. THÁI CHÍ THANH
Tôi được kết nạp Đảng tại trận, nhưng mãi một ngày đêm sau trận đánh, khi đã làm xong công tác thương binh, tử sĩ. Không phải tại trận địa mà ở kiềng trú quân, trong hầm giao ban của Ban chỉ huy Đại đội. Đáng ra kết nạp hôm ấy có năm người, nhưng anh Lãm hi sinh trong trận đánh hôm trước. Hi sinh trong chiến trận là chuyện thường tình của lính, nhất là ở mặt trận nam Quảng Trị trong thời kì ác liệt của chiến tranh cuối năm 1972. Nhưng hi sinh trước ngày kết nạp thì đau quá. Chúng tôi dành một phút mặc niệm anh và những đồng đội vừa nằm xuống trong trận đánh căn cứ pháo binh Bãi đá 1 của địch.

Minh họa: Nguyễn Văn Minh
Lễ kết nạp Đảng tại mặt trận rất đơn giản mà ba lần chạy pháo mới xong. Không cờ, không có ảnh Bác và khẩu hiệu, nên chúng tôi chào cờ chay, Đại đội trưởng Mạnh - Phó Bí thư Chi bộ có sáng kiến lấy quân hiệu có hình quốc huy trong túi áo ra để mọi người nhìn vào và “xin thề”. Bốn anh em đảng viên mới cùng hô một lúc. Tiếng vang tưởng tung nóc hầm. Hào hứng, xúc động.
Hôm đó là ngày 19 tháng 8 năm 1972 - một ngày lịch sử của cuộc đời tôi. Bởi từ thuở nhỏ tôi đã mơ đến ngày này. Cha mẹ tôi cũng vậy. Tôi viết thư báo tin vui này cho gia đình, họ hàng của mình, dù chưa biết gặp ai về hậu phương để gửi, nhưng có thời gian là tranh thủ, viết với tấm lòng nao nức tự hào. Hẳn nhận thư ai cũng vui, khi thêm một người trong họ được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Tôi ngây ngất với những suy nghĩ như vậy và không hiểu sao thấy cái gì cũng khang khác. Đồng đội hình như ai cũng đáng yêu hơn. Những quả đồi, dòng sông, cánh rừng nơi tôi đang chiến đấu cũng thiêng liêng hơn. Mà chẳng riêng tôi, mấy người cùng kết nạp lần ấy cũng đều có tâm trạng như vậy. Cứ nhìn sắc khí trên gương mặt họ, tôi biết.
Đợt kết nạp này, ai cũng mừng cho anh Hạnh. Không phải vì anh cứng tuổi, đã gần ba mươi, làm đến trung đội trưởng mà vì anh như người anh cả của chúng tôi. Tôi vẫn nhớ lần vượt qua cổng lửa, cây số 43 trên trục đường H. Anh Hạnh chỉ huy sáu anh em chúng tôi ra bờ nam sông Ba Lòng để lấy đạn và thuốc nổ. Chặng đường độc đạo, phơi bụng về phía địch dài ngót cây số là đoạn đường khủng khiếp nhất cuộc đời tôi từng trải qua. Cả dàn pháo ĐKZ trên 367 bắn cắm vào đội hình đang cố sức chạy trên mặt đường tuyến lầy lội bùn. Mãi sau này, chưa bao giờ tôi hết ám ảnh về con đường nhầy nhụa màu đỏ của đất, của máu, màu xám của thuốc súng, và đặc biệt từ đầu đến cuối đoạn đường nồng nặc mùi tử thi lẫn trong mùi khét lẹt của bom pháo. Bảy anh em chạy thành hai tốp. Tôi trẻ nhất, nhưng vừa mới qua trận sốt rét nên lệt bệt sau cùng, anh Hạnh phải lùi lại để hộ tống. Chắc bốn anh chạy trước đã vào đoạn che khuất, nên pháo bắn tập trung vào tốp chúng tôi. Anh Khuôn bị một quả pháo nổ sát bên cạnh, bị hất bay lên cùng đất đá. Anh Hạnh đến, cởi áo chụp vội phần thi thể có đầu anh Khuôn và chạy tiếp. Tôi lúc ấy quên cả sức yếu, nhào đến, thương đồng đội quá nhưng không thu gom được phần còn lại của anh, nên đành vác cái chân bị