. NGUYỄN XUÂN THỦY
Cuối cùng tôi cũng có mặt ở Mo Rai vào một ngày của mùa mưa, khi những đám mây xám màu chì nặng hơi nước lướt thướt bay qua mái nhà rông làng Le như kéo theo một vệt kí ức ảm đạm về những ngày tháng cũ. Nhưng rồi, bất chợt, một khoảng sáng lộ ra ở cuối chân trời như ô cửa sổ mở ra một thế giới khác.
Kí ức trong tôi về Mo Rai xưa cũ ngoài việc xã này rộng bằng cả tỉnh Thái Bình trước đây thì còn gắn với một câu chuyện về cô bé người Rơ Măm có tên Y Đức cùng hình ảnh những chiến sĩ biên phòng. Theo phong tục của người Rơ Măm, khi người mẹ đang nuôi con bú chẳng may qua đời thì đứa trẻ phải chôn theo mẹ. Phong tục ấy diễn ra từ bao giờ không ai biết, chỉ biết là nó vẫn còn hiện tồn trong đời sống của đồng bào những năm chín mươi thế kỉ trước. Thế rồi khi người phụ nữ ấy nằm xuống, bộ đội biên phòng đã có mặt, kịp thời can thiệp để giữ lại đứa trẻ còn đỏ hỏn. Sau đó cô bé Y Đức được đưa xuống chăm sóc tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Kon Tum trước đây. Sự việc ấy đã mở sang một trang mới, chấm dứt một hủ tục của người Rơ Măm trên hành trình trở về với ánh sáng.

Y Đẻ, nữ công nhân người Rơ Măm tại rẫy cao su của Đội sản xuất số 11. Ảnh: Thiện Nguyễn
Mo Rai giờ đã khác xưa. Bây giờ cây cao su đã phủ kín núi đồi. Cao su quốc phòng, cao su của những đơn vị kinh tế nhà nước, tư nhân, cao su của những hộ dân đồng bào Jarai, Rơ Măm… Màu xanh ấy đã hoà vào màu xanh Tây Nguyên viết nên những huyền thoại mới. Những ai từng gắn bó với đất này đều có kí ức về cao su, nhưng với người lính biên phòng, và nhất là những người lính Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 thì cây cao su chẳng khác nào linh hồn của vùng đất Tây Nguyên. Và hành trình đưa cây cao su về Mo Rai cũng thấm đẫm những giọt mồ hôi cùng những vết hằn trong kí ức.
Những năm đầu thành lập Đoàn Kinh tế quốc phòng 78, Mo Rai trong trí nhớ của Thiếu tá QNCN Hoàng Quang Trung, Phó đội trưởng Đội 3, gắn liền với những mùa mưa. Các đội sản xuất ở xa Đoàn với khoảng cách trên dưới mười cây số. Mỗi tháng 2 lần Trung và anh em từ đội về Đoàn lấy gạo, quãng đường 7km đủ đi bộ, lội suối, qua cầu treo. Một nhóm 10 đến 15 người đi, mỗi người vác một bao gạo 25kg. Thức ăn ngày ấy là cá khô, loại cá nhỏ li nhi thì gọi là cá đinh 5, to hơn là đinh 10. Những mùa mưa ấy, chàng trai quê Vĩnh Phúc buồn nẫu ruột, không biết làm gì ngoài ngồi viết thư về nhà, có tuần viết đến 15 lá, có đêm viết đến hai lá, viết rồi để đấy bởi nước sông chia cắt có ra ngoài gửi được đâu, thư nhà gửi vào cũng chẳng bay qua sông mà đến được Mo Rai. Dòng sông Sa Thầy uốn lượn gần như ôm trọn lấy Mo Rai, sự lãng mạn trữ tình vào mùa khô bỗng biến thành sự cô lập vùng đất này với bên ngoài trong những mùa mưa Tây Nguyên. Mà mùa mưa thì kéo dài những sáu tháng. Vậy nên mọi dự trữ đều phải tính theo mùa, từ gạo ăn, thuốc chữa bệnh, nhu yếu phẩm đến phân bón, vật tư để trồng và chăm sóc cây cao su. Nên người ta gọi Mo Rai là ốc đảo. Mỗi cánh thư từ Mo Rai cũng phải nhờ những người chạy xe thồ vượt quãng đường 50km đem lên Sa Thầy bỏ vào hòm thư bưu điện hộ. Bởi thế, những lá thư từ Tây Nguyên thường bám màu bụi đỏ...
