Cả cuộc đời già là con mèo hoang cậu ạ! Cuối đời rồi, già vẫn còn phải lưu lạc ra tận miền Trung nắng gió này!”.

Tôi nghe, bảo cụ: “Cháu thấy chị chủ tiệm không giống cụ?”. “Nó là con già, nhưng là con nuôi. Số già vất vả, chồng con lận đận, không vào đâu cả, chiến tranh mà cháu. Già nhặt được nó ở vùng ven Sài Gòn trong Tết Mậu Thân sáu tám. Khi đó nó mới hai tuổi. Già nuôi nó kĩ lắm, nhưng lớn lên nó theo chúng bạn đua đòi nên hư thân mất nết. Nó hư nhưng có hiếu, rất thương già. Nó mà không thương thì già không theo nó ra đây đâu. Già theo nó ra đây cũng là để kìm cái tính hung hăng của nó. Nó đã đỡ nhiều rồi đấy”. Cụ ngừng lại, lặng nhìn xa xăm. Con mèo nằm trong lòng cụ bất chợt cựa mình kêu meo meo...

*

*            *

Ít lâu sau con đường lớn theo quy hoạch chạy qua khu dân cư đã được thi công, khu dân cư heo hút trở nên sầm uất. Nhà cửa đua nhau mọc lên. Có đến mấy tiệm cà phê, nhà hàng ăn uống, karaoke và một tiệm massage kiêm sàn nhảy đèn xanh đèn đỏ, tiếng nhạc xập xình suốt ngày đêm. Tiệm massage Ly Ly đối diện nhà tôi bỗng dưng vắng khách hẳn, tiếng đập bát đĩa vì thế cũng dày hơn. Các cô tiếp viên trẻ đẹp tìm đến các tiệm massage đắt khách, thay vào đó là các cô kém nhan sắc và lớn tuổi hơn, có cô dẫn theo cả con nhỏ.

Mặc tiệm vắng khách, tôi vẫn thấy bà cụ sáng sáng lễ mễ xách túi cát ra phơi, có điều bây giờ đi cùng cụ, ngoài đứa bé gái, có thêm mấy đứa trẻ con. Cụ đi đâu, chúng đi theo đó, miệng bi bô: “Ngoại ơi, ngoại à…”, nghe thật dễ thương. Nổi bật trong số trẻ con vẫn là cô bé lâu nay bám cụ như hình với bóng. Đó là cô bé đẹp như thiên thần, da trắng hồng, khuôn mặt bầu bầu, mũi cao, tóc vàng tết thành hai bím ngoe nguẩy, trông như con lai. Bé vẫn nắm áo đi theo bà cụ, nép vào người cụ nghe người lớn nói chuyện, đôi mắt tròn xoe ngơ ngác. Cụ sang nhà tôi uống nước, kéo theo cả mấy đứa trẻ. Bé út nhà tôi, cũng cùng trang lứa bày đồ chơi ra, cả bọn cùng sà vào, nói cười, hò hét váng nhà. Trẻ con thật dễ hòa nhập. Riêng cô bé vẫn đứng cạnh bà cụ, đón con mèo từ tay cụ, nựng nà, vuốt ve. Cụ nhìn lũ trẻ âu yếm, bảo: “Mong sao chúng đừng trở thành những con mèo hoang…”.

Cũng từ lúc bà cụ sang nhà tôi uống chè, chủ tiệm nhìn tôi có vẻ thân thiện hơn. Gặp tôi, chị ta gật đầu chào. Có lần chị ta bảo tôi: “Anh không biết em chứ em biết anh từ lâu rồi, ngày xưa em thuê nhà ở gần khu tập thể cơ quan anh đấy”.

*

*           *

Gần cuối năm, tôi đi công tác xa hơn chục ngày mới về, ngạc nhiên nhìn sang tiệm massage thấy treo biển bán nhà. Vợ tôi buồn buồn bảo, bà cụ mất cả tuần nay rồi, mất vì tai nạn. Tối đó, con bé tóc vàng ẵm con mèo con đang đứng tha thẩn trước cửa thì một gã đàn ông nồng nặc mùi rượu phóng vọt xe vào. Bà cụ đứng ngay cạnh đó lao tới, lấy thân đè lên con bé. Con bé và con mèo không bị sao nhưng bà cụ bị chiếc xe tông ngay vào mạng sườn bất tỉnh. Mọi người gọi xe cấp cứu đưa cụ đi bệnh viện nhưng cụ đã không qua khỏi.

Tôi bàng hoàng sang thắp hương cho cụ. Chủ quán nức nở: “Mẹ em chết cũng do em, vì cái nghề bạc phước này của em”. Con bé tóc vàng ẵm con mèo con đứng sau chị ta như người mất hồn cứ nhìn trân vào tấm ảnh bà cụ trên bàn thờ. Chủ tiệm bảo: “Con gái nuôi em đấy, tên Trà, em xin nó từ cô nhi viện”. Tôi hỏi thêm: “Em bán nhà rồi thì về ở đâu?”. “Em đã cho các cô tiếp viên nghỉ hết rồi. Mẹ em có ngôi nhà bên sông Sài Gòn. Nhà nhỏ nhưng vườn rất rộng, lâu nay vẫn gần như để hoang. Em đã đưa mẹ về yên nghỉ trong khu vườn. Bán nhà xong, em sẽ cùng bé Trà và đám mèo con về ở đó. Con bé yêu mèo lắm, lúc nào cũng ẵm mèo trên tay, chơi với mèo cả ngày không chán. Tên bé là mẹ em đặt đấy. Mẹ em vẫn kể về làng xưa có con sông Trà Lý rất đẹp chảy qua”. Tôi nhìn ảnh bà cụ. Khuôn mặt phúc hậu, ánh mắt buồn và hiền như Đức Mẹ vẫn đang nhìn về một cõi xa xăm, vời vợi. Có lẽ đôi mắt đang tìm về nếp nhà tranh xưa, nơi có mẹ cha và em gái một thời, tìm về cái làng có con sông hiền hoà chảy qua, có ngôi nhà thờ nhỏ thật đẹp với tháp chuông cao vút, sớm chiều ngân nga thả tiếng.

Chợt có tiếng kêu meo meo… vẳng lại. Bây giờ tôi mới để ý, phía góc nhà, có một tấm ni lông rộng rải đầy cát, những con mèo được tắm rửa sạch sẽ, con nằm con ngồi rầu rầu như chờ ai đó…

Rồi chừng hơn tháng sau, một sáng, tôi mở cửa, nhìn sang nhà đối diện thấy tấm bảng bán nhà đã dỡ, chiếc xe bán tải đậu trước cửa tiệm. Lũ mèo đứng ngồi lố nhố trong cái cũi lớn. Cô bé Trà ẵm chú mèo con bần thần nhìn xung quanh, mẹ giục mãi mới chịu lên xe.

Xe chuyển bánh, bỗng nghe ran tiếng mèo, tiếng to tiếng nhỏ, tiếng dày tiếng mỏng, buồn thương...

Xe chạy khuất rồi mà tôi vẫn còn nghe tiếng mèo da diết.

P.X.L

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)