đứt văng ra chạy theo. Pháo vẫn bắn cho đến lúc chúng tôi vượt qua cổng lửa, sang triền dốc có cả quả đồi lớn che khuất. Đến chân dốc, cả nhóm rũ rượi bên bọc áo nhuộm máu và bùn. Thấy tôi vác cái chân đi tất xỏ trong đôi dép cao su bê bết bùn và máu, mọi người lặng đi, nhưng không một tiếng than, không một giọt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy đồng đội hi sinh thảm thương như vậy nên bị sốc, cứ nấc lên, nghẹn ngào. Anh Hạnh bảo mọi người tranh thủ đào huyệt chôn anh Khuôn rồi vẫy tôi cùng anh quay lại tiếp tục thu gom phần còn lại của thi thể liệt sĩ. Thấy mặt tôi thất thần, anh bảo: “Ở mặt trận, cứ đồng đội hi sinh lại khóc lóc u buồn thì làm sao trụ lâu dài được. Phải rắn rỏi lên!”. Sau này, khi đã dạn dày, tôi mới thấy anh nói đúng. Phải quen với chết chóc, đau thương vì cuộc chiến ngày một ác liệt và chưa biết bao giờ mới kết thúc. Nhưng nào ai dám chắc mình sẽ rắn rỏi mãi với đau thương được. Chính hôm ấy, anh Hạnh cũng bật khóc. Đó là lúc chôn cất xong anh Khuôn, anh bấm vào vai tôi đến tưởng bật máu, nghẹn ngào: “Khuôn ơi… ba lần mà không gom hết thi thể mầy… Tha lỗi cho chúng tao nhé…”.
Người thứ hai tôi muốn nhắc đến là Linh, được mệnh danh là người đẹp trai nhất, hạnh phúc nhất của đơn vị. Đẹp trai vì Linh to cao, mặt sáng sủa, lại có cả râu quai nón. Hạnh phúc vì trong đơn vị mấy ai có vợ trước khi nhập ngũ như thế. Mà vợ hắn mới đẹp làm sao. Cô gái cùng làng với Linh đã đốn tim đám lính trẻ khi cô nàng đến chia tay chồng ở đơn vị trước ngày cả đơn vị lên đường vào mặt trận. Điều đó làm cho Linh tỏ ra kiêu hãnh lắm. Suốt dọc đường hành quân hắn kể bao chuyện vợ chồng làm cho cánh lính chúng tôi nghe quên cả mệt, đến phát nghiện. Tất nhiên, chuyện vợ đẹp, vợ hiền không liên quan gì việc kết nạp Đảng tại trận. Phải là lập trường, lí tưởng cách mạng được đo bằng sự hi sinh, cống hiến của người lính. Cái đó, ai chẳng nể Linh, người đã từng dám xông lên trong làn đạn để diệt ổ hoả lực địch khi chúng phát hiện mũi quân ta đang bí mật luồn vào rào đánh sân bay dã chiến. Linh lại là người thông minh, từng phá tất cả các loại khoá mìn hiện đại nhất, hiểm nguy nhất của Mĩ trong các cuộc trinh sát. Tôi nhớ lần nhóm chúng tôi đánh cầu qua sông Ô Lâu ở Phong Điền. Suốt cả tuần lễ, hết trinh sát bám địch, lại ém quân vào ẩn dọc những dãy tre gai bên bờ sông mới đưa được hơn chục kí thuốc TNT vào chân cầu để cắt con đường tiếp quân lương của địch từ phía trong ra Quảng Trị. Ai dè, đồng hồ hẹn giờ bị hỏng, bộc phá không nổ. Trong lúc anh em chúng tôi hết sức lo lắng thì Linh bảo mọi người bình tĩnh, bàn tính cách khác. Linh lấy cái đồng hồ Citizen, dùng kim giờ và kim phút làm hai mạch khoá điện. Chờ trời tối, chúng tôi yểm trợ cho mình Linh bí mật tiếp cận khối bộc phá ở chân cầu, thay đồng hồ hẹn giờ. Chúng tôi rút được 30 phút, bằng đúng thời gian Linh hẹn, khối bộc phá nổ. Tuy cầu không sập, nhưng phải ba ngày sau quân địch mới sửa xong. Cũng sau lần đó, Linh được huân chương chiến công và lên chức tiểu đội trưởng.
