Ngược chiều thời gian trên đồi cao biên giới

Thứ Bảy, 03/10/2026 07:18

.LÊ NGỌC SƠN

Tháng sáu, nắng miền biên viễn đổ tràn trên những con đường. Qua ô cửa kính xe, những dãy núi, ngọn đồi nơi vùng biên giới Lào Cai hiện ra lớp lớp trong màu xanh thẫm, nối tiếp nhau đến tận chân trời. Dọc đường, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những bản làng nhỏ nép mình dưới chân núi, bên những thửa ruộng đang vào mùa gặt. Khung cảnh thanh bình ấy khiến người ta khó hình dung rằng nơi đây từng là một trong những chiến trường khốc liệt của cuộc Chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc cách đây gần nửa thế kỉ. “Trận chiến mở màn trước rạng sáng ngày 17/2/1979, khi pháo binh từ bên kia biên giới pháo kích dữ dội vào các vị trí phòng thủ của Việt Nam. Mục tiêu ban đầu là các khu vực Bát Xát, Mường Khương và Pha Long...” Những dòng tư liệu về cuộc chiến cứ lần lượt hiện lên trong tâm trí tôi. Hôm nay, tôi có dịp ngược dòng thời gian để tìm về những dấu tích của một thời hoa lửa. Nhưng những dấu tích ấy không chỉ nằm trong kí ức hay trên những trang sử cũ. Đâu đó giữa những sườn đồi, khe núi nơi biên cương vẫn còn những người lính chưa thể trở về với đất mẹ, lặng lẽ chờ những đồng đội hôm nay tìm đến.

Chuyến đi lần này đưa chúng tôi đến Bát Xát và Mường Khương, hai địa danh vùng cao nằm dọc tuyến biên giới Việt - Trung, từng là chiến trường ác liệt trong cuộc Chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Giờ đây, trên chính những sườn đồi ấy, chúng tôi tìm gặp những người lính đang ngày đêm bám trụ nơi biên cương: người lặng lẽ đi tìm những đồng đội còn nằm lại, người miệt mài rà phá bom mìn và vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh. Gần nửa thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày những tiếng súng cuối cùng lắng xuống trên tuyến biên giới này nhưng vẫn còn những bà mẹ mất con mà chưa một lần biết chính xác nơi con mình nằm lại; vẫn còn những gia đình chỉ có thể thờ người thân qua một tấm ảnh cũ và vài dòng thông tin ít ỏi trên giấy báo tử. Nhiều người trong số họ đã đi hết cuộc đời mình trong sự chờ đợi mòn mỏi.

Đồng hành cùng chúng tôi trong chuyến đi là Trung tá Nguyễn Khắc Đào, cán bộ Phòng Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai. Khi chiếc xe rẽ khỏi cao tốc để đón anh tại điểm hẹn ở nút giao thuộc địa phận thành phố Yên Bái cũ, chúng tôi mới biết anh đang trong thời gian nghỉ phép. Thế nhưng ngay khi nhận được lệnh của đơn vị, anh lập tức gác lại những dự định riêng để lên đường cùng đoàn công tác. Trong câu chuyện dọc đường, mỗi khi nhắc đến công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, giọng anh Đào lại chùng xuống. Anh kể có những ngôi mộ khi khai quật chỉ còn lại vài di vật như chiếc bình tông nước, mấy chiếc cúc áo hay một đoạn dây lưng đã mục nát theo thời gian. Có những trường hợp, xương cốt gần như đã hòa tan hoàn toàn vào lòng đất; dấu vết còn lại chỉ là một khoảng đất sẫm màu khác biệt với lớp đất xung quanh. Nghe anh kể, tôi bất giác đưa mắt nhìn những dãy núi đang lùi dần phía sau ô cửa kính. Dưới những tầng đất đá và cây rừng kia, biết đâu vẫn còn những người lính tuổi đôi mươi đang nằm lại, chờ ngày được đồng đội đưa về với đất mẹ.

Đầu giờ chiều, chúng tôi đến Trung tâm Y tế xã Bát Xát, nơi tạm trú của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai. Sau ít phút nghỉ ngơi, đoàn bắt đầu theo chân các anh lên điểm cao 350B, thuộc địa bàn xã Bát Xát. Con đường dẫn lên điểm cao chỉ là một lối mòn nhỏ ngoằn ngoèo men theo sườn đồi. Hai bên đường, cỏ dại và cây bụi mọc um tùm. Mới đi được một quãng ngắn, mồ hôi đã thấm ướt lưng áo. Nắng miền biên giới mỗi lúc một gay gắt hơn. Leo thêm một đoạn, chúng tôi dừng chân nghỉ dưới bóng một gốc cây ven đường. Từ độ cao ấy nhìn xuống, một thung lũng trải rộng trong màu xanh mát mắt của ruộng nương và cây cối hiện ra ngày một bao quát hơn. Xa xa, những dãy núi biên cương nối tiếp nhau đến tận chân trời, lặng lẽ như những chứng nhân của bao biến động đã đi qua mảnh đất này.