Từng cung đường đất đỏ ấy Trung thuộc hơn những người khác, thấm hơn những công nhân cao su khác. Ấy là khi anh chuyển sang Ban Cung ứng của Đoàn 78, năm 2009 - 2010. Từ Đoàn 78 ra Sa Thầy năm chục cây số, đi hết 5, 6 ngày trời, đấy là thuận lợi. Có lần đi lấy hàng, đường lầy xe không chạy được, nước thì lên cao, Trung và chú Quý lái xe phải ở trong rừng suốt một tháng trời chờ nước rút. Trên xe chỉ chở mỗi hai thứ hàng là mì tôm và bia, thế là cả tháng trời, hai người lính một già một trẻ, chỉ ăn mì tôm, buồn quá thì làm chai bia giải sầu, cũng chẳng hẳn là giải sầu bởi làm gì có nước uống ngoài dòng nước lũ đục ngầu cuộn xoáy ngày qua ngày kia, khát quá đành uống bia cầm chừng thay nước. Trung thì tuổi đôi mươi, chú Quý lái xe trên bốn mươi rồi. Màu xám của Mo Rai cứ hằn lớp trong ánh mắt của họ qua những mùa mưa như thế. Chú Quý là lái xe kiêm luôn Trưởng ban cung ứng. Ban còn 6 cô gái nữa chuyên đi cấp hàng cho các đội sản xuất, gạo thóc, mắm muối, xà phòng… thôi thì đủ cả. Một mình là con trai nên xe gạo về một mình Trung bốc 15 tấn, bốc cả ngày cả đêm mới xong. Năm tháng nhọc nhằn và mến thương cứ chảy trôi như đời lính nơi góc trời Tây Nguyên rừng thiêng nước độc.
Bây giờ Trung ngồi trước tôi tại Đội sản xuất số 3, nghe khơi gợi để nhớ về miền kí ức hai mươi năm trước. Xung quanh trụ sở của đội là những ngôi nhà công nhân thời kì đầu, những ngôi nhà đóng cửa vào buổi sáng bởi công nhân đang đi thu mủ, như suốt hai mươi năm nay họ vẫn làm như thế. Những cây cao su thời kì đầu cũng đã hai mươi tuổi.

Thu hoạch mủ cao su. Ảnh: Thiện Nguyễn
Đã có nhiều sự đổi thay trên đất này kể từ khi cây cao su đứng chân ở Mo Rai nhưng với những vị khách lạ, để hình dung về một Mo Rai hai mươi năm trước là điều không dễ. Lần theo câu chuyện về cô bé Y Đức thuộc cộng đồng người Rơ Măm năm xưa tôi đã được chứng kiến sự hồi sinh của một tộc người. Trong kí ức của già làng A Ren làng Le, cái khó cái nghèo cái lạc hậu như song trùng với những người Rơ Măm, len vào mỗi bữa ăn, giấc ngủ, chập chờn như ánh lửa. Những năm chiến tranh giặc giã, để tránh bom đạn và sự truy lùng của giặc, đồng bào dân tộc Tây Nguyên trong đó có đồng bào Rơ Măm chạy mãi vào rừng sâu, sự khốn khó, đói nghèo cứ dìm họ xuống trong những hang đá tối tăm của rừng già. Khung cửi quên dệt, lời ca quên hát. Tục hôn nhân cận huyết khiến nòi giống cứ èo uột dần. Rồi dịch bệnh ập đến, rất nhiều nhóm người ở dải đất Mo Rai đã không còn, may thay, người Rơ Măm nhờ một phương thuốc bí truyền còn giữ được đã qua khỏi đại nạn. Chiến tranh kết thúc nhưng đói nghèo thì vẫn kéo vắt sang thời bình. Người Rơ Măm như quên cả lối về. Những hạt cây trồng để lấy sợi dệt vải mà lâu quá chẳng gieo cũng đã hỏng hết rồi, con người rơi rụng cũng thưa thớt lắm rồi, hơn trăm nhân mạng vật vờ giữa núi rừng Tây Nguyên như chực chờ một kết thúc sầu bi cho một tộc người. Đúng lúc ấy thì bộ đội đến chìa bàn tay ra với họ, bộ đội động viên họ về quy tụ tại làng Le bây giờ, dựng nhà, làm rẫy.