Còn Thuận sứt, sau lễ kết nạp Đảng, tiếng ì xèo ngày một rộ lên. Cũng vì nó là đảng viên, anh em trong đơn vị mới ngấm ngầm điều tra, biết thêm bao chuyện chẳng hay ho gì. Nhưng vì nhờ thủ trưởng Thu, tiểu đoàn trưởng, đồng hương Thụy Khuê, Hà Tĩnh, lại họ hàng cùng nhánh Lê Cảnh nên nó mới được kết nạp. Nào là nó đã mấy lần bị kỉ luật ở hậu phương vì gái gú, phải cho vào mặt trận để rèn luyện… Những chuyện ắt sẽ đến tai Thuận. Thế mà hắn chẳng mấy tỏ ra buồn phiền hay tự ái. Vẫn bô lô ba la, thậm chí còn tỏ ra hay tếu hơn trước.
Ngay cả tôi cũng thấy lợn cợn, nhưng không dám nói vì sợ hiểu nhầm mình kèn cựa với đồng đội. Vả lại, tôi cũng có cảm tình, hay nói đúng hơn là rất quý Thuận. Từ ngày Thuận về đơn vị, dù đánh trận hay phân công đi công tác gì cũng mong có mặt nó. Chẳng cứ tôi, mà hầu như trong đơn vị, ai cũng thế. Bởi Thuận rất vui tính, cười nói suốt ngày, lại có tài kể chuyện tiếu lâm, ai cũng mê. Thuận thuộc diện xấu trai, người nhỏ thó, da ngăm đen, khắp người đầy sẹo lớn, sẹo nhỏ, lại thêm hai cái răng sứt cứ lồ lộ ngay hàng tiền đạo, trông rất ngộ. Nhưng hắn lại có duyên ngầm. Ai đã ở với hắn, dù ngắn, dù dài đều quý mến. Cứ nhìn cái miệng dẻo quẹo chuẩn bị kể chuyện, hai mắt lúc him him, lúc lóng lánh đưa đẩy chuẩn bị pha trò là đã cuốn hút con người ta rồi. Tính lại rất tếu, kể cả lúc bị địch vây, hay lạc đường đói sắp xỉu rồi mà còn làm trò. Nhưng tình cảm là một chuyện, chứ được vào Đảng lại là chuyện khác. Chính tôi cũng thích vui chuyện tiếu lâm, nhưng sau khi kết nạp, tôi cũng hạn chế và cố không nói tục, kẻo lại bị quần chúng phê bình. Chẳng thế mà chỉ tháng sau, anh em thấy tôi nghiêm nghị khác trước, gọi đùa là ông cụ non. Còn Thuận, quần chúng không đến nỗi dị nghị nếu như không mắc một tội tầy trời là máu gái. Máu đến huyền thoại. Đã là đảng viên thì phải mẫu mực, phải hết sức chuẩn chỉ chứ dây vào chuyện trai gái, vấn đề cực kì phức tạp và thuộc vào phạm trù đạo đức là không ổn rồi…
*
* *
Sau kết nạp một tuần, tình hình chiến sự trên địa bàn lại căng thẳng. Địch quyết chiếm lại cao điểm 156, lấy lại đài quan sát nhằm khống chế toàn bộ khu vực bắc Thừa Thiên, nam Quảng Trị. Đơn vị tôi lại nhận nhiệm vụ là chốt chặn ở cao điểm Đường Tăng Cụt, chủ động chặn cánh quân có cả xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ. Lính đặc công đánh chốt là chuyện mới toe vì không được huấn luyện và cũng không thuộc nhiệm vụ của binh chủng. Nhưng đã là lính mặt trận Trị Thiên năm 1972 thì chẳng có việc gì là không thể.
Hôm đó đích thị Tiểu đoàn trưởng Thu, ban chỉ huy đại đội ra tận thực địa để giao nhiệm vụ cho trung đội tôi, gồm: tôi, trung đội trưởng, Linh tiểu đội trưởng, Thuận cùng hai chiến sĩ mới bổ sung là Định và Hoài. Sau khi quán triệt nhiệm vụ, cán bộ tiểu đoàn, đại đội cùng ở lại sửa sang hầm hào và ăn uống bữa cơm chốt được chuyển từ trong kiềng ra. Ấy vậy mà Thuận chẳng nể cán bộ cấp trên, kể một chuyện cực kì bậy bạ của hắn với cô nuôi quân, giữa thanh thiên bạch nhật, giữa sân doanh trại huấn luyện đặc công, trước con mắt của hàng trăm cán bộ chiến sĩ.
