Đại tá Sa pô chê

Thứ Ba, 07/04/2026 09:29

. HỒ TĨNH TÂM
 

Tay cán bộ huyện đội trẻ măng rất lém. Biết tôi là dân văn nghệ, anh ta dẫn ngay đến nhà ông Bảy - Hùng Tấn Sanh.

“Đại tá Sa pô chê đó ông. Ổng có hai sĩ quan thuộc cấp hết ý.”

Đến nơi, thấy đại tá nằm khểnh đọc báo trên chiếc ghế phô tơi ngoài vườn, tay trái tháo khớp tới cùi chỏ. Tuổi ngoài bảy chục, nhưng đọc báo không cần đeo kiếng, giọng nói rổn rảng, oang oang như lệnh vỡ.

“Mấy chả trên huyện gọi tao là Đại tá Sa pô chê, bởi tao có tới ba chục công vườn trồng sa pô chê, hay còn gọi hồng xiêm ngoài Bắc đấy. Chú mày đi thực tế sáng tác hả? Yên trí! Láng giềng của tao toàn dân chịu chơi mát trời ông địa.”

Thuộc cấp của ông là hai cô cháu nội, mắt lung liêng lúng liếng đãi tiệc ngay trong vườn. Rượu chuối cơm nướng, gỏi khô sặc rằn. Đã nhất là đĩa trứng cá vàng ngậy. Buồng trứng nào cũng bành bành như ngón tay trỏ.

“Chú mày trúng số, xuống ngay mùa sặc rằn. Hồi trước, dân xứ này tát được sặc rằn, lựa hết cá sặc cái bán lên thành phố, chỉ dám ăn sặc đực. Mấy năm nay tao đứng ra thầu mua cá sặc làm khô, trứng cá tao tách ra làm đặc sản. Ngu gì không ăn thứ ngon cho sướng đời!”

Rượu ngon, mồi ngon, lại thêm hai cô cháu lui tới tiếp mồi, bữa tiệc đã không kể đâu cho thấu. Bởi vậy, ngay buổi chiều đầu tiên tôi đã say lịm, ngủ vùi ngon lành ngay trong khu vườn sa pô chê rợp mát.

Và tôi tỉnh dậy lối chín giờ tối. Cô Ba đẹp chết người, nói như rót mật.

“Anh Ba tắm rửa cho mát, rồi vô ăn cháo cho khỏe.”

Trời ạ, cháo rắn. Rắn ri voi nặng hơn hai kí, thịt ngọt lừ, ăn tới đâu tỉnh tới đó. Vừa ăn vừa chuyện với ông đại tá. Ngẫm lại, cơ này tôi nhất định phải làm đơn xin đầu quân lính vườn cho ông mới được…

 

Minh hoạ: Ngô Xuân Khôi

Ông đại tá thời chín năm là lính tiểu đoàn Cửu Long Nam Bộ. Ông là Việt kiều trở về từ Thái Lan, cùng với tiểu đoàn Việt kiều Cửu Long, thành lập ở Udon Thani. Về tới Việt Nam, chưa kịp đánh đấm trận nào, Bảy Hùng Sanh đã có lệnh điều trở lại đất Thái, quyên góp tiền vàng mua vũ khí, thuốc men rồi đưa bằng xe bò và mấy thớt voi đi xuyên rừng xuống biển, sau đó dùng ghe máy chở về nước. Sau chuyến hàng đặc biệt ấy, Bảy Hùng Sanh thành cán bộ ngân hàng.

Khi hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 kí kết, Bảy Hùng Sanh tập kết ra Bắc, nhờ có học hành chút đỉnh thời ở Thái, ông được cử sang Liên Xô học ngành ngoại thương. Về nước, ông công tác tại một ban đặc biệt của ngân hàng trung ương, có nhiệm vụ chuyển tiền viện trợ của các nước vào miền Nam bằng con đường hợp pháp, biến chúng thành tài khoản trong các ngân hàng Sài Gòn, rồi dùng tiền đó mua hàng tại chỗ, chuyển vào vùng giải phóng.