Bộ đội đưa cây cao su về trồng trên những thửa đất đỏ bazan bạt ngàn, bộ đội động viên bà con trồng cao su trên rẫy của gia đình, nhà ai neo người thì bộ đội tổ chức trồng hộ. Sau này rất nhiều nhà có vườn cao su riêng cũng là từ chương trình ấy. Già làng A Ren cũng có 2ha cao su. Còn nhà A Thái thì nhiều lắm, cao su, sầu riêng, cà phê, điều và nhiều giống cây trồng khác đã khiến anh trở thành người giàu nhất cộng đồng Rơ Măm. Người Rơ Măm không muốn làm rẫy của nhà thì có thể vào làm công nhân của Đoàn 78. Nếu ở làng không tiện thì có thể vào khu tập thể của đơn vị ở. Cuộc sống đã ươm mầm sự hồi sinh như thế.
*
* *
Hà Thị Vân, cô giáo phụ trách Trường mầm non 25/3 với 11 điểm trường cũng có một kí ức Mo Rai. Sự có mặt của Vân tại vùng đất Sa Thầy 24 năm qua như một giấc mơ. Đó là giấc mơ có phần bồng bột của tuổi trẻ. Giấc mơ ấy bắt đầu từ một thông báo tuyển công nhân của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 78 phát trên Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nam, năm 2001. Vân khi ấy vừa có kết quả thi đỗ Cao đẳng Sư phạm tỉnh nhưng đã quyết định rẽ ngang tuyển vào làm công nhân quốc phòng, thử sức ở phương trời xa. Tuy nhiên, khi cùng 29 “tân binh” vào đến đất Mo Rai, trước mắt cô gái quê Lý Nhân, đơn vị tối om vì chưa có điện, mọi thứ tĩnh mịch đến ghê người, tiếng côn trùng còn chả có, chẳng hề giống như xã Vĩnh Trụ chòm xóm xôm tụ của cô. Ân hận trước quyết định vội vã của mình, vừa chuyển hành lí xuống xe cô gái 19 tuổi với vóc dáng nhỏ bé vừa rấm rứt khóc.
Thế rồi sự gắn bó chia sẻ giữa những công nhân xa nhà đến từ mọi vùng quê khác nhau, sự quan tâm của đơn vị đã khiến Vân dần tìm thấy sự ấm áp. Tuy thể lực yếu hơn các đồng nghiệp nhưng cô luôn nhận được sự giúp đỡ của chỉ huy đội và anh chị em. Ước nguyện trở thành cô giáo mà cô gác lại đã được tái sinh trên mảnh đất bazan nắng gió: đơn vị cử Vân đi học trung cấp mầm non để về làm cô nuôi dạy trẻ, chăm sóc con em công nhân của đội. Quá trình cống hiến của Vân đã được ghi nhận, cô được cử đi học trung cấp lí luận chính trị rồi đi học Đại học Tây Nguyên…
Hiện tại cô giáo Hà Thị Vân xưa đã là Thiếu tá QNCN Hà Thị Vân, Hiệu trưởng Trường mầm non 25/3 kiêm công việc tuyên huấn của Phòng Chính trị Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 78. Ngôi trường mà cô làm hiệu trưởng được đặt tên theo ngày truyền thống của đơn vị. Trường mầm non 25/3 có 11 điểm trường gắn với 11 đội sản xuất nằm rải rác tại các thôn bản cách nhau trên dưới 10 cây số. Những điểm trường mầm non nằm sát vùng biên giữa bạt ngàn cao su này đã là một phần tuổi trẻ của cô gái Hà Nam mang nhiều khát vọng.

