Lưng trời mây trắng

Thứ Sáu, 16/01/2026 16:50

. NGUYỄN NGỌC LỢI
 

Rừng tiếp rừng, mịt mù. Rừng kéo dài, trập trùng. Rừng già dây leo chằng chịt, rậm rì. Ngày này sang ngày khác vẫn chưa ra khỏi rừng già. Dốc cao ngược, oằn lưng ba lô, tay chống gối tay níu cành, níu rễ cây, đạp lên vai nhau nhấc lên từng bước. Mồ hôi đầm lưng, thở như kéo bễ. Lên đã mệt, xuống càng mệt. Ba lô đè sau lưng, AK trước ngực níu xuống người như muốn ngã sấp mặt, phải níu cành giữ lại, phải ngả người ra sau, trầy trật thận trọng từng bước. Xuống hết dốc lại lên dốc. Lại gò lưng, lại chống gối. Trời đang chang chang hầm hập bỗng mây đen ùn ùn kéo đến, sấm chớp ùng ùng. Những tiếng nổ vang trời, sét đánh lộng óc, mưa sầm sập trút xuống. Trùm kín áo mưa lầm lũi bước trong tiếng nước dội ào ào dưới thung sâu, bước trong làn nước quất rát mặt. Chân run dò từng bước trên dốc cao trơn nhẫy. Rồi đột ngột mưa tạnh. Núi rừng bốc hơi ngùn ngụt. Mắm môi lê bước, dò dẫm mà đi…

Cuối ngày, bãi nghỉ, trạm khách ồn ào rậm rịch quân vào quân ra. Ngả ba lô ngồi thở như kéo bễ. Í ới râm ran tiếng gọi tiếng hỏi. Đồng hương, người làng gặp nhau, trao nhau điếu thuốc, trao nhau mẩu lương khô, hỏi chuyện quê nhà, kể chuyện đánh nhau, nghe tin đứa chết đứa sống.

Sáng hôm sau, mỗi đứa một bát cơm, đi tiếp.

Trên cao, đỉnh trời ì ầm như có cơn giông đè nặng ngột ngạt. Thế rồi bom rơi chật trời, bom rơi vun vút. Rất nhiều chấm đen vun vút cắm xuống. Oành oành… oành oành oành... Tản ra… tản ra… nằm xuống… Những tiếng hét, tiếng gọi thất thanh. Mặt đất chao đảo, những nấm khói bùng cuộn lên bốc cao theo tiếng nổ. Và trong ánh lửa bom đỏ khé là đá bay đất bay, xương thịt nháo nhào.

Như mặt ao bèo bị ném đá vỡ toang, tung tóe rồi cũng dần tụ lại từng đám nhỏ. Người sống sót ngồi dậy ngơ ngác. Máu lẫn đất cát nhòe trên sỏi đá, loang từng vũng. Từ mặt đất loang lổ tanh bành đỏ lòm xương thịt ấy loáng thoáng những làn khói mỏng. Khói bốc lên từ hố bom, gốc cây toe toét xơ tướp. Những làn khói mỏng lúc lênh loang lúc dồn tụ. Những luồng khói mỏng tang ngơ ngác bay lên, bay lên…

“Vinh ơi… Hùng ơi… Giang ơi... Lâm ơi… Tiến ơi… Bình ơi... Đa ơi… Mày ở đâu? Mi ở mô?”

 

Minh hoạ: Trương Đình Dung

Ông bưu chính dừng chiếc xe đạp với túi vải bạt đựng thư báo, công văn trước sân trụ sở ủy ban xã.

“Có công văn gì không anh?”

Một người đàn ông với vẻ mặt khắc khổ từ trong bước ra hỏi.

“Báo cáo chủ tịch, có. Nhưng hôm nay có cái này...”

Tay trái run run, ông bưu chính mở túi lấy ra mấy cái bì thư. Chọn trong đó một bì thư nhỏ, giọng run run.