Năm 1966, Bảy Hùng Sanh được bí mật đưa vào Sài Gòn, chui vào làm việc trong ngân hàng ngoại thương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Rồi ông được tổ chức móc nối lấy vợ, con một nhà tư sản giàu kếch xù. Nhờ gia đình vợ mà ông leo vù vù hết ngạch trật này tới ngạch trật khác trong hệ thống ngân hàng. Đến lúc bà vợ biết ông là cộng sản thì cả hai đã có với nhau ba mặt con. Khi ông bị lộ, phải thoát li vô vùng, bà cũng giã biệt đô thành, ẵm con trai út theo đi kháng chiến. Hai người cháu gái ở cùng ông bây giờ là con của người con út. Hai vợ chồng người con út cũng đã hi sinh đầu năm 1975 ở miền Đông. Còn hai người con gái lớn của ông, nhà ngoại đem qua Mĩ từ cuối năm 1974.

Bảy Hùng Sanh thoát li vô vùng, được chuyển hẳn sang hoạt động bên tuyến đường Trường Sơn trên biển. Cấp trên của Bảy Hùng Sanh lúc đó là Hồ Đức Thắng, thuyền trưởng tàu không số ở Trà Vinh.

Với ai không biết, chứ với Hồ Đức Thắng thì Bảy Hùng Sanh có một kỉ niệm không thể nào quên được. Đó là chuyện chiếc tàu không số chở vũ khí do Hồ Đức Thắng chỉ huy bị phục kích.

Đó là vào một đêm mưa gió ầm ào, như thể biển bị áp thấp quần đảo nhừ ra. Sau ba ngày thả trôi trên đường biển quốc tế, thấy biển nổi mưa giông mù mịt, Hồ Đức Thắng lệnh cho thủy thủ nhắm hướng Cồn Cù, Cồn Trứng miền duyên hải Trà Vinh tấn vào, rồi lợi dụng màn đêm đen đặc mưa gió để vào rừng Sác xuống vũ khí. Ai dè khi tàu vừa lọt vào cửa biển Định An thì từ bốn phía đèn pha tàu chiến Sài Gòn bất ngờ chiếu vào cùng tiếng loa công suất lớn kêu gọi đầu hàng. Biết đã lâm vào thế trứng chọi đá, không thể chống lại mấy con tàu sắt trang bị pháo 75 li và súng trọng liên, Hồ Đức Thắng lệnh cho anh em mặc áo phao, nhảy xuống biển tìm cách bơi vào bờ, còn ông và Bảy Hùng Sanh ở lại, lái con tàu lao thẳng vào một chiếc tàu địch đang từ phía bờ tiến ra. Khi khoảng cách vừa đủ, Hồ Đức Thắng lệnh cho Bảy Hùng Sanh kích hoạt khối thuốc nổ hẹn giờ, rồi cả hai lao mình xuống biển. Một tiếng nổ dữ dội, bụi nước xối ào ào. Bảy Hùng Sanh bị hất tung lên cao rồi quật xuống mặt nước ửng đỏ màu lửa, chìm xuống hun hút.

Nói thì dài, chứ sau nghĩ kể lại, lúc đó Bảy Hùng Sanh có biết gì. Ông chỉ biết lồng ngực đau rát như bị ai dùng búa tạ nện vào, ngạt thở tưởng chết tới nơi. Đúng vào lúc sanh tử, cận kề cái chết trong gang tấc, bỗng có ai đó ủi vào bụng, hất tung ông lên khỏi mặt nước. Và rồi trong lúc ông chới với, có ai đó thúc vào người, đẩy ông bơi vòn vọt. Khi đụng vào bờ bắc sông Hậu, Bảy Hùng Sanh quật sức ngoi được lên. Và điều kì diệu là Hồ Đức Thắng cũng đang nằm thở trên bờ, thò tay kéo lên. Bảy Hùng Sanh bị đạn nhọn bắn nát bàn tay trái, còn Hồ Đức Thắng thì nguyên vẹn, chẳng hề hấn gì. Ông nói với Bảy Hùng Sanh.

“Tụi mình được ông cá nược cứu sống, có lẽ nhờ linh bà Nam Hải. Sau này sống sót về làng, phải lập miếu thờ bà với thờ ông cá nược mầy ơi!”

Hồi đó, phàm ai sống bằng nghề hạ bạc, cũng biết tiếng ông cá nược. Nhiều nơi, người dân còn lập miếu thờ, coi trọng ông không thua gì Phật bà Nam Hải. Sau vụ được cá nược cứu sống ngoài cửa biển Định An, Bảy Hùng Sanh tiếng là lính hải quân đời đầu, nhưng bắt đầu tin vào tâm linh, cho rằng chuyện tâm linh là có thật.