Vợ chồng anh Lương Đỗ Sinh và chị Vi Thị Thuyết đã có hơn hai mươi năm gắn bó với cây cao su Đoàn Kinh tế quốc phòng 78. Ảnh: Thiện Nguyễn
Vân bảo điều lớn nhất mà đơn vị của cô làm được đó là thay đổi cách nghĩ cách làm, thay đổi những thói quen không tốt của đồng bào bản địa nơi đơn vị đứng chân. Người Rơ Măm ở Mo Rai ngày cô vào đàn ông vẫn đóng khố thay vì mặc quần, sống bằng việc săn bắn, trồng tỉa, thịt thú rừng được muối trong các ống lồ ô có mùi rất khó chịu, nhưng để hòa nhập bộ đội vẫn phải “ba cùng” với đồng bào, để bàn kế sách làm ăn thì phải uống vơi vài vò rượu, ăn cạn vài ống thịt. Vân nhớ mãi một lần đại diện đơn vị xuống làng Le viếng bố của một công nhân trong đội sản xuất bị mất. Phong tục của đồng bào ở đây, người chết nằm trong cỗ quan tài khoét bằng cây rừng, mỗi người đến viếng sẽ gắp một miếng thịt nhét vào mồm người chết sau đó bón một li rượu. Đương nhiên là cô gái bé nhỏ mặc quân phục cũng phải làm đúng như vậy. Bữa ấy về nhà Vân đã bỏ cơm và ám ảnh đến mấy tháng sau. Bây giờ, khi hủ tục này không còn, đồng bào đã tiến bộ và văn minh hơn, vệ sinh hơn, chỉ giữ lại những nét văn hóa đặc trưng của người Rơ Măm, cũng là lúc người nữ quân nhân gắn bó với buôn làng, với Mo Rai bước sang tuổi 43. Chồng của Vân làm Đội phó Đội sản xuất số 11. Căn nhà của hai vợ chồng nằm trên con đường từ trụ sở đơn vị xuống các đội, giữa um tùm cây cối.
Những công nhân quốc phòng như Hà Thị Vân đã đến và ở lại với đất này, đồng cam cộng khổ cùng đơn vị, chung tay giúp đồng bào Rơ Măm, đồng bào Jarai ổn định cuộc sống, kiến tạo tương lai. Đồng bào Rơ Măm làng Le từ chỗ chỉ còn trên dưới một trăm người, nay với sự chung tay vào cuộc của nhà nước và các đơn vị trên địa bàn, cộng đồng người Rơ Măm đã phát triển lên 187 hộ với gần 566 nhân khẩu. Trong đó nhiều người đã trở thành công nhân của Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 78, có việc làm và được tạo điều kiện về chỗ ở. Khi cái ăn cái mặc đã tạm ổn, bộ đội lại giảng giải cho họ biết vì sao mà nòi giống người Rơ Măm cứ thui chột dần, là do anh lấy em, chú lấy cháu, việc những người cùng huyết thống lấy nhau khiến thế hệ sau sinh ra trở nên còi cọc, trí tuệ kém phát triển. Theo khoa học như thế gọi là hôn nhân cận huyết. Từng bước thay đổi, từng bước phục hồi trên mọi mặt đời sống. Một cộng đồng dần được tái sinh. Trẻ em được đến trường. Bây giờ, con em công nhân 78 và đồng bào đã có trường mầm non, trường cấp một, cấp hai… trong đó có những điểm trường ríu rít tiếng trẻ thơ do cô giáo Hà Thị Vân phụ trách.
Những cây cao su được Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 trồng từ quãng năm 2000 ấy giờ đã hơn hai mươi năm tuổi, đồng nghĩa với việc chúng đã cho mủ gần hai mươi năm trên đất Mo Rai. Tôi đi giữa những bạt ngàn cao su trong một sớm mai, những ý nghĩ về Mo Rai hôm qua và hôm nay ẩn hiện như bóng những người thợ thoăn thoắt di chuyển từ gốc cao su này sang gốc cao su khác. Tại một rẫy cao su của Đội sản xuất số 11, tôi có dịp tiếp xúc với chị Y Đẻ, một người con của làng Le. Y Đẻ vừa thoăn thoắt cạo mủ vừa trò chuyện, mỗi khi tôi chụp ảnh là cô lại khúc khích khoe nụ cười duyên dáng.
Theo chân Y Đẻ tôi về thăm khu tập thể dành cho công nhân thuộc Đội sản xuất số 11. Sau buổi làm việc, những phụ nữ Rơ Măm quây quần trước hiên nhà nghỉ ngơi trò chuyện. Đây là khoảng thời gian trống của họ trước khi bắt tay vào chuẩn bị bữa cơm trưa cho cả gia đình. Nhà của Ban Chỉ huy Đội cũng nằm luôn trong khuôn viên này. Đại úy QNCN Đậu Quang Hưng, Đội trưởng Đội sản xuất số 11 cho biết, tỉ lệ công nhân người Rơ Măm của đội khá cao so với các đội khác trong đơn vị với 13 trên tổng số 77 công nhân, một phần là bởi vị trí làm việc của Đội 11 gần với làng Le của người Rơ Măm hơn, vì thế họ có thể ở tập thể nhưng về làng cũng rất tiện.