Đội rà phá bom mìn vật liệu nổ của Bộ CHQS tỉnh Lào Cai thực hiện nhiệm vụ tại một ngọn đồi ở xã Mường Khương

Đi bên cạnh tôi là Thượng tá Phạm Khắc Trường, Chính trị viên Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Dáng người rắn rỏi, nước da sạm nắng và những bước chân thoăn thoắt của anh khiến tôi có cảm giác những con dốc dựng đứng nơi đây đã trở thành một phần quen thuộc trong cuộc sống thường ngày. Thấy chúng tôi thỉnh thoảng phải dừng lại lấy sức, anh vừa cười vừa động viên: “Các bác cứ đi từ từ thôi. Chúng em ngày nào cũng lên xuống ba bốn lượt nên quen rồi”. Nói là “quen rồi”, nhưng tôi hiểu phía sau hai chữ giản dị ấy là biết bao vất vả mà những người lính đã trải qua. Hơn một tháng nay, họ miệt mài bám trụ trên những sườn đồi và các điểm nghi có mộ liệt sĩ quanh khu vực điểm cao 350B. Có những ngày từ sáng sớm đến chiều muộn, mồ hôi thấm ướt áo mà vẫn chưa tìm thấy một dấu vết nào. Trước mỗi điểm đào, cán bộ, chiến sĩ phải phát dọn cây cối, rà phá bom mìn, chia ô, rồi đào hàng trăm, thậm chí hàng nghìn rãnh khảo sát mới mong có được một tín hiệu nhỏ. Đứng bên khoảng đất vừa được phát quang, anh Phạm Khắc Trường chia sẻ: “Có nơi đào cả nghìn rãnh như ở xã Trịnh Tường mà không có kết quả gì. Làm công việc này phải thật kiên trì. Nhiều khi tìm kiếm suốt hàng tuần liền mà chưa thấy gì, nhưng anh em vẫn không thể dừng lại. Bởi một nơi bỏ sót, biết đâu lại là nơi các bác đang nằm đó”.

Đội tìm kiếm hiện có 54 cán bộ, chiến sĩ, gồm 5 sĩ quan, 33 quân nhân chuyên nghiệp và 16 chiến sĩ thuộc Trung đoàn 254, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai. Nhiều quân nhân chuyên nghiệp trước đây từng là Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã nên rất am hiểu địa bàn, nắm chắc phong tục, tập quán và có mối quan hệ gắn bó với người dân, tạo nhiều thuận lợi cho công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Hiện đơn vị tạm trú tại trạm y tế địa phương; tầng hai và tầng ba được tận dụng làm nơi nghỉ ngơi, tầng một vẫn phục vụ khám, chữa bệnh cho người dân, còn khu nhà xe được cải tạo thành bếp ăn tập thể. Theo anh Đặng Xuân Trường, Đội phó Đội tìm kiếm, khi đơn vị được thành lập, phần lớn cán bộ, chiến sĩ đều tự nguyện viết đơn xin tham gia nhiệm vụ, bởi với họ, đây không chỉ là mệnh lệnh mà còn là trách nhiệm và sự tri ân đối với các Anh hùng liệt sĩ.

Một cơn gió hiếm hoi như từ dưới chân đồi thổi ngược lên, làm dịu bớt những bước chân đã bắt đầu mỏi. Trước mắt chúng tôi, những đường đào khảo sát chạy dài trên sườn đồi như những nét kẻ song song hằn trên nền đất đỏ. Mỗi rãnh cách nhau khoảng một mét để bảo đảm “không chạm đầu thì chạm chân”, như lời anh Phạm Khắc Trường nói. Các rãnh sâu chừng nửa mét, kéo dài hàng chục mét rồi nối tiếp nhau thành những đường khảo sát dài bất tận. Khoảng đất rộng trên đỉnh đồi ấy là khu vực mà đội tìm kiếm đã khảo sát trong ngày hôm trước, nhưng vẫn chưa tìm thấy hài cốt liệt sĩ nào. Chúng tôi tiếp tục men theo một lối mòn để sang sườn đồi hình yên ngựa ở phía bên phải. Lối mòn ấy đâu phải có sẵn. Nó được tạo nên từ dấu chân của những người lính Đội rà phá bom mìn, rồi đến Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trong suốt hơn một tháng qua. Dọc lối đi vẫn còn hiện rõ dấu tích những đoạn chiến hào chạy ngoằn ngoèo theo sườn đồi. Tôi chợt hình dung về những ngày tháng Hai năm ấy. Đạn pháo cày nát mặt đất. Những người lính nằm ép mình trong các đoạn chiến hào, tay ghì chặt khẩu súng. Rồi những chiếc mũ cối nhô lên khỏi miệng hào. Các anh siết chặt tay súng, hướng về phía quân thù. Trong giờ khắc ấy, những đôi mắt tuổi đôi mươi ánh lên sự quả cảm, không một chút sợ hãi, “nhằm thẳng quân thù mà bắn”.