Sau khi lên bờ, Hồ Đức Thắng dìu Bảy Hùng Sanh lội sâu vào rừng sú Cồn Cù, được bộ đội tiểu đoàn 306 tháo khớp bàn tay trái. Chẳng thuốc gây mê hay thuốc tê gì cả. Anh em dùng dây luộc cột chặt Bảy Hùng Sanh vào một miếng ván còng, rồi dùng dao cắt rời bàn tay nát bấy, dùng nước dừa tơ cứu sống. Khi ông tỉnh dậy, anh em dùng xuồng chở qua Cồn Trứng, gởi cho mẹ con má Sáu nuôi giùm.

Minh hoạ: Ngô Xuân Khôi

Hàng ngày cô con gái má Sáu lặn lội ngoài bãi sình rạch dừa nước, dùng dao móc con chèng heng đem về kho nước dừa cho Hùng Tấn Sanh ăn. Nói chung, thời gian trị thương kéo dài gần một tháng, mẹ con má Sáu toàn nuôi ông bằng cá thòi lòi, cá đối và con chèng heng, nên da thịt đỏ đắn, người khỏe hẳn ra. Nhớ hôm đó, có anh liên lạc của mặt trận đến báo, chiều ngày kia có ông Hồ Đức Thắng đến đón Hùng Tấn Sanh về cù lao Dài ở Vũng Liêm, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Má Sáu nghe vậy thì nói con gái chịu khó chống ghe đi chợ Duyên Hải, mua chút gì đó cho thằng Bảy ăn để chia tay.

Bữa cơm chiều hôm đó ngoài cá kèo nướng, cá kèo kho gợt, cá khoai kho mẳn, còn có rổ trái cây màu vàng nâu, cỡ tròn tròn như trứng vịt xiêm, ăn ngọt không chê được chỗ nào. Hùng Tấn Sanh mới ăn lần đầu nên không biết. Hỏi thì Hồ Đức Thắng cười khà khà. “Trái xa cô chê mầy ơi!” Cô Ba, con gái má Sáu lỏn lẻn lên tiếng. “Trái sa pô chê xứ cù lao Dài đó anh.” Hồ Đức Thắng nhìn má Sáu, nháy mắt nói. “Thì sa pô chê là xa cô chê chứ gì. Thằng Hùng Tấn Sanh sau này muốn đừng bị ai chê, thì nhớ trồng một vườn sa pô chê, để luôn gần với thứ trái cây ngon ngọt này. Bữa nay có hơi da thịt bàn tay cô Ba Cồn Trứng gọt trái cây cho ăn, sau này trồng cây trúng phải biết.”

Chia tay gia đình má Sáu, Hồ Đức Thắng bằng uy tín của mình móc nối đưa Bảy Hùng Sanh về Cầu Kè mở tiệm buôn Bảy Tấn Hùng, chuyên buôn thuốc men và dụng cụ y tế vào vùng giải phóng…

Chừng giải phóng miền Nam, Bảy Hùng Sanh được điều trở lại ngành ngân hàng, tham gia tiếp quản ngân hàng quốc gia Sài Gòn. Gặp lại mấy người bạn ở Nha Hành chánh Sài Gòn cũ, ai cũng trố mắt ra mà dòm. Họ nói, Việt cộng nằm ngay trong bao tử, hèn chi tiền bạc cứ chui tuồn tuột vô vùng giải phóng. Mĩ, ngụy thua là phải…

Đêm đã khuya lắc khuya lơ, say chuyện quá khứ, ngài đại tá gọi như ra lệnh. “Con Hai con Ba đâu bây. Vô lấy thêm hũ rượu ngâm chuối cơm nướng ra đãi chú Ba văn nghệ coi!”.

Khi chiêu xong chén rượu ngâm chuối cơm, ông nổi hứng kể tôi nghe chuyện chuyển tiền vô Nam.