“Có lẽ thằng Tiến bị rồi. Lâu ni nghe đồn, hóa ra đúng.”

“Đưa tôi.”

Chủ tịch xã đón tệp bì thư, lấy riêng ra cái phong bì đề tên người nhận. Ông quay vào phòng xé bì, nhíu trán: “Vô cùng thương tiếc báo tin. Đồng chí…” Trường hợp ni, gia đình hoàn cảnh đặc biệt. Ông bà già yếu, chỉ có duy nhất người con trai này. Chưa thể cho gia đình biết được. Miệng lẩm bẩm, chủ tịch xã bước ngay ra nói với ông bưu chính nãy giờ biết ý, còn loanh quanh ngoài sân: “Cậu ta hi sinh rồi, giữ kín đã nhé”. Ông bưu chính gật đầu rồi lên xe đạp đi.

Lúc này, làng đang vào vụ gặt. Sân kho hợp tác rơm ùn từng đống. Giữa sân, mấy bà đang cào lúa, nhặt rơm, vừa cào vừa rỉ tai nhau, tội ông bà quá, tội quá. Con tui mấy tháng ni cũng không có thư. Thằng nhà tui cũng bặt tin mấy tháng rồi. Không khí nặng nề bao trùm sân kho, phủ cả lên những khuôn mặt đàn ông đàn bà nỗi âu lo nặng nề, dai dẳng.

Sáng chiều, bóng ông bưu chính còng lưng trên chiếc xe đạp vật vờ như bóng ma diễu trên đường làng, kéo theo ánh mắt của rất nhiều người. Ông dừng trước ngõ nhà nào nhà ấy giật thót, đứng tim. Họa hoằn lắm ông mới đưa được tin vui, ấy là những bức thư của lính từ chiến trường xa gửi về. Thư về cho người yêu, thư về cho bố mẹ. Có nhà nhận thư, cười. Có nhà nhận thư, khóc. Làng xóm phập phồng chìm trong lo âu. Nỗi lo âu phấp phỏng, mơ hồ.

Nhà bà Nhì sát đầu hồi nhà ông bà Cần. Hai nếp nhà tranh cách nhau bờ bông bụt. Ông bà Nhì có một gái hai trai. Người con trai thứ hai tên Đa nhập ngũ hơn năm rồi, ở nhà còn chị gái và em trai út. Mấy tháng nay không nghe tin con trai, vừa lo cho con, bà Nhì vừa dõi theo mọi việc diễn ra bên nhà hàng xóm. Hàng xóm của bà, nhà ông bà Cần có mỗi cậu con trai là Tiến, nhập ngũ cùng đợt với Đa. Mấy bữa nay nghe đồn cậu ấy hi sinh. Thời buổi đạn bom ác liệt. Mấy ai đi có thể trở về. Con trai đi rồi, con gái lớn cũng đi rồi, còn mỗi đứa con gái út, ông bà Cần lặng lẽ vật vờ như chiếc bóng. Chẳng máu mủ ruột rà nhưng hàng ngày trông bóng dáng họ, nghe những điều họ nói với nhau khiến bà nao nao trong dạ. Ông bà nhà ấy thơm thảo lắm. Chẳng lấy gì gọi là dư dật, nhà cạnh đường cái luôn có kẻ ăn xin ghé vào, có nắm khoai bà cho nắm khoai, có lẻ gạo bà trút cho lẻ gạo. Đến bữa ăn, con nít hàng xóm sang chơi ngồi nhìn vào bà cũng bới cho ăn. Bà luôn nhắc con gái nhớ làm phúc. Giúp người, ấy là cái phúc mình gửi vào thiên hạ. Rồi có lúc mình được người khác giúp mình. Ông bà ấy tốt thế sao ông trời không thương, được mỗi anh con trai nỡ cướp đi…

*

*          *

Lúc này đang nhập nhoạng tối, bóng một người mang ba lô, đầu mũ cối loáng thoáng vật vờ từ đường cái bước qua cái cầu đá nhỏ vào nhà ông Cần. Bà Nhì đứng nơi góc sân nhà nhìn sang hớt hải quay vào nói với chồng.