Ngoài đồng bào Jarai, đồng bào Rơ Măm, gắn bó với cây cao su Mo Rai còn có rất nhiều đồng bào các dân tộc khác từ các vùng miền khác nhau của đất nước hội tụ về đây theo tiếng gọi của cao su, theo những đợt tuyển công nhân của Đoàn Kinh tế Quốc phòng 78. Tôi đã xuống một đội sản xuất vào buổi tối, ra các lô cao su để chứng kiến họ bầu bạn với những gốc cao su trong màn đêm tĩnh lặng.
Đêm ở các lô cao su thâm trầm như cất giấu những bí mật. Hàng nghìn vết cạo, hàng nghìn dòng nhựa sống tí tách nhỏ giọt như khẳng định một sức sống tiềm tàng. “Cao su cho chu kì khai thác trung bình là 24 năm, bắt đầu sang năm thứ 7, khi đạt chu vi 50cm ở vị trí 1,3m từ gốc lên cây mới đủ tiêu chuẩn để khai thác mủ. Sau khi mở đường cạo dưới lần đầu ở mỗi bên thân, sau 6 năm, khi chuyển cạo tái sinh cây sẽ được mở thêm đường cạo trên. Người thợ bám theo chu kì ấy mà khai thác cho đúng kĩ thuật”. Anh Lương Đỗ Sinh, Đội sản xuất số 3 dừng tay cạo giải thích cho tôi. Như lô cao su anh đang cạo là đã được 3 lần 6 năm ấy, bây giờ anh đã phải dùng đến con dao cạo cán dài hơn một mét. Ánh đèn pin gắn trên trán anh như hàng nghìn ánh đèn pin trên trán những người thợ cạo mủ khác dọc dài biên giới như những ngôi sao nhỏ đêm đêm thắp sáng một vùng biên giới.
Anh Sinh sinh năm 1979, dân tộc Mường, đã gắn bó với lô cao su 22 của Đội sản xuất số 3 từ khi mới trồng. Năm 2000, anh từ Như Xuân, Thanh Hoá vào làm công nhân và gắn bó với vùng giáp biên thuộc xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, Kon Tum. Chị Vi Thị Thuyết, vợ anh, là người cùng quê, chị ở Thường Xuân, chung chuyến xe vào Tây Nguyên làm công nhân cạo mủ. Cùng cảnh xa quê, cùng chịu chung những khó khăn gian khổ nơi góc trời biên giới, chàng trai dân tộc Mường đã bén duyên cùng cô gái dân tộc Thái. Cỗ cưới ra mắt đơn vị chỉ là 3 mâm cơm với chi phí 500 nghìn đồng dưới sự chứng kiến của Hội phụ nữ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên và chỉ huy đội. Do điều kiện xa xôi, chung sống với nhau mấy năm anh chị mới về quê ra mắt hai bên gia đình, cho hai bên nội ngoại gặp gỡ, làm quen với nhau. Sau đó vợ chồng lại tiếp tục vào Tây Nguyên với cao su.
Anh Sinh vẫn nhớ cảm giác thấp thỏm của lứa công nhân đầu đời khi những cây cao su mình chăm sóc sắp đến ngày cho mủ. Anh chính là 1 trong 10 công nhân đầu tiên của đơn vị được đi học cạo mủ. Học rồi mà vẫn run run trước đường cạo đầu tay, băn khoăn vì không biết liệu mình cạo có đúng kĩ thuật không, liệu mình cạo cây có ra mủ không. Thế rồi dòng mủ đầu tiên ấy đã chảy mãi, nối dài đời công nhân của chàng trai xứ Thanh khi ấy mới 26 tuổi đến hôm nay, khi anh đã là người đàn ông trung niên ở tuổi 47.