“Có phải vài chục vài trăm triệu đâu mà nhét ba lô cõng vô là xong. Hàng chục hàng trăm tỉ đồng. Hổng có sách lược, hổng qua mặt được cảnh sát Việt Nam Cộng hòa. Như tao nè, tao mượn danh ngân hàng của nhà bả, hợp tác làm ăn với nhiều ngân hàng khác nhau trên thế giới, vậy là thế giới họ rót tiền đô vào Nam hợp pháp. Mình đình huỳnh đứng tên rút mỗi lần cả hàng chục triệu đô mới coóng, dùng tiền ấy mua gạo nước, mua thuốc men, mua vải ni lông dầu, vải lin phăng cho quân giải phóng, bớt gian nan chở hàng vượt Trường Sơn biết bao nhiêu mà kể. Mà nói thiệt nha. Quân giải phóng có tiền đô trong tay, mua cả pháo 105 li, xe tăng M48 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn được. Chỉ cần dàn trận đánh nhau chừng nửa tiếng, lính sư đoàn Sài Gòn thua bỏ chạy, để lại vài chiếc xe tăng, vài khẩu pháo dễ ợt. Đại tướng Cao Văn Viên chỉ huy đánh nhau, nhưng vợ Cao Văn Viên lại chỉ huy bán xe tăng, bán vũ khí hà rầm.”

*

*           *

Những ngày sau đó, tuy còn một cánh tay nhưng Bảy Hùng Sanh lái vỏ lãi vè vè. Hầu như ông là người chở tôi đi nơi này nơi khác. Đi với ổng rất ấm bụng, tới đâu cũng được tiếp đãi ngon lành. Dân trong xã ai cũng gọi ông là thầy Bảy. Hỏi mới biết, sau 30 tháng 4 năm 1975, ông hiến ngay cái tiệm buôn Bảy Tấn Hùng cho nhà nước. Đến năm 1977, ông xin nghỉ mất sức, về xứ mua đất lập vườn, an tâm trồng ba chục công sa pô chê. Ông vừa làm vườn vừa dạy chữ cho dân trong vùng. Dạy theo lối bình dân học vụ hồi chín năm kháng Pháp. Đại khái, cứ a bê xê dắt dê đi ỉa, mờ nờ tờ mình thờ nghĩa nhân. Vậy là xong tuốt tuồn tuột. Dân mình sáng dạ, học tới đâu thuộc làu tới đó. Chẳng những hiểu một cộng một bằng hai, mà hai cộng hai bằng mười cũng hiểu.

Rồi ông nhận lãnh thêm chức chủ nhiệm câu lạc bộ khuyến nông của xã. Hết dạy chữ lại xoay qua dạy bà con làm vườn, làm ruộng. Tài liệu kĩ thuật, trên tỉnh rót về hàng đống. Ông là lão nông trí thức. Họ gọi ông là thầy Bảy cũng đâu có sai.

Hai sĩ quan thuộc cấp, hai cháu gái của ông đều là giáo viên trường làng đẹp như Thúy Kiều, Thúy Vân, vậy mà vẫn còn độc thân mới khổ cho tôi, người đang lâm cảnh xa nhà, ăn dầm nằm dề xứ vườn thơ mộng bên dòng sông Hậu. Có lẽ thanh niên xứ này còn ít chữ quá, nên hai chị em mới kén chồng không ra, mới ở vậy. Tôi tá túc trong nhà ông Hùng Tấn Sanh, đi vô đi ra luôn đụng mặt hai cô, bụng dạ cứ cuống cả lên, không dám chắc cô chị với cô em, ai đẹp hơn ai, bởi họ cứ mơn mởn như bông chanh bông bưởi, thơm như trái xoài trái ổi. Nhất nhất nói gì tôi cũng phải cân nhắc, tính tới tính lui, sợ được lòng cô này thì mất lòng cô kia. Chỉ là anh em vui đùa với nhau mà cũng khổ. Bởi vậy, hết chuyến công tác, tôi với hai nàng Kiều thuộc cấp của đại tá, chẳng có gì đáng để bận lòng ràng buộc với nhau. Kiểu như ông bà mình nói, lắm mối tối nằm không.

Ai đời đại tá lại có cùng lúc hai cô cháu gái đẹp như Tây Thi nước Việt thời Xuân Thu bên Tàu, đi đâu, ngồi đâu cũng kè kè có nhau. Mình hỏi chuyện cô này một câu, cũng phải hỏi cô kia một câu. Mình nhìn cô này một cái, cũng phải nhìn cô kia một cái. Thiên vị bên này, bên kia nguýt cho tróc vảy. Mà cứ nước đôi như vậy, khác gì bắt cá hai tay. Xôi hỏng bỏng không là cái chắc.