“Ông ơi ông hình như thằng Tiến về, thằng Tiến nhà ông Cần về. Tui thấy, tui thấy…”

“Bà có mơ không đó?”

“Không, tui thấy rõ ràng.”

“Còn mô nữa mà về? Mấy bữa ni nghe đồn, rứa mà thật. Xã tổ chức truy điệu hắn ở sân kho rồi. Bà cũng biết mà.”

“Nhưng tui thấy rõ ràng. Lạ thật.”

Bữa nay quả thật cũng giống như mấy bữa trước, thấy bóng Tiến về, bà Nhì bước sang định hỏi thăm tin con thì không thấy Tiến đâu. Bà chỉ thấy ông Cần ngồi im nơi góc sân. Bà chào ông rồi bước vô nhà. Bà vào buồng ngồi xuống cạnh bà Cần cũng đang ngồi lặng phắc. Bà ôm vai bà Cần nói, thằng nhà tui mấy tháng rồi cũng không có thư. Ngoài sân có tiếng lao xao. Mấy ông xã đang đứng cạnh ông Cần. Bà nghe tiếng ông Cần, các ông đừng nói chi nữa. Tui biết trước rồi, tui biết thằng Tiến hi sinh trước rồi...

Ông Nhì nghe bà Nhì nói thấy Tiến về nữa, mấy lần dợm chân định bước sang nhà ông Cần rồi lại thôi. Miệng ông lẩm bẩm. Thằng Tiến về? Thằng Tiến về? Mà liệu có thật nó về không? Ông nhớ lại lễ truy điệu nó diễn ra vào chập tối, người làng đứng chật sân kho, khói nhang nghi ngút. Tất cả đứng lặng, chỉ thầm thì tiếng đọc của ông chủ tịch. Đọc xong điếu văn, chủ tang nói thêm mấy lời nữa rồi giục bà con giải tán kẻo máy bay lên, chú ý đèn đóm. Mọi người lặng lẽ giải tán, dọc lối về còn xôn xao, người ta thương bố mẹ Tiến, thương Tiến. Tiến rất tốt, hiền lành, tốt bụng. Lúc còn ở nhà ai nhờ chi Tiến cũng làm. Tiến miệng nói tay làm, vui vẻ nói cười. Tiến tham gia dân quân, đi làm thủy lợi. Gặp đợt tuyển quân Tiến đòi đi cho bằng được. Trường hợp Tiến là trường hợp đặc biệt. Người ta còn giữ lại vì gia đình chỉ mỗi Tiến là trai, bố mẹ già yếu. Nhưng rồi Tiến cũng đi. Tiến đi đợt đó vừa mới ăn tết xong, bánh chưng đang còn, hương trầm đang thơm trên bàn thờ mỗi nhà…

*

*           *

Tiến về nhà lần đầu như khói sương...