“Phét!”
Tôi phản bác. Thì cứ nghe đã. Hắn bảo thế rồi tiếp. Bữa đó, mưa to lắm. Đơn vị nghỉ tập thao trường, ôn lí thuyết ở lán trại. Bỗng hắn thấy một cô nuôi quân đội nón, bưng một xoong cháo cho một chiến sĩ bị ốm. Đến giữa sân, gió thổi làm nón cô nuôi quân úp vào mặt. Cô gái đứng như trời trồng giữa trời mưa gió, chưa biết xử lí như thế nào thì Thuận sứt nhanh nhẩu khoác áo mưa chạy ra, trùm qua đầu cô bé nuôi quân chưa tròn mười tám đẹp nõn nà, hơn cả thiên thần, và lần đầu tiên trong đời hắn tha hồ mà hôn hít…
Mọi người cười ngả ngốn, nhưng đại đội trưởng thắc mắc, xoong cháo thì sao. Hắn giải thích, xoong cháo cầm cự trên hai tay cô nuôi quân được một phút rồi bị rơi tự do xuống sân vì cô nàng không còn làm chủ được mình. “Bịa. Vậy đơn vị, anh em, chỉ huy đâu?” Thuận lại cười: “Vì mọi người bận vỗ tay, hò reo tưởng tung cả doanh trại. Và kết quả là bệnh binh mất bữa trưa. Còn mình bị kỉ luật, bắt xuống làm bếp với các chị em nuôi của đơn vị”. Thuận còn bảo, kỉ luật như thế quá là thưởng lớn cho hắn, vì hắn rất mê chị em nuôi quân.
Tiểu đội trưởng Linh ngồi im từ nãy, giờ nói như nhắc khéo: “Nhưng mà cậu toàn dùng ngôn ngữ lính trận, nghe bậy bậy thế nào ấy, nhớ mình là đảng viên chứ”. Hè… hè… Thuận sứt lại cười cười, rất không nghiêm túc, thế vào Đảng rồi không phải là lính sao. Đã thế, hắn còn đưa ánh mắt cười cợt nhìn tiểu đoàn trưởng. Không biết tiểu đoàn trưởng Thu có để ý không mà chẳng có phản ứng gì.
Tôi chợt nghĩ, Thuận có duyên ngầm, duyên nổi đến đâu cũng không thể chinh phục hết thế giới phụ nữ được. Lại còn những chuyện sau mỗi lần theo du kích trinh sát, bám địch thâu đêm hay nằm hầm bí mật về, bao giờ cũng có câu chuyện với một cô du kích xinh đẹp nào đó chết vì hắn. Biết là vô lí, nhưng làm sao cãi lại cái thằng mồm mép tép nhẩy kia chứ. Mà những chuyện trăng hoa, trai gái của Thuận cứ na ná chuyện tiếu lâm về “bọ và mạ” ở Quảng Bình, cũng lan truyền trong anh em, thậm chí ra khỏi tiểu đoàn đặc công, lan sang nhiều đơn vị khác. Nhưng rồi tất cả chuyện đó tạm lắng đi, nhường cho những trận đánh cam go và ác liệt hút hết sinh lực của đơn vị.

Minh họa: Nguyễn Văn Minh
Ngay hôm sau, một tiểu đoàn của Liên đoàn 1 biệt động quân, có trực thăng, xe tăng yểm trợ đã đánh bại một loạt chốt của bộ đội địa phương, chiếm hết dãy Giăng Màn, Cai Lậy. Chốt của trung đội tôi thành tiêu điểm, là cái gai trong con mắt của kẻ thù. Hai chiếc xe tăng cách chốt chúng tôi chỉ 300m, uy hiếp, khống chế các mũi tấn công của ta, yểm trợ cho các đơn vị địch tấn công.
Bọn địch hung hăng, dựa vào hỏa lực mạnh, nhưng về đêm lại phải co cụm về căn cứ mới triển khai sơ sài với những lô cốt đắp bằng bao cát và hàng rào dây thép gai lò xo, mà chúng tôi vẫn gọi là hàng rào bùng nhùng. Không để địch tiếp tục nống chiếm và tác oai tác quái, tiểu đoàn lệnh cho đại đội 43 chủ động tấn công do anh Hạnh chỉ huy, vẫn theo cách đánh của đặc công, nở hoa trong lòng địch, nhờ bóng đêm, dẫn quân tiềm nhập vào diệt hai xe tăng địch ngay trong trận địa của chúng.
