Tết Bính Ngọ ở làng Lon

Thứ Ba, 24/02/2026 06:21

. XUÂN BA
 

Cái góc giáp ranh huyện miền núi Thạch Thành và Vĩnh Lộc như sót, như lưu lại kiểu quần cư sinh thái độc đáo. Xóm làng thèo đảnh, dân cư thưa thớt. Người Kinh ở lẫn với người Mường. Những khoảng rừng nguyên sinh lẫn rừng bụi rậm.

Làng Lon lọt trong góc giáp ranh ấy!

Làng lớn tên là Biện Thượng hợp ba làng mà thành. Ba làng mang tên nôm ba con vật Báo, Lon, Sóc. Báo lớn hơn Lon. Lon lớn hơn Sóc.

Vị thế đắc địa rừng vườn của làng Lon nép dưới chân núi Hùng Lĩnh đầu những năm 1960 đã lọt vào con mắt địa chiến lược. Người ta đã định liệu một nhà máy thuốc lá nhỏ rất tiện cho thời chiến, nép dưới những um tùm cây cối. Dân làng Lon hiến đất hiến vườn rừng để có chân đứng cho những phân xưởng, nhà ở khu hành chính của một nhà máy sản xuất thuốc lá bé hơn nhà máy thuốc lá Thăng Long ở ngoài Bắc, nhưng sản lượng cũng khá để dự trù cho hậu cần chiến trường, để sắp tới phải có ngàn vạn bao thuốc lá phục vụ bộ đội ở các chiến trường chống Mĩ.

Việc xây dựng nhà máy thuốc lá ở làng Lon cũng chỉ mới rậm rịch nhưng đùng cái có lệnh không làm nữa. Sau này nghe đâu chả phải lộ bí mật mà do hệ thống cấp nước từ sông Mã cho nhà máy không thuận. Nhà máy thuốc lá có tên Cẩm Lệ, một địa danh kết nghĩa của tỉnh Thanh Hóa với Quảng Nam được chuyển đi vùng khác.

Mặt bằng cho nhà máy đứng chân được thay thế bằng những sắc xanh áo lính. Một đơn vị cỡ đại đội trong đêm mùa đông năm 1966 bí mật về làng Lon. Những chàng trai tân binh quê Hải Hưng, Nam Hà, có cả dân Hà Nội. Người làng Lon lạ lẫm rồi thân gần rất nhanh với những chàng lính má còn măng tơ với cung cách phát âm lạ tai nơ lờ nẫn nộn. Không hề được phổ biến nhưng người làng thấm rất nhanh cái tin bộ đội tân binh về làng huấn luyện để đi B. Thời gian đâu như mấy tháng.

Bốn khu doanh trại rải rác trong các vườn rậm chật ních cho bốn B (trung đội). Cánh tân binh còn lại chia nhau ở khắp 18 gia đình của làng Lon. Cái nhà ngói khá rộng của nhà tôi được chọn làm nơi ở cho Ban chỉ huy đại đội. Ít ngày sau mới hay, chả riêng làng Lon mới có bộ đội tân binh. Mà suốt dãy các làng, xã từ huyện Hà Trung mãi ngược lên Thành Long, Vân Du, Kim Tân… của huyện Thạch Thành cũng có các đơn vị tân binh của Sư 308.

Gần 60 năm đã vèo đi mà bây giờ nhắm mắt lại tôi vẫn như vừa chứng kiến hình ảnh Ban chỉ huy đại đội ở nhà mình. Gian buồng đằng trái nhà và gian kế bên được bàn tay khéo léo của hai anh liên lạc Trọng và Thú chia ngăn thành gian ở và làm việc kín đáo. Mỗi sớm tinh mơ, cái dáng cao lớn cùng chất giọng ồ ồ của anh Đại đội trưởng Văn Tiến Mòi, người Thừa Thiên Huế cất lên đầu tiên. Rồi dáng nhanh hoạt của Chính trị viên đại đội Vũ Quang Thìn, người Nam Hà với cái xà cột bất li thân lẹ làng lách ra sân. Rồi sải bước khuỳnh khuỳnh với cặp chân chữ bát là Đại đội phó Dương Quang My quê ở tận xứ Tiền Giang. Nhoáng cái, hai anh liên lạc Trọng và Thú cũng đã nhảo sang bếp anh nuôi bưng trịnh trọng cái khay quân dụng đựng mỗi người một bát cơm kiêm cái đĩa nước mắm lềnh bềnh mấy miếng thịt cho các thủ trưởng ăn sáng.