Ngày các công nhân tứ xứ đầu quân về Mo Rai, đơn vị tạo điều kiện cắt đất cho làm nhà, xóm nhỏ đông vui, đùm bọc khiến những công nhân cảm thấy ấm lòng, no đói có nhau. Anh Sinh nhớ mãi khi vợ sinh đứa con đầu, một đêm mưa bão, giông lốc cuốn bay những mái nhà tạm của khu dân cư, vội vã từ lô cao su chạy về gặp nhà ai sập đổ anh đều lao vào trợ giúp chèo chống, che chắn đồ đạc giúp, cuối cùng, khi về đến nhà mình anh thấy vợ đang ôm con ngồi khóc, một nửa mái nhà sau bão đã cuốn đi mất từ bao giờ. Điều đó khiến anh vừa thương vợ, vừa trách mình có chút vô tâm khi lẽ ra phải nghĩ đến vợ con trước hết. Đấy là năm 2005, đứa con đầu của anh chị là cháu Lương Thị Yến Vi bây giờ cũng đã thành sinh viên đại học. Vợ chồng anh Sinh gắn bó với lô cao su số 22 này từ những ngày mỗi cái cây như một đứa trẻ bấy bớt chả khác gì những đứa con của họ, nay thì đàn trẻ ấy cũng đã trưởng thành, đang cho mủ sung sức. Anh chị yêu mến và quen thuộc từng gốc cây, đến nỗi về hưu rồi vẫn chẳng muốn rời.
Chị Thuyết đã nghỉ hưu thật. Chị hơn anh Sinh 3 tuổi nên được hưởng chế độ hưu từ năm 2023 nhưng vẫn nhận khoán diện tích cao su của công ty để tiếp tục công việc chăm sóc, khai thác mủ, cùng chồng lao động dưới những tán rừng biên giới. “Thôi thì mình là thợ cao su, làm cao su cả đời, biết mỗi việc cạo mủ, giờ nghỉ hưu bảo làm gì khác cũng khó, nên lại nhận khoán cao su tiếp tục làm”, chị bộc bạch. Nhờ khai thác đúng kĩ thuật, lô cao su của anh Sinh, chị Thuyết cũng như của nhiều công nhân khác dự kiến tuổi thọ khai thác mủ sẽ kéo dài thêm so với thông thường đến 4 - 5 năm. Đó là điều khiến anh chị vui nhất vì những cống hiến cả đời của mình cũng mang lại một điều gì đó cụ thể có thể nhìn thấy được, như một niềm tự hào để lại cho đơn vị.
*
* *
Tây Nguyên bây giờ vẫn còn những mùa mưa như một đặc trưng của xứ này, chẳng khác gì hai mươi năm trước. Thế nhưng giao thông liên lạc đã phát triển, hiện đại và tiện dụng hơn, không còn cảnh phải “tích cốc phòng cơ” như xưa, những đặc điểm tự nhiên ấy đã đi vào đường hướng phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng của Đoàn Kinh tế quốc phòng 78. Dấu vết cho những năm tháng bán tự cung tự cấp ấy, giờ đây đơn vị vẫn còn Đội dịch vụ, tất nhiên cơ chế vận hành đã khác, sản phẩm làm ra cũng đạt những tiêu chuẩn hàng đầu về chất lượng và cập nhật công nghệ. Tôi đứng nhìn những chú lợn được nuôi theo công thức, những tháng cuối xuất chuồng cho ăn bỗng rượu, con nào con nấy say men nồng mềm nằm căng như những quả sim rừng, lim dim như những tửu đồ mà hình dung về những năm tháng khó khăn trước đây. Để chúng tôi mục sở thị tốt nhất hiệu quả từ mô hình này ở thì hiện tại, sau khi tham quan Đội dịch vụ, Đại tá Nguyễn Văn Mười, Bí thư Đảng ủy Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 mời chúng tôi dự một cuộc gặp dân cư diễn ra vào sáng chủ nhật.
Đã thành thông lệ, cứ mỗi tháng Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 lại thịt một con lợn tổ chức ngày hội đại đoàn kết. Cư dân được tập trung ăn uống, những ai có ngày sinh nhật trong tháng thì được tặng quà chúc mừng, những hộ kết nghĩa mới hay nhà có việc hiếu hỉ cũng được động viên chia sẻ. Khu nhà của Đội sản xuất số 3 buổi sáng hôm ấy đã đầy tràn những tiếng nói tiếng cười, từng cặp vợ chồng công nhân đi xe máy đến dự như đi đám cưới. Ai nấy tưng bừng phấn khởi. Thì ra có một sự gắn kết mềm giữa công tác hậu cần và công tác đảng, công tác chính trị, những người lính Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 đã kết hợp linh hoạt và sinh động.