Toán quân tập kết ở chốt, bổ sung thêm tôi và Linh, cũng là hai đảng viên mới tham gia.
Chui luồn, tiếp cận mục tiêu trong bóng tối là sở trường của lính đặc công, lại là địa bàn quá quen thuộc, nên khoảng mười hai giờ đêm, chúng tôi đã tiếp cận mục tiêu, sát hàng rào dây thép gai phía sau lưng địch, cách hai chiếc xe tăng khoảng 100m. Bọn địch đang ngủ. Chỉ có tốp lính gác ngồi hút thuốc trên mấy ụ súng nổi đắp bằng bao cát. Linh và một đồng đội nữa đã sẵn sàng hai khẩu B40 hướng vào hai chiếc xe tăng đen sẫm như hai con quái vật in trên nền trời đêm. Theo phương án tác chiến, chúng tôi sẽ bất ngờ tiêu diệt hai chiếc xe tăng, ném lựu đạn vào tốp lính gác và lán địch, trong lúc chúng chưa kịp phản ứng, rút nhanh về phía đông, vòng sau lưng địch để ra sát bờ sông Ô Lâu trở về đơn vị. Chốt cũng được tăng thêm quân, sẽ bắn uy hiếp, yểm trợ cho chúng tôi nếu cần thiết.
“B40… Chuẩn bị!”
Anh Hạnh khẽ ra lệnh và vẩy tay.
Hai chiếc xe tăng trúng B40, đạn trong xe nổ tiếp, lửa trùm lên sáng rực khu đồi. Cùng lúc, lựu đạn của tôi và anh Hạnh tung vào mục tiêu. Bị đánh bất ngờ, bọn địch rối loạn, chưa kịp phản ứng thì chúng tôi đã tụt xuống chân đồi, lẩn vào những đồi sim lúp xúp, đi vòng sát bờ sông Ô Lâu vòng về chốt. Rút được nửa đường, bọn địch bắt đầu phản công, tập trung pháo cối, đại liên, M79 bắn như vãi đạn xuống thung lũng giữa căn cứ địch và chốt Đường Tăng Cụt.
Bất ngờ, có tiếng “cạch… oành”. Một quả đạn cối M79 vu vơ bắn gần đường rút, một miểng đạn nhỏ găm vào gáy anh Hạnh. Anh bảo không sao, vẫn cùng chúng tôi lui quân. Nhưng đến gần bờ sông thì anh quỵ xuống. Chúng tôi thay nhau cõng anh về chốt. Buồn thay, tay chân anh cứ thõng xuống, liệt dần cho đến lúc toàn thân bất động, chỉ còn tiếng lào thào lúc rõ, lúc bị át đi trong tiếng pháo gầm đạn nổ. Quãng đường chỉ có mấy trăm mét mà mãi gần sáng chúng tôi mới đưa được anh Hạnh về chốt, đặt anh trong căn hầm của tôi. Lúc này, không có tiếng pháo đạn, đang là khoảng lặng của chiến tranh, cả một vùng câm bặt như cõi chết.
Anh Hạnh không còn cảm nhận sự đau đớn của thể xác, nhưng trong tâm can đang dội lên nỗi đau đớn khủng khiếp. Anh nói những lời từ biệt đồng đội, rồi qua chúng tôi, trăng trối với vợ con, gia đình… Thương quá, thà hi sinh ngay khi chưa kịp cảm nhận điều gì, chứ cái chết từ từ, biết là mình sắp chết mà vẫn minh mẫn thì sợ hãi vô cùng. Mà đâu chỉ anh Hạnh, chúng tôi, những đồng đội quanh anh cũng không cầm nổi nước mắt. Riêng Linh, bỗng như người khác, mặt bệch ra, méo mó như chính nó đang trôi về cái chết chứ không phải anh Hạnh.
Quãng sau, Tiểu đoàn điều động quân bổ sung lực lượng cho chốt và điều tổ quân y mang võng ra, đưa thi thể anh Hạnh về kiềng chôn cất.