Đêm trước ngày chuẩn bị chia tay ra về, Đại tá Sa pô chê nói với tôi:

“Sáng mai hai chị em nó đi học nghị quyết trên huyện, chú mầy quá giang luôn thể. Tới huyện, con Ba nó xin phép nghỉ một buổi chở mầy đi tiếp lên tỉnh bằng đường sông. Chịu vậy nhen!”

Ua là chèng ui! Bảy Hùng Sanh đúng là đại tá chính ủy sư đoàn, tâm lí đến tận cùng phèo phổi. Ràng ràng là ổng muốn làm mai cô Ba cho mình. Không ai dám chắc cô Ba đẹp hơn cô Hai, nhưng cô em trẻ hơn cô chị tới ba tuổi, giấy khai sanh ghi rõ chình ình ra đó, ai mà không thấy. Nói ra thì kì, chứ người trẻ tuổi thịt da họ mềm lắm, thơm lắm, sờ vô là phỏng tay, hít vô là phỏng mũi.

Như cái hôm tôi xuống tắm dưới dòng kinh trước cửa nhà. Tôi lột sợi dây nịt của lính, vắt lên sợi dây trong nhà. Khi tắm xong, tôi thay đồ, tìm hoài hổng thấy đâu. Đang ngơ ngác, không biết tự nhiên mất sợi dây nịt đi đâu, chợt nghe tiếng cô Ba hé đầu ra cửa buồng gọi.

“Anh Ba, vô lột giùm em sợi dây lưng coi. Làm sao em càng kéo ra nó càng thít chặt lại. Chặt tới hổng thở nổi nè.”

Ua là trời. Cái tính hay tò mò của con gái nó thường gây ra đủ thứ chuyện. Cái thứ nịt của lính, muốn tháo ra thì phải kéo vào, chứ càng kéo ra nó càng thít chặt. Biết vậy, tôi nói cô Ba ra ngoài này tôi tháo sợi dây lưng ra cho, nhưng cô Ba không chịu, nói ra ngoài lỡ ai thấy họ cười cho. Đấy, con gái trẻ họ còn mắc cái tật hay xấu hổ như vậy đấy. Bởi vậy tôi đành phải bước vào căn buồng tối nhờ nhờ, vì chỉ có ngọn đèn ngủ nhỏ như quả ớt. Lúc đó cô Ba đã ra sức kéo ra làm sao đó, mà sợi dây thít chặt khừ, khiến bụng cô Ba căng lên, trắng mịn và ửng hồng tới xốn con mắt. Vì sợi dây lưng thít quá chặt nên cái khóa mắc kẹt cứng ngắc, buộc tôi phải dùng lực để kéo vào. Nhưng kéo vào thì khiến cô Ba nghẹt thở, nên tôi phải thò cả hai bàn tay vào, ra sức luồn một bàn tay vào chỗ tiếp giáp giữa sợi dây và bụng cô, giữ thật chặt, rồi dùng tay kia kéo sợi dây vào - làm vậy để cô Ba không bị ngạt thở.

Nhưng khổ nỗi, cứ tôi đụng vào bụng là cô Ba cười. Cười tới không thở được, đỏ bừng cả mặt. Tiếp nữa, khi tôi tìm cách luồn bàn tay vào giữa sợi dây và bụng, có vẻ nhột quá mức chịu đựng, cô cười rung cả người, kéo tôi đổ xuống chiếc giường đôi trong buồng. Ây da ui là trời. Mặt tôi chạm vào mặt cô Ba. Mũi tôi ngửi thấy mùi da thịt cô Ba thơm ngây ngất. Tay tôi chạm vào da thịt cô thấy mềm và ấm làm sao. Nhưng… tôi làm gì có thời gian để tận hưởng sự ngọt ngào thơm tho ấy. Tôi sợ đại tá về bắt gặp. Tôi sợ cô Hai về bắt gặp. Ai đời giữa ban ngày ban mặt, một chàng trai lại nằm đè lên một cô gái trong căn buồng tối nhờ nhờ. Vậy là tôi thít mạnh sợi dây, khóa nịt lăn ngay vào chỗ mở, giúp tôi kéo được sợi dây ra ngoài.