Tại đây tôi đã gặp cặp vợ chồng Rơ Măm là Y Hoan và A Đỏi. Y Hoan sinh năm 1987, còn Y Đỏi sinh năm 1992. Họ đều là những công dân mới của làng Le, lớp người Rơ Măm được thụ hưởng những chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của chính quyền địa phương và cụ thể là sự đồng hành của những người lính Đoàn Kinh tế quốc phòng 78. Hai vợ chồng họ cưới nhau năm 2009 và cùng vào làm công nhân tại Đội sản xuất số 10 năm 2011. Được đào tạo cạo mủ cao su, ban đầu Y Hoan và Y Đỏi còn cứng tay làm chưa quen, rồi thì từng đường cạo cũng mượt dần. Bây giờ, mỗi đêm vợ chồng họ làm công việc cạo mủ tại những lô cao su được phân cũng thu về 2 tạ mủ. Thấm thoắt cũng đã mười bốn năm, cậu con trai đầu lòng khi bố mẹ vào làm việc tại Đội 11 mới 5 tháng tuổi, giờ đã gần mười lăm tuổi.

Cùng vào đội sản xuất với A Hoan và Y Đỏi năm ấy còn một cặp vợ chồng nữa, tổng số là 4 người, đến nay sau hơn mười năm, số người Rơ Măm vào Đội sản xuất số 10 đã là 20 người. Bây giờ vợ chồng A Hoan - Y Đỏi đã sinh thêm hai cậu con trai nữa. Với mức thu nhập bình quân khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng, cuộc sống của họ tạm ổn. Vừa rồi gia đình A Hoan - Y Đỏi được Công đoàn Đoàn Kinh tế quốc phòng 78 quan tâm xây nhà đại đoàn kết với phần hỗ trợ 80 triệu đồng, cùng với tiền tiết kiệm của gia đình họ đã gây dựng được một tổ ấm khá khang trang. A Hoan nói rằng, trước đây ở nhà cũ, mỗi khi đi làm trong lô cao su, thấy trời mưa gió là phải chạy về để xem nhà có sao không, các con có an toàn không, còn bây giờ có nhà mới anh chị đã yên tâm làm việc.
Cuộc trò chuyện với vợ chồng A Hoan - Y Đỏi và các công nhân người Rơ Măm tại Đội sản xuất số 11 khiến tôi nhớ lại những gì diễn ra buổi chiều hôm trước, khi Đại tá Nguyễn Văn Mười dẫn chúng tôi đến một nơi được coi là linh hồn của cộng đồng Rơ Măm, đó là nhà rông làng Le. Chúng tôi ngồi cùng Trưởng thôn A Thái, già làng A Ren và Y Vác trong ngôi nhà rông truyền thống của người Rơ Măm. A Thái và Y Vác được coi như những điểm sáng của cộng đồng Rơ Măm. A Thái đã tốt nghiệp đại học luật, là Trưởng thôn, Bí thư chi bộ, anh cũng là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum. Còn Y Vác là cô gái đã tốt nghiệp cao đẳng nông, lâm nghiệp, hiện là công nhân quốc phòng tại Đoàn 78.
A Thái bảo, sau những năm chiến tranh, những biến động lớn khiến người Rơ Măm đối diện với sự lụi tàn, may mắn thay làng vẫn giữ được mấy chục bộ chiêng. Thời gian trước, nhiều người lạ mặt đến lân la hỏi mua, nhưng đã được hướng dẫn bảo tồn văn hóa dân tộc mình, người Rơ Măm không bán, họ đã giữ lại. Trang phục cũng được nhà nước hỗ trợ phục dựng, sản xuất theo cả hình thức công nghiệp và truyền thống. Với cách sản xuất hiện đại nhưng vẫn giữ chất liệu, hoa văn, cách thức của người Rơ Măm thì mỗi bộ trang phục chỉ mấy trăm nghìn, ai cũng có thể mua được cho mình một bộ, do chính người làng may. Còn để bảo tồn nghề truyền thống, những nghệ nhân Rơ Măm vẫn giữ cách dệt và thêu hoa văn thủ công, tất nhiên phương pháp này đòi hỏi sự kì công, tốn kém cũng như giá thành rất cao, mỗi bộ trang phục làm ra có giá năm, sáu triệu đồng.