Chiến sĩ thông tin 2 oát mới được tăng cường cho biết, cấp trên chỉ đạo sống chết cũng phải giữ chốt trong ba ngày, chờ lực lượng đến tiếp ứng. Cùng lúc đó, địch điều hai xe tăng khác, cùng bầy trực thăng quần đảo, tiếp tế quân lương, chuẩn bị tấn công. Cả chốt chúng tôi căng ra, chuẩn bị cho cuộc chiến vô cùng khốc liệt sắp diễn ra. Nhưng hôm đó lại là một ngày bình yên vì địch chưa mở cuộc tấn công nào. Linh hỏi tôi, “liệu bọn ta còn sống sau trận chiến sắp tới không?”. Tôi lắc đầu, “làm sao biết được cơ chứ”. “Nhưng tớ biết, sẽ chẳng còn ai.” Tôi ngạc nhiên nhìn khuôn mặt mỗi lúc một bợt bạt của Linh, an ủi. “Sống chết có số, tao với mi đã qua bao cửa tử vẫn còn đó thôi”. Linh cười mếu. “Mi đừng giấu lòng, tao biết là mi cũng đang ớn, đang lạnh gáy vì quá sức chịu đựng”. Tôi hơi bất ngờ vì nó vừa nói đúng tâm trạng tôi. “Nhưng tao biết - Linh tiếp - mi chưa vợ con, chưa người yêu, có chết cũng thanh thản. Còn tao…”, Linh bỗng như kẻ điên, đấm thùm thụp vào ngực mình. Tôi cũng gào lên. “Thì sao, nói đi?” Rồi túm mớ tóc dày cứng của nó. “Là đảng viên không được hèn, nhớ chưa”. Nó trừng mắt nhìn tôi như kẻ xa lạ rồi cụp mắt xuống. “Thôi mà, khi có vợ như tao, mi sẽ…” Quả thực, tôi không hiểu được hết những lời đồng đội vừa nói, nhưng chẳng hiểu sao, trái tim tôi bỗng nhũn đi, mọi thứ xung quanh cũng trở nên mơ hồ, ranh giới danh dự, đớn hèn cũng lu mờ. Tôi ôm nó, chân tình, “mi muốn chi?”. “Tao với mi đêm nay bỏ chốt, trốn đi.” “Sao?” Tôi thảng thốt. “Sao lại đến nỗi này. Không bao giờ.” Đến lượt Linh gỡ tay tôi khỏi vai nó, lùi ra. “Tao biết mà. Mi không phải là tao. Mi không hiểu đâu.” Rồi nó khóc, nức nở như đứa trẻ khi gục vào tôi. “Tao biết mi sẽ khinh tao, nhưng tao phải về với vợ tao, cha mẹ tao. Thương mi chưa biết tình yêu vợ chồng, nhưng mi cũng sướng vì không phải nặng lòng chuyện đó… Tao về nhé, chỉ chia tay mi thôi.” Tôi từ từ buông nó ra, cầm lá thư viết cho gia đình nhờ nó chuyển ra Bắc bỏ bưu điện, đưa thêm hai bánh lương khô cuối cùng để nó ăn dọc đường. Hai đứa không nói thêm tiếng nào cho đến lúc nó ra đi. Không ngờ Thuận sứt đứng ở cửa hầm, chứng kiến, nhưng nó không nói gì, chỉ kịp tránh mặt trước khi Linh chui lên cửa hầm…
Nhưng rồi Linh không trốn như nó đã định. Thư từ, lương khô nó quăng trả lại tôi lúc nửa đêm về sáng. Bảo chết thì chết, chết là cùng chứ gì, đảng viên thì không được hèn, sống hèn thì nhục lắm. Tôi vừa cười vừa thương cho sự bốc đồng phút chốc của bạn…
Anh Hạnh không còn, Linh hi sinh ngay trận địch đánh vào chốt sau hôm nó quay lại. Đảng viên kết nạp tại trận lần ấy chỉ còn tôi và Thuận.
Nào ngờ, sau đó hai ngày, Thuận cũng hi sinh, đúng vào lúc có đại đội bộ binh lên thay chốt.