Hai liên lạc Trọng và Thú hồi ấy vừa 18, quê đâu như Thanh Miện - Hải Dương. Cả hai chỉ nhỉnh hơn bọn tôi ở làng 4, 5 tuổi. Mẹ tôi thi thoảng lại máy nhỏ hai anh bổ sung vào khẩu phần ăn sáng của Ban chỉ huy, khi củ sắn củ dong riềng luộc. Chỉ vậy thôi. Tiếng nhà ngói cây mít nhưng đói dài. Lắm hôm, anh Thú còn phần cơm nguội thêm cho tôi lấy chỗ nhà bếp.

Chính trị viên Vũ Quang Thìn có cái răng vàng, tính tình mát mẻ. Mấy ông trong Ban chỉ huy gần như bổ sung tính cách cho nhau, cương nhu tuần tự. Đại đội trưởng Văn Tiến Mòi, mặt mũi lúc nào cũng đỏ găng, tính tình hổ lửa nóng nảy hay quát nạt lính. Nhưng may có Đại đội phó My và Chính trị viên Thìn điều hòa lại.

Lần ấy không hiểu lí do gì việc xây dựng trường bắn đạn thật, bia di động trục trặc. Ông Mòi oang oác quát nạt lính lác. Chính trị viên Vũ Quang Thìn im lặng, kiên nhẫn điều nghiên nguyên nhân tại sao súng nổ, hầu hết đạn chệch bia? Rồi cũng tìm ra… Cụ thể lí do gì chả biết. Nhưng mãi sau này, may mắn gặp lại anh Thú (thời gian tôi đang là sinh viên khoa văn Đại học Tổng hợp, ngôi trường của tôi lại ở bên trường Cảnh sát mà anh Thú đương là cán bộ y tế của trường), anh mới thì thầm rằng ông Chính trị viên Vũ Quang Thìn đã gặp riêng ông chú tôi hỏi kĩ địa hình trường bắn. Được biết đó là một thung lũng nối với mỏm đồi hình yên ngựa. Đất ấy tiếp giáp giữa làng Lon và làng Sóc quê chúa Trịnh Kiểm (vị chúa tiên khởi 12 vị chúa nối dài hơn 200 năm của lịch sử Đại Việt). Cái eo yên ngựa của trường bắn tập lại cận khu mộ mấy đời chúa Trịnh. Có cả chuyện ông chú tôi thân dẫn đồng chí Chính trị viên đến ngôi miếu gần đó hương khói thế nào chả biết. Nhưng rồi may việc quân tự nhiên yên!

Thời gian chả phải là lặng lẽ trôi mà chất chứa bao cự li thân gần cùng kỉ niệm tươi rói, ấm áp. Đại đội phó Dương Quang My - anh Năm My người con Tiền Giang trước lúc tập kết đã có vợ có con trong Nam, người đã thân gần và vô tình sẻ chia với tôi những oái oăm dằng dặc ngày Bắc đêm Nam mà khi ấy cái tuổi vô tình, tôi đâu có biết. Nhớ mãi một lần, có con cá chuối (cá lóc) anh kiếm đâu về bận việc quẳng đấy. Họp xong anh ào tìm cá, thì anh liện lạc Thú đã chế biến, đã kho rồi. Bất đồ tôi nhác thấy Đại đội phó Dương Quang My như sụp hẳn xuống. Anh Thú dồn hỏi nhưng thấy thủ trưởng mình cứ lặng phắc, mắt lại ầng ậng nước. Lát sau, mới khẽ khàng cùng người liên lạc của mình với cung cách hơi khác phong thái ngang thẳng, cố hữu… Tôi lặng lẽ làm theo lời anh Thú. Nghĩa là bắt trong bể (nhà tôi luôn có cái bể xi măng nuôi mấy con cá phòng khi có khách, có việc) một con cá chuối bằng cườm tay giống con cá anh My kiếm về đã bị… kho. Ngó người Đại đội phó quê ở miệt vườn Cửu Long Giang vót một cành tre tươi khéo léo xiên đầu nhọn vào miệng chú cá chuối còn nguyên cả vây, vảy, ruột. Rồi anh hí húi đi rút một búi rơm. Đoạn anh phủ rơm lên con cá cắm ngược trên đất. Nổi lửa. Ba đợt rơm phừng phừng. Đợi tro rơm nguội hẳn, anh mới từ tốn cời ra…

Bữa ăn chiều của Ban chỉ huy đại đội mỗi người có một khẩu cá chuối nướng lửa rơm mà anh Năm hỉ hả nói là cá nướng trui để kỉ niệm ngày giỗ ba anh! Anh Năm ơi, khi viết những dòng này, nhớ lại hồi đó anh đã hơn 30 tuổi. Vậy là 60 năm đã qua đi. Sau cái năm 1966 ấy, anh lại lộn vào chiến trường, biết anh có gặp lại vợ con không? Anh có còn hay mất? Bây giờ mỗi khi gặp đâu đó món cá lóc nướng trui lại bâng khuâng, xốn xang thuở gian khó ở làng Lon ấy.