Lúc về nhập nhoạng tối, trên chõng tre ở góc sân, bố áo quần nhàu nhĩ, mái tóc, chòm râu lưa thưa, má hóp sâu. Ông như hóa đá chìm vào bóng tối đầu hôm. Mẹ nhăn nheo rầu rĩ, mái đầu bạc xơ xác dưới vành khăn chít vội, cầm đèn lê từng bước từ gian bếp đầu hồi nhà đi ra. Chưa đầy năm mà mẹ đã già sọm, bố cũng già sọm rồi. Em gái khóc ri rỉ trong buồng. Tờ giấy báo tử thả rơi bên ấm tích nơi cuối giường, dưới ánh đèn dầu le lói. Mâm cơm mẹ dọn nơi góc sân cạnh cửa bếp có đĩa tép kho, bát canh rau muống vẫn còn bỏ trống cũng chìm dần vào bóng tối. Không có người quanh mâm, con mèo mon men đến thò chân khều lên đĩa làm tép vương vãi. Tép này hẳn do em gái cất rớ được. Nhớ ngày còn ở nhà, buổi trưa em gái mang mười mấy cái rớ xuống đồng. Trưa tháng sáu nắng chang chang. Bóng em đội mê nón cặm cụi trên đồng nhấc từng chiếc rớ. Quá trưa em mang về mớ tép tươi xanh nhảy tanh tách trong đám lá tre. Và bố nữa, chiều nào cũng mang cần với những miếng khoai lang luộc chín cắt thành hình quân cờ bỏ trong ống bơ để làm mồi câu. Bố đội mê nón thủng thẳng từng bước. Xuống tới nơi, dưới bóng cây xà cừ bố kê dép ngồi buông cần. Không buổi nào bố phải về tay không. Hôm hai con, hôm ba con, những con cá gáy to cỡ bàn tay vàng ươm căng đầy bụng trứng. Cá câu được, bữa nhiều ăn không hết mẹ bán bớt, dành lại con kho nghệ, con nấu canh dưa. Đi thủy lợi về, Tiến thể nào cũng được mẹ dành riêng cho nửa trên con cá rán béo ngậy. Đó là những tối vui. Nếu máy bay không lên và nếu không sinh hoạt chi đoàn Tiến sẽ cầm sáo cùng chúng bạn xuống bờ sông ngồi thổi đón gió đông, đón trăng lên.

Giờ đây, mấy ông cán bộ ra về bố vẫn ngồi im, ánh mắt mờ đục nhìn ra bụi tre lặng phắc. Căn hầm đắp trước hôm ra đi để bố mẹ và em trú cỏ chưa kịp mọc mà lá tre rụng phủ kín phía trên. Đất trong hầm tỏa mùi ẩm mốc. Chiếc chõng tre, manh chiếu cũ đã được đưa lên chỗ bố đang ngồi. Bố ít khi vào hầm. Còn nhớ những lúc có máy bay chỉ mẹ và em vào. Còn bố ở trên. Bố bảo còn phải nhìn xem nó đánh ở đâu để biết mà tránh. Những lúc như thế bố bảo con cũng vào hầm đi nhưng Tiến không vào. Bố còn không sợ, thanh niên như anh sao lại sợ. Sợ máy bay thì đi bộ đội sao được. Thế rồi Tiến được đi thật, đòi mãi cũng được đi. Chúng bạn đi cả mình ở lại sao được. Phải đi để em gái được sinh hoạt chi đoàn như cái Bình, cái Lan. Phải đi để bố mẹ ngẩng đầu lên với xóm làng chứ.

Bố vẫn ngồi đó. Lưng bố như sụm xuống. Mẹ cũng đã còng. Cả hai đã gần bảy mươi rồi. Mái sau gian buồng nơi mẹ nằm đã sụm. Chưa kịp sửa lại cho mẹ thì đã ra đi. Giờ đây nó đã sụm thêm. Chẳng biết nhà mấy đứa kia thế nào. Bom B52 trùm xuống, mấy đứa cùng tiểu đội tanh bành hết. Lúc này mỗi đứa một phương. Tiến, thằng Kiên, thằng Bản cùng về ngoài nớ. Còn thằng Yên về Hà Tĩnh, thằng Quang về Quảng Bình. Mấy đứa hẹn nhau sẽ gặp lại trong đó. Gặp lại để kể cho nhau nghe về gia đình, về bố mẹ, về xóm làng.

Tiến vẫn suy nghĩ chưa biết kể cho chúng nó nghe chuyện gì. Kể về bố mẹ già ư? Về mái tranh đã mục ư? Ra đi Tiến chỉ tiếc không kịp lợp lại mái tranh. Bây giờ mới hơn năm mà mái đã sụm...