Một số phong tục của người Rơ Măm cũng được bảo tồn. Tết lúa mới, lễ cúng mở kho thóc được tổ chức lại theo trí nhớ của người già. Tất cả những nhà làm ra hạt lúa sẽ tham gia. Sau này có cả người trồng lúa nước theo sự hướng dẫn của bộ đội nhưng tục này chỉ dành cho người trồng lúa nương theo tập tục của người Rơ Măm. Sau khi giết trâu bò, dê làm lễ cúng các nhà mới được mở kho thóc. Đại tá Nguyễn Văn Mười lí giải, những tập tục có thể lạc hậu và mâu thuẫn, đối nghịch với cuộc sống hiện đại lại là bản sắc, nếu triệt tiêu đi thì chẳng khác gì đồng hóa họ, nhưng nhà nước và ngành văn hóa đã có những định hướng để bảo tồn hợp lí, làm sao để các yếu tố truyền thống hài hòa với cuộc sống thời nay. Như để minh họa cho câu chuyện, A Thái bảo, như tục rào làng, trước đây làng có việc là rào mấy ngày, ngày nay tục ấy vẫn được giữ như một biểu tượng, chỉ rào vài chục phút thôi. Hay như tục người mẹ đang thời kì cho con bú chẳng may qua đời thì đứa con sẽ được chôn theo mẹ sau này đã được hoán đổi bằng việc làm hình nhân bằng xi măng để chôn, còn đứa bé được giữ lại.
Câu chuyện về Y Đức suýt bị chôn theo mẹ theo tập tục của người Rơ Măm làng Le đã được bộ đội biên phòng cứu kịp thời để nuôi dạy chỉ là một điển hình khi người ta nhắc đến mảnh đất Mo Rai. Còn có những Y Đức khác cũng đã được cứu khỏi hủ tục này. A Lương, cậu dân quân của xã Mo Rai là một trường hợp như thế ở thời kì sau đã được A Thái gọi đến nhà rông để chúng tôi hỏi chuyện. Tôi không muốn gợi lại trong anh kỉ niệm buồn này. Mẹ mất khi A Lương còn đang bú, cậu bé ấy đã được giữ lại để bây giờ là chàng trai cao trên một mét bảy mặc trang phục của lực lượng dân quân đang ngồi tiếp chuyện tôi trong nhà rông của làng Le.
Khi kết thúc câu chuyện với A Lương, chúng tôi ngỏ ý muốn đến thăm nhà nghệ nhân Y Điết, một người còn giữ nghề dệt vải truyền thống. Thật tình cờ A Lương cho biết, nghệ nhân Y Điết chính là bà ngoại của anh. Lương đã chở chúng tôi đến nhà bà ngoại để bà giới thiệu với những vị khách phương xa về phương thức làm ra một bộ trang phục truyền thống của người Rơ Măm. Bà Y Điết lôi ra những khung dệt và những khuôn vải dệt từ sợi lanh giới thiệu với chúng tôi một số hoa văn đặc trưng trên trang phục của người Rơ Măm. Lấy ra một bộ trang phục đang thêu dở, bà tiếp tục làm, vừa thêu vừa giới thiệu với chúng tôi. Trong lúc làm việc, trên môi bà mấp máy những lời ca, những bài ca đã lâu rồi không được hát, nay lại tìm về. Khi những câu hát cất lên bà như biến thành một người khác, thân hình đong đưa mê đắm. Những lời ca của bà Y Điết cất lên như vọng về từ rừng xanh, như lan trên nương rẫy, như gửi vào trời đêm Tây Nguyên những nỗi niềm, những khát vọng và cả niềm tin của một tộc người đã từng đứng bên bờ của sự lãng quên…
Câu chuyện khép lại khi trời đã tối, A Lương dẫn chúng tôi trở lại nhà rông. Bên khoảng sân cỏ, đám trẻ con người Rơ Măm đang đá bóng, thấp thoáng trong những căn nhà ánh đèn điện đã thắp sáng, không còn cảnh đốt nhựa xà nu và sống trong hang đá, thôn làng quấn túm sum vầy. Bên này là làng Le của người Rơ Măm, bên kia là làng Xộp của người Jarai, những nét chung riêng cùng quây quần, hội tụ. Tôi ngẩng lên bắt gặp một đám mây phớt hồng nhẹ bay trên mái nhà rông như kể một câu chuyện mới về Mo Rai. Dưới trời đêm Tây Nguyên tôi cảm nhận rõ, đã có một Mo Rai khác trên đất này.
N.X.T
VNQD