Nhớ cận Tết Bính Ngọ, anh Năm dẫn đám thau tháu chúng tôi đến chơi trại các cụ miền Nam tập kết an dưỡng ở làng trên Vĩnh Hòa. Ở đó, anh thân với hai ông già tập kết gần quê. Ngày tết dư dả thời gian, anh cùng các cụ lui cui bày ra mấy món lạ hoắc. Đó là cá, rắn nướng trui rồi nhậu. Thuở ấy đã thoáng nghĩ hay anh Năm bày đặt cho đám trẻ chúng tôi cách nướng trui, nướng mọi cho đỡ cái cơn thèm thời suy, thời khan dinh dưỡng. Mà đâu biết động thái ấy như kiểu diễn cho đã cơn nhớ quê, cho thuyên giảm bớt thời khắc vời vợi những đêm Nam ngày Bắc?

Vùng quê nghèo rừng rú quê tôi khá là lam sơn chướng khí. Tật bệnh đủ thứ. May mà sức trẻ cùng khí chất nhiều đứa lứa tôi vượt được. Nhưng tôi vướng phải bệnh thấp khớp cấp. Cấp là tự nhiên sốt cao các khớp sưng vù lên. Khi khỏi sưng đau thì bệnh cũng đã biến chứng vào tim. Nhẹ thì thấp tim. Nặng hở van tim, phù tim. Bố tôi ngây dại thẫn thờ trước thằng con đang thiêm thiếp trong cơn thấp khớp cấp. Cạy cục rinh nửa lạng cao hổ cốt của một cụ lang nổi tiếng khắp vùng về hết xoa lại uống cũng không đỡ. Anh y sĩ Mạnh của đại đội lắc đầu: “Không ổn bố ạ. Bệnh này phải có thuốc”. Thuốc là thứ kháng sinh đặc hữu khi ấy hiếm lắm. Nhưng anh Mạnh kiếm được, lùng được thứ kháng sinh ấy từ bệnh xá của Sư đoàn. Tiêm 5 ống thì bệnh tôi đỡ. Sau này thày mẹ tôi luôn nhắc cái ơn cứu tử ấy là phải sống tết, chết giỗ. Nhưng sau này, tôi đã mất liên lạc với anh Mạnh. Nếu còn sống anh có nhớ đến cái thằng cu người làng Lon những năm tít xa mà anh đã chữa trị ấy không?

Nhớ nhiều thời điểm cuối năm 1966 ấy.

Một chiều, đám tang ở bên kia làng Hoành cách con sông Mã sau làng Lon không xa, cờ phướn phấp phới. Đám ma cổ ở vùng đất cổ nên khá rình rang. Bất đồ mục tiêu ấy lọt vào con mắt cú vọ của đám phản lực Mĩ vẫn vòng đi vòng lại khu vực này nhắm vào mục tiêu cầu Đò Lèn và Hàm Rồng. Bốn chiếc F.4 thi nhau bổ nhào xuống ngôi làng quê yên ả nơi diễn ra đám tang kia. Một cuộc thảm sát tàn bạo đã diễn ra. Hàng chục ngôi nhà và hàng chục dân thường đã thiệt mạng. Cũng cần nói thêm, trực tiếp chứng kiến vụ thảm sát đó hầu như có đủ cán bộ chiến sĩ của đại đội tân binh đóng quân ở làng tôi. Tân binh nhưng trang bị vũ khí luấn luyện đâu có xoàng! Có cả 14,5 ly và trung liên và AK, CKC… Mà cơ số đạn không phải vài chục viên. Thời gian bốn chiếc F.4 bổ nhào và vòng lượn sát sạt trên đầu phơi lưng phơi bụng dễ đến gần 20 phút. Nhưng tất cả phải ghìm súng im lặng!

Bao năm đã qua đi, nhưng tôi vẫn ám ảnh không mờ nhòa hình ảnh cánh tân binh đóng quân ở làng Lon mắt đỏ ngầu căm hờn chỉ lên trời mà không thể làm gì được. Tất cả bất động trong tiếng bom dậy đất. Mãi sau này mới biết, đội hình súng ống của cả đại đội phải tuân thù nghiêm ngặt mệnh lệnh không được nổ súng. Mà lệnh từ trên của Sư đoàn. Nếu nổ súng manh động sẽ làm lộ lực lượng toàn sư đoàn đang bí mật đứng chân ở một địa bàn rộng lớn. Một kí ức đau chẳng thể quên.