Còn em gái đi đâu chưa về. Em gái mười lăm, thay đổi da thịt từng ngày chắc lớn lắm rồi. Tiến từng khoe với chúng bạn. Mấy đứa tranh nhau gọi Tiến bằng anh. Tiến giả bộ vuốt râu, cười hề hề, bảo đứa mô tốt với tau tau sẽ gả em gái cho. Tiểu đội sống với nhau, mới chỉ mấy tháng mà đã thân thiết như anh em, nhường nhau từng ngụm nước, bẻ cho nhau từng mẩu lương khô, từng đọt măng, từng múi khế. Nhớ chúng nó quá…

Tiến về nhà lần thứ mấy chẳng nhớ nữa…

Cán bộ xã mang bằng Tổ quốc ghi công đến nhà. Bố run run đỡ tấm bằng. Miệng lắp bắp điều gì không ai nghe được. Bố tiếp nhận nỗi đau trong sự lặng im. Nước mắt cũng cạn khô rồi.

Nhà chưa có bàn thờ Tiến. Hai gian ngoài một gian buồng, mái tranh vách đất. Hai gian ngoài một gian kê chiếc giường cũ kĩ, nơi ông nằm; gian trong có chiếc giường đôi cho mẹ và gái út. Chẳng biết lập bàn thờ Tiến ở đâu. Anh con rể kiếm đâu được tấm ván nhỏ cỡ bàn cờ tướng, đóng đinh bốn góc rồi một phía cột vào vách, phía ngoài cột dây treo lên đòn tay, cách đường nóc nhà độ hai gang tay. Tấm bằng Tổ quốc ghi công đặt ngay ngắn ở giữa, phía trước đặt cái bát tô trẹt có cát bên trong làm chỗ cắm hương. Làm xong anh bước xuống xoa tay nhìn lên vẻ ưu tư. Thế này, lúc bố muốn thắp hương thì làm sao. Sẽ phải đứng trên giường mà vói lên. Sẽ khó, sẽ nguy hiểm, nhưng biết làm sao. Thôi đành, cứ tạm thế.

*

*           *

Trong một hẻm núi trập trùng chiều nay có nhiều đám mây lũ lượt tụ về. Nhiều đám mây nhập vào nhau một lúc rồi lại tản ra bay dập dìu, dập dìu là là trên những tán rừng. Các đám mây quấn quít như giận như hờn, cứ như người lâu ngày gặp lại, vồ vập hồ hởi bắt tay đấm lưng.

“Nhà mi ra răng?” “Nhà mày thế nào?” “Em gái mày lấy chồng chưa? Bố mẹ khỏe không?” “Vợ con anh thế nào?” “Chúng mày thế nào?” “Em đi mấy nơi, chẳng nơi nào có tên cả. Về nhà chỉ thấy mỗi cái bằng ghi công trên bàn thờ ông bà thôi.” “Tao cũng vậy. Nhưng tên tao có ở hai nơi. Một ở nghĩa trang huyện và một ở đài tưởng niệm xã.” “Tao cũng thế. Bố mẹ tao phóng ảnh tao to bằng cuốn vở đặt cạnh bằng Tổ quốc ghi công.” “Tao cũng rứa, nhưng hình tao là hình vẽ theo ảnh. Họ vẽ không giống lắm nhưng cũng được, chỉ ghét là họ tô môi tao đỏ chót, tô má đỏ chót như con gái.”

Bao nhiêu tiếng nói xen vào thật khó nhận rõ ai vào ai. Cuối cùng, cũng đến lượt Tiến nói: “Tao cũng có mộ, có tên trên nghĩa trang huyện. Nghĩa trang huyện tao to đẹp lắm. Mộ tao thứ 5 dãy 17, bên trong không có gì. Mà lạ, trong mộ không có gì nhưng bát hương phía trước luôn có người thắp, chân nhang chật cả bát. Nhưng ở nhà, tao lo cho bố tao lắm. Anh rể tao cũng đi rồi, nhập ngũ rồi. Nhà bây giờ chỉ còn em gái. Mỗi khi thắp hương ông phải đứng trên giường, hai chân run run, hai tay run run. Ông phải kiễng chân ngửa cổ vói tay lên.” “Rứa chị mày lấy chồng lúc nào?” “Rồi, lấy rồi. Tau đi được bốn tháng thì chị lấy chồng. Nhưng anh rể cũng đi rồi.” “Thế chị mày làm gì, xa nhà mày không?” “Chị tau là công nhân nông trường, ở đội chăn nuôi, cách nhà tau một buổi đi bộ. Chị tau là công nhân chăn hai chục con bò. Ngày ngày chị lùa bò ra đồi, chiều lùa bò về, chị nấu cơm. Lúc anh rể chưa nhập ngũ, hai vợ chồng ngồi ăn trên cái giường một, là nơi ngủ của hai vợ chồng…”