Thấy sợi dây nịt lằn vệt đỏ ửng trên làn da bụng trắng mịn mượt của cô Ba, sợ cô bị đau, tôi phải dùng tay xoa xoa vào vết bầm đỏ ửng ấy, trước lúc lấy đủ dũng khí bước vội ra ngoài. Và xin thưa… vạt da bụng trắng ngần mịn mượt ấy, cùng mùi hương ngất ngây của da thịt con gái, nó làm tôi chóng mặt, hoa mắt cả mấy ngày.

Tới sáng hôm sau chỉ mình cô Hai đi học nghị quyết. Tôi vừa tiếc vừa mừng. Nếu cô Ba đi, tôi biết ăn nói sao về chuyện đè lên cô trong buồng ngày hôm qua. Nghĩ cho cùng, cô Hai cũng không hề kém cạnh cô Ba một dem nào cả, lại hơn em ba tuổi, nên ăn nói khôn ngoan, ngọt lỗ tai hơn nhiều. Chị em họ y chang nhau như hai giọt nước, đi với ai cũng vậy. Thế một một, tốt hơn một hai nhiều chứ. Cứ yên tâm mà tới tới, hổng sợ ai mất lòng.

Chiếc vỏ lãi chạy máy Yanmar, ngốn đường sông vùn vụt. Tôi ngồi giữa vỏ, bụng nhăm nhắm cái máy chết tiệt hỏng phứt cho rồi. Ấy vậy mà nó khỏe hơn ngựa, càng chạy càng lồng lên, vượt sóng ve vé mắc ghét.

Tới huyện, tôi bày đặt nói với cô Hai.

“Tôi muốn chụp tấm hình gởi tặng đại tá, hay cô Hai vô chụp chung với tôi một kiểu cho vui.”

Chưa kịp nghe cô Hai ừ hừ gì, tay cán bộ huyện đội trẻ măng đã đột ngột ở đâu ló ra, chụp tay tôi kéo lên yên xe.

“Lẹ ông ơi! Nhà chủ tịch huyện hôm nay có đám giỗ.”

Mưu kế của tôi thành ra trớt quớt. Trời đánh thằng chả. Có đám giỗ đám giếc gì đâu. Anh ta lôi tuột tôi vào quán lẩu mắm với mấy thằng bạn công tác bên ngành lương thực.

Thấy mặt tôi cứ thuỗn ra như mặt thằng mất của, anh ta cười hì hì.

“Bả học trên này tới ba ngày. Ông uống xỉn xỉn, tối gặp bả mới đủ dũng khí mà xả ga. Bữa trước ông đại tá lên đây mua phân lạnh, ổng chê ông nhát gái rậm rề. Nhưng tui biết ngay chóc, ông kẹt thế tiến thoái lưỡng nan giữa hai cô chứ gì. Thôi, như vầy. Ông để cô Ba đó tui giải quyết giùm. Sau này, ông có về đầu quân Đại tá Sa pô chê, ông có tui làm trợ thủ, làm em cọc chèo, đỡ được cho ông anh nhiều lắm. An tâm đi. Nhậu vui vẻ xả láng, cha ơi!”

Hôm đó tôi vui vẻ tới quắc cần câu, tới chìm xuồng tại bến. Sáng ngày có xe huyện ủy đi họp trên tỉnh, người ta bố trí cho tôi tháp tùng luôn thể.

Đường sá gồ ghề ổ chó ổ voi, chiếc xe nhảy disco chồm chồm, tôi bị quăng quật tới bử bả. Bí thư huyện ủy nói với tôi:

“Đại tá Sa pô chê có thuyết cho ông nghe về dự án vay vốn ngân hàng, biến xã ổng thành xã du lịch miệt vườn không? Ổng lớn tuổi chớ còn hăng lắm. Chuyến này về, ngoài việc sáng tác, ông ráng viết thêm bài báo cho ngon, đăng báo tỉnh, dám ổng nhận ông làm trợ thủ trong nhà lắm à nghen.”

Chiếc jeep chồm lên cây cầu gỗ, nảy một cú ra trò. Trán tôi đập vào thanh sắt đỡ mui vải bạt, nổi u một cục như hột gà.

Bí thư bật cười thành tiếng:

“Kỉ niệm nhớ đời hả ông. Hèn chi người ta nói, cố đấm ăn xôi cũng phải. Chịu làm lính Đại tá Sa pô chê đâu có dễ…”

H.T.T

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)