Đó là một kỉ niệm cực buồn và ám ảnh suốt cả đời tôi…
Từ sáng tinh mơ, bọn địch cho pháo cấp tập vào chốt. Khác với trước, lần này chúng bắn pháo chụp xen với pháo khoan, làm cho các căn hầm rung chuyển như thuyền gặp bão. Nếu chỉ bắn pháo chụp thì ở dưới hầm rất an toàn. Hay chỉ pháo khoan thì chui ra hào tránh sập hầm. Khi chúng bắn hai loại pháo này cùng lúc thì vô cùng nguy hiểm. Đã thế, trời lại sầm sập mưa. Trận mưa miền Trung thối đất thối trời. Nước tuôn vào ngập hầm, tát bại tay mới có chỗ thở. Pháo ngớt, tôi chui ra khỏi hầm, lấy cục đá ném về phía hầm của Thuận, là tín hiệu thông tin để biết đồng đội còn sống hay đã chết. Ném hòn thứ hai cũng không thấy đáp trả. Tôi nhào đến hầm chốt đầu cầu của Thuận và Định. Trời ơi, hầm bị trúng pháo khoan sập hoàn toàn. Tôi gọi mấy người còn lại tập trung cứu hai đồng đội. Nhưng khi lôi lên cả hai đã nhuộm kín bùn, mềm nhũn. Chúng tôi cuống cuồng móc bùn trong miệng đồng đội rồi hô hấp nhân tạo nhưng bất lực. Đúng lúc đó, một trung đội bộ binh vừa được tăng cường lên thay chốt cho chúng tôi. Toàn tân binh, trẻ măng. Thoạt nhìn trang phục, cách đi đứng tôi biết ngay từ Bắc vào, chưa đánh đấm gì. Sẽ rất căng đây. Cánh lính mới nhìn chúng tôi, cả người sống lẫn người chết nằm trên cáng nhuộm bùn từ đầu đến chân, chắc họ phát khiếp và không khỏi mất tinh thần.
Chúng tôi về đến kiềng, thấy đơn vị đang chuẩn bị rút quân ra bắc sông Mỹ Chánh. Tiểu đoàn trưởng Thu chết lặng giây lát trước xác Thuận và Định.
“Phải tắm giặt, chôn cất hai đồng chí chu đáo rồi mới lên đường.”
Tiểu đoàn trưởng nói rồi cùng tôi tắm cho Thuận. Sau lớp bùn nhớp nháp, là một cơ thể vốn đã nhỏ con, lại thêm sẹo chằng chịt, sẹo chồng lên sẹo của Thuận, làm tôi rủn hết cả người. Khi rửa bộ phận sinh dục của Thuận, Tiểu đoàn trưởng Thu bật ra những tiếng nấc nghẹn ngào: “Thuận ơi… Cháu tôi ơi…”. Khi thấy bọc tinh hoàn của Thuận chỉ có một nhúm da nhăn nheo, tôi cũng bị hẫng, người như chơi vơi trong trạng thái không trọng lượng. Sao lại như thế chứ, đồng đội ơi…
Thuận và Định chôn tiếp bên cạnh mộ anh Hạnh và Linh, nối dài những nấm mộ của anh em trong đơn vị đã hi sinh mà đồng đội mang được thi thể về kiềng trong gần ba tháng chiến đấu ở địa bàn này. Điều làm tôi sợ nữa là không hiểu sao, Thuận lại được chôn đúng huyệt nó đào sẵn từ trước, nhưng không dám nói với ai… Dẫu biết chỉ là tình cờ, vì những ngày không đánh trận, anh em vẫn đào sẵn huyệt để khi có tử sĩ kịp chôn cất, nhưng không nghĩ là trùng hợp đến thế.
Sau, tiểu đoàn trưởng Thu cho chúng tôi biết thêm nhiều chuyện về Thuận. Cả hai đúng là họ hàng với nhau. Nhà Thuận bị trúng bom bi của Mĩ trong một vụ oanh tạc, bố mẹ chết, chỉ còn Thuận bị thương nặng, mất cả tinh hoàn. Lớn lên, Thuận xung phong đi bộ đội để trả thù nhà nhưng không được vì chính sách con một của nhà nước. Thủ trưởng Thu trong lần lấy quân ở quê, thuyết phục huyện đội, tác động cả việc khám sức khỏe Thuận mới được nhập ngũ. Âu đó cũng là con đường tốt nhất của đứa cháu bất hạnh. Và từ đó hai người luôn cùng đơn vị.
*
* *
Sau chiến tranh, tôi và mấy anh em trong đơn vị cũ tìm về chiến trường xưa thì thấy hơn năm mươi ngôi mộ, trong đó có các đảng viên kết nạp tại trận cùng tôi đã được quy tập về địa phương hoặc nghĩa trang Trường Sơn. Hơn năm mươi năm rồi. Chuyện xưa mà ngỡ vừa mới hôm nào…
T.C.T
VNQD