Râm ran mãi rồi cũng hết chuyện.

Các đám mây lại lần lượt tản ra bay về muôn hướng.

Thời gian cuốn đi ít nhiều, thời gian của mây khác thời gian của đời người, lại những đám mây khác đến, từ những hố bom khác, hay là vẫn những đám mây cũ ở hố bom cũ ngày xưa thôi. Chỉ khác, lần gặp này có nhiều tiếng khóc than, kể lể hơn.

“Mẹ tao mất rồi, bố tao cũng vừa mất. Em gái tao gần ba chục tuổi mới có chồng. Chồng nó còn mẹ già phải phụng dưỡng nên em gái tao phải bán nhà bán đất theo chồng.” “Thế bàn thờ nhà mày thì sao?” “Ông anh con bác rước vào, mang theo cả bằng Tổ quốc ghi công. Hình tau đặt nép một góc trên bàn thờ nhà bác.” “Thế ngày giỗ có được cúng không?” “Có, tối trước hôm giỗ chị tau và em gái phải đến nhà ông anh bàn bạc và đưa tiền. Nhà ông anh tau cũng hoàn cảnh lắm, túng thiếu lắm. Để anh ấy thờ cũng vạn bất đắc dĩ thôi.” “Vậy là… vậy là… Tao... tao nói… mày đừng giận nhé. Như vậy là nhà mày… không có người nối dõi.” “Giận gì chứ, điều đó tau biết mà. Tau biết mà…”

*

*           *

Vùng đồi đã mấy tháng rồi ồn ã, rậm rịch. Lán bạt dựng mấy cụm bên bờ suối. Máy xúc máy ủi bò lổm ngổm như những con cua khổng lồ. Lưỡi ben của máy gạt gạt phăng những cụm gốc cây, gạt phăng những khối đá lớn xuống khe. Máy ngoạm với những lưỡi răng bừa bập vào sườn đồi ngoạm lên từng gàu đất to gục gặc trút xuống thùng xe ben. Có gàu múc lên cả xương ống chân, xương cẳng tay. Có đoạn máy ủi ủi đến đâu xương nổi trắng lên đến đó. Người ta cắm nhang rải dọc theo lối máy ủi qua. Người ta lom khom đi theo máy nhặt từng mẩu xương lấm lem bùn đất.

Mấy tháng sau, vùng đồi vừa được san mọc lên những nhà xưởng rộng như sân bóng đá. Cạnh đó là những dãy nhà kho, nhà xe và nhà ở. Đường vào khu nhà cũng được mở rộng rãi, ngày ngày người xe vào ra ồn ã, tấp nập.

Thế rồi lâu lâu lại có vài tốp ông bà già lếch thếch kéo đến. Từ phía ngoài khu nhà họ chỉ trỏ, tranh luận. Người đi qua lõm bõm nghe họ nói với nhau: “Điểm cao 541… hình như… tôi nhớ là chôn cạnh một tảng đá to.” “Mà cái khe đó ở đâu nhỉ?” “Còn đâu nữa. Lấp hết rồi, san bằng hết rồi.” Tốp người nhễ nhại mồ hôi, mệt mỏi kéo nhau đi dưới nắng trưa.