Một góc khu vườn cây cổ thụ xoài muỗm nhãn nhà tôi từng được đốn tỉa quang để dành cho lán trại bộ đội B4. B ấy có một anh chàng tân binh người Hà Nội nhỏ người nhưng rắn chắc. Dân làng quen gọi là “anh hỗn râu” vì anh có bộ râu rậm rì, tua tủa xanh. Đám chúng tôi kết anh này vì anh hay chuyện lại là cây văn nghệ của đại đội hát hay, diễn kịch giỏi. Anh có chất giọng trầm ấm nhất là khi cất lên cái bài binh vận Quay về đi thôi hỡi anh người lính Cộng hòa… Anh hỗn râu này ngày nào cũng ghé qua nhà đóng quân của đại đội. Các thành viên Ban chỉ huy đại đội tỏ ra khá mến trọng anh. Biết nhiều chuyện. Lắm tài lẻ. Anh sục vào mấy cái rương gỗ chứa sách của Ban chỉ huy đại đội mà các liên lạc Thú, Trọng hay cất giữ như thần giữ của các loại sách sợ bị thó. Ai thó? Lính lác ghé qua hoặc cả tôi cũng nên. Thi thoảng lại bí mật giúi cho tôi cuốn này cuốn khác bằng cách của mình. Anh rất khoái tôi chả phải vì lũ tôi hay cung đốn hào phóng khoai luộc sắn nướng cho đội văn nghệ, mà anh thực thà khen tôi có năng khiếu tập làm văn. Lời anh “hỗn râu” thế mà thiêng. Năm lớp 7 tôi được đi học tập trung để thi học sinh giỏi văn miền Bắc. Cuốn Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng hiện tôi còn giữ là sách riêng anh cho tôi mà anh nói mang đi từ Hà Nội.

Cận Tết Bính Ngọ năm 1966, cả làng Lon quê tôi như bừng thức một khí sắc mới. Tôi không biết duyên do nào mà một bộ phận của Đoàn văn công Tổng cục Chính trị có cả kịch nói, đơn ca tốp ca gì đó phối hợp với đội văn nghệ của đại đội đóng ở làng Lon cùng luyện tập văn nghệ. Không khí xóm làng cứ như ngày hội. Đám chúng tôi hãnh diện tự hào vì anh hỗn râu tài năng của chúng tôi. Ngày trước thiếu anh thì tờ báo tường cũng như các tiết mục văn nghệ cây nhà lá vườn của đại đội tức thì trục trặc. Nay anh như con dao pha đắc dụng trong việc tập các tiết mục văn nghệ với tốp văn công Tổng cục Chính trị. Nhìn anh tung tẩy, chúng tôi đâm ghen với cả mấy cô văn công mới về làng vì thấy họ rất “ kết’’ anh chàng đẹp trai tài hoa kia!

Buổi liên hoan văn nghệ đón Xuân Bính Ngọ có tiết mục hái hoa dân chủ đêm ba mươi tết ở khu vườn làng Lon quê tôi. Ấn tượng sâu đậm với tất thảy dân khắp vùng khi cái anh “hỗn râu” ấy lãnh vai đạo diễn đội hình kịch hỗn hợp văn công Tổng cục Chính trị tổ chức một chương trình suốt cả mấy đêm tết tại địa điểm đóng quân của tiểu đoàn ở làng Đa Bút. Tôi dám chắc đến thời điểm đó và cho mãi sau này, chưa có chương trình nghệ thuật nào hoành tráng, ấn tượng như cái đêm ca kịch tại ngôi làng có địa chỉ khảo cổ núi Hến nổi tiếng Đa Bút. Hình ảnh các chiến sĩ giải phóng quân thoăn thoắt ẩn hiện trên nền địa tầng khảo cổ được ánh đèn sân khấu mờ tỏ chiếu vào tăng thêm hiệu ứng rất bắt mắt. Sau này được thưởng lãm thêm hình ảnh hoành tráng của anh “hỗn râu” khi tạo dựng kịch bản 45 năm Chiến thắng Hàm Rồng và vài hoạt cảnh trong phim Mưa đỏ rằng hay thì thật là hay nhưng không ấn tượng bằng thuở anh tập hành nghề đạo diễn năm xa xưa cái Tết Bính Ngọ làng Lon quê tôi!

… Năm 1983, tôi nằm gác chân lên anh. Anh khi ấy đã là một nhà văn nổi danh với bút danh Chu Lai. Cái tên Chu Lai có từ hồi đóng quân ở làng Lon. Thời bao cấp khốn khó, Bộ Nội thương tổ chức đợt đi viết điển hình ở nhiều địa phương, trân trọng mời anh dự làm hạt nhân cho phong trào. Tôi cũng may mắn được tham dự. Cái điếu cày chừng như điểm nhịp cho hồi ức một thuở, một thời. Nhờ vậy tôi loáng thoáng biết thêm, từ làng Lon, anh đâu như được rút lên trên làm tuyên giáo. Có nhiều ngả rẽ thênh thang lẫn xênh xang. Nhưng anh đã xung phong thẳng vào các mặt trận phía trong làm một anh lính chiến thực thụ!

X.B

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)