Họ đi từ hiện tại xuyên về quá khứ. Vẫn rừng già, khe suối, vẫn đèo dốc chất ngất. Đoàn quân cứ đi, ngoằn ngoèo, len lỏi. Đi trong tiếng gầm rú của máy bay phản lực, đi trong tiếng bom dội xa gần. Cả tháng trong rừng. Sốt rét nằm lại, đuối sức nằm lại. Ra khỏi rừng già đồi tiếp đồi. Đồi nối đồi, nhấp nhô kéo dài xuống, kéo dài mãi vào phía Nam. Tất cả chìm trong mịt mù, trong cái nắng ong ong của mùa khô. Xa xa chớp lóe, dội về tiếng bom tiếng pháo ì ùng như sấm rền. Tạm dừng nghỉ một lúc lại đi tiếp. Nhấc ba lô đứng dậy, hàng quân rùng rùng chuyển động. Mùa khô mặt trời đỏ ối, chói gắt hắt lửa. Luồn lách len lỏi qua đồi qua khe. Bàn chân đặt lên mặt đất hầm hập bốc khói. Sông suối khô khốc, đá to đá nhỏ rải rác chồng chất. Những đồi cỏ khô cháy. Những rừng cây khô cháy. Đất đá tanh bành, mặt đất nham nhở. Hố bom chồng hố bom. Hố pháo chồng hố pháo. Đất đỏ đất nâu đất đen, trộn lẫn. Mảnh gang mảnh sắt, mảnh nhôm mảnh đồng, mảnh to mảnh nhỏ, trộn lẫn với nhau.

Họ đi mà không biết trên đầu mình mây trắng vẫn bay...

*

*            *

Đêm nay, lúc đầu hôm có một tốp khách chăm chú vây quanh nghe người quản trang tại nghĩa trang Trường Sơn kể chuyện. Đã nhiều năm làm việc ở đây, rất nhiều đêm ông nghe văng vẳng tiếng hát của anh em mình. Tiếng đồng ca trầm hùng, khí thế lắm. Và có những đêm khuya khoắt ông còn nghe cả những tiếng khóc, những cuộc nói chuyện rì rầm thâu đêm.

“Thế bác có sợ không?”

“Không, tui quen rồi. Anh em mình cả, nỏ sợ. Những lúc như thế, chỉ cần mình thắp hương khấn xin các anh thì mọi tiếng hát, tiếng khóc, tiếng chuyện trò im bặt. Và lúc đó chỉ có tiếng gió vi vút từ rừng thông vọng về.”

Ông quản trang quả quyết, anh em mình linh thiêng lắm. Ở đây chỉ có mộ cùng tên những ai tìm được hài cốt và có tên cụ thể. Còn rất nhiều người chưa tìm được hài cốt sẽ không có tên ở đây. Các đội tìm kiếm vẫn đang tiếp tục tìm các bác à…

Nửa buổi sáng hôm sau, có hai người phụ nữ tóc bạc trắng, cọm rọm đi vào nghĩa trang. Hai người đi dọc những hàng bia mộ, mắt dán vào những tấm bia. Mặt trời lên gần đỉnh đầu, rất nhiều cái bóng đổ trên nền bê tông nóng bỏng chân. Nắm nhang trong tay vơi dần, mồ hôi trên những khuôn mặt già nua nhăn nheo tong tong rỏ.

Khi đó, Tiến là một đám mây trắng bay tít trên cao kia. Tiến không thể nói với chị gái mình, cùng chị gái thằng Đa hàng xóm, con ông bà Nhì rằng mình và Đa không có ở đây đâu. Chúng em đâu còn gì mà tìm. Không bao giờ tìm được nữa đâu. Đừng đi tìm nữa mất công. Không riêng hai thằng em, còn nhiều người nữa, không còn gì đâu. Thôi hai chị về đi. Giờ đây nghĩa trang ở đâu cũng nghiêm trang, nghĩa trang nào cũng đàng hoàng to đẹp. Thế là chúng em mãn nguyện rồi. Hai chị yên tâm về đi...

Tháng 7/2025
N.N.L

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)