Điểm cao 350B một khoảng đồi rộng, thoai thoải, phủ lớp cỏ thấp và những bụi cây mọc thưa. Anh Trường cho biết trước đây nơi này rậm rạp hơn rất nhiều. Để phục vụ công tác tìm kiếm, anh em trong đội đã phải phát quang cả một vùng rộng lớn. Chỉ khi mặt đất được mở ra, người dân địa phương mới có thể xác định tương đối vị trí ngôi mộ đã tồn tại gần nửa thế kỉ trước. Theo lời kể của các cựu chiến binh và người dân địa phương, gần năm mươi năm trước, nơi đây từng có một ngôi mộ liệt sĩ với tấm bia ghi ngày hi sinh 17/2/1979 - ngày mở màn cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Anh Trường cho biết ngôi mộ đã tồn tại quá lâu. Ban đầu, mộ có thể được đóng ván hoặc có bia đánh dấu, nhưng theo thời gian, gỗ mục nát, đất đá sạt lở, bia mộ đổ vỡ khiến những dấu tích dần biến mất. Hôm chúng tôi đến, đội vừa chuyển hướng tìm kiếm sang sườn đồi này dựa trên thông tin của bác Tâm, một người dân địa phương. Bác kể rằng trước đây mình từng cùng năm, sáu người dân ngồi trên ngọn đồi bên cạnh ngôi mộ và nhìn xuống con đường đất dẫn vào thôn Quang Kim phía dưới...

Tôi nhớ lại những dòng tư liệu về trận chiến năm xưa: “5 giờ 45 phút ngày 17/2/1979, quân đội Trung Quốc đồng loạt dùng pháo cỡ lớn tấn công sáu tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Tại tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ, nay là tỉnh Lào Cai, các mục tiêu từ Pha Long đến A Mú Sung bị bắn phá dữ dội. Bộ binh Trung Quốc vượt sông Hồng đánh chiếm các khu vực làng Hang, Quang Kim, Bát Xát...” Đứng trên điểm cao 350B, nhìn xuống thung lũng phía dưới, tôi chợt nhận ra mình đang ở đúng nơi từng chứng kiến những giờ phút dữ dội ấy. Quang Kim hôm nay hiện ra thanh bình dưới nắng chiều. Những ngôi nhà mái Thái khang trang nằm xen giữa màu xanh của ruộng nương. Những con đường bê tông chạy dài qua các xóm nhỏ. Khó ai có thể hình dung rằng mảnh đất bình yên ấy từng rung chuyển bởi đạn pháo chiến tranh... Con đường dẫn vào làng mà bác Tâm nhắc tới giờ trở thành một dấu mốc quan trọng của cuộc tìm kiếm. Thế nhưng, từ vị trí nào trên sườn đồi này cũng có thể nhìn thấy con đường ấy. Và ngôi mộ năm xưa nằm chính xác ở đâu? Không ai có thể trả lời. Hi vọng duy nhất là sự bền bỉ của những người lính đang ngày ngày lật từng lớp đất, mở từng rãnh khảo sát để tìm kiếm. Xác định xong vị trí cần tìm kiếm trong ngày, những người lính trẻ nhanh chóng bắt tay vào công việc. Những nhát cuốc đầu tiên bổ xuống khoảng đồi. Rồi từng đường rãnh khảo sát dần hiện ra trên nền đất đỏ. Phía trên, bầu trời biên cương trải rộng đến vô cùng. Giữa nắng gió vùng cao, những người lính lặng lẽ mở từng lớp đất như đang vẽ lên sườn đồi những nét nối liền quá khứ với hiện tại. Đứng nhìn họ làm việc, tôi thầm cầu mong những nỗ lực bền bỉ ấy sẽ được đền đáp, bởi theo anh Trường, với những thông tin đã được kiểm chứng từ nhiều nguồn, khả năng ngôi mộ liệt sĩ vẫn còn ở khu vực này là rất cao.

Đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng này, đã hơn một tuần kể từ chuyến đi ấy. Tôi nhắn tin hỏi anh Trường về kết quả tìm kiếm. Tin nhắn trả lời ngắn gọn hiện lên trên màn hình điện thoại: “Vẫn chưa thấy anh ạ. Anh em vẫn đang tìm”. Chỉ vài dòng chữ giản dị, nhưng phía sau đó là những ngày nắng gắt trên sườn đồi, là hàng trăm mét rãnh khảo sát đã được đào, là niềm hi vọng chưa bao giờ tắt về một ngày tìm thấy người liệt sĩ vẫn còn nằm lại giữa núi rừng biên cương...

Quay lại câu chuyên ở trên, anh Trường dừng lại bên một khoảng đất trên sườn đồi rồi chỉ tay xuống phía dưới: “Đội chúng em đã quy tập được chín bác ở khu vực dưới chân điểm cao này, cách đây khoảng hai cây số”. Manh mối quan trọng đầu tiên đến từ ông Hoàng Xuân Dục, một cựu chiến binh từng trực tiếp chiến đấu tại khu vực này. Ông là một trong số ít người còn lưu giữ khá rõ kí ức về địa hình chiến trường năm ấy. Gần nửa thế kỉ đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc đến những đồng đội còn nằm lại trên các sườn đồi biên giới, ánh mắt ông vẫn ánh lên nỗi day dứt khôn nguôi. Đó là nỗi trăn trở của một người lính đã sống sót, khi nhiều đồng đội của mình mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Chính ông là người kiên trì cung cấp thông tin, nhiều lần cùng đội tìm kiếm trở lại các điểm cao để xác định vị trí, đối chiếu kí ức với thực địa. Những thông tin quý giá ấy đã giúp Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ xác định đúng khu vực. Để tìm được những hài cốt đầu tiên, đơn vị đã phải bám địa bàn suốt nhiều tuần liền. Hàng trăm rãnh khảo sát được đào lên rồi lại lấp xuống. Có những ngày nắng cháy da, anh em làm việc từ sáng đến chiều mà vẫn không phát hiện được bất cứ dấu tích nào. Thế rồi, vào một ngày đầu tháng sáu, khi một chiến sĩ đang đào khảo sát ở độ sâu hơn nửa mét, lưỡi cuốc bất ngờ chạm phải một vật khác thường dưới lớp đất đỏ. Những nhát cuốc lập tức dừng lại. Đất được gạt đi từng chút một. Những chiếc bay nhỏ thay cho cuốc, xẻng. Từng lớp đất được đôi bàn tay người lính nhẹ nhàng bóc tách. Dấu tích đầu tiên hiện ra là một mảnh tăng bạt đã mục nát theo năm tháng. Khi mở ra, bên trong, đội tìm thấy vài chiếc cúc áo quân phục, một đoạn dây lưng và chiếc bi đông nước phủ kín màu gỉ sét. Những vật dụng bình dị ấy vốn chẳng có gì đặc biệt trong đời sống người lính. Nhưng ở thời khắc ấy, chúng trở thành những chứng nhân lặng lẽ của lịch sử, xác nhận rằng dưới lớp đất này thực sự có một người chiến sĩ đã nằm lại từ những ngày chiến tranh khốc liệt của mùa xuân năm 1979... Trong số chín hài cốt đã được quy tập tại khu vực này, hầu hết vẫn còn lưu giữ những di vật gắn bó với người lính trong những năm tháng chiến đấu như hộp đạn hay lọ dầu lau súng đã hoen gỉ. Có hai hài cốt còn sót lại một số mảnh xương nhỏ như đốt sống hoặc xương ngón chân. Những phần di cốt ít ỏi ấy được bảo quản cẩn thận trong túi hút ẩm để phục vụ công tác giám định ADN. Nếu đủ điều kiện, các mẫu xương sẽ được tách riêng để gửi đi phân tích, với hi vọng một ngày nào đó có thể trả lại tên cho những người đã hi sinh sau hàng chục năm nằm lại giữa núi rừng biên cương.

Mỗi cuộc khai quật lại mang đến những dấu tích khác nhau về giờ phút cuối cùng của người đã khuất. Có hài cốt được tìm thấy cùng ba đầu đạn AK. Một trường hợp khác còn nguyên đầu đạn K54 nằm trong hộp sọ. Những chứng tích lặng im ấy không chỉ kể lại sự khốc liệt của chiến tranh mà còn phần nào hé mở câu chuyện về những trận đánh đã diễn ra trên các điểm cao này gần nửa thế kỉ trước. Càng nghe những câu chuyện về công tác quy tập hài cốt liệt sĩ, tôi càng nhận ra rằng đối thủ lớn nhất của những người lính hôm nay không phải là núi cao, rừng sâu hay những quả bom, quả mìn còn sót lại sau chiến tranh. Đối thủ lớn nhất của họ chính là thời gian. Thời gian khiến những chiến hào năm xưa chìm khuất dưới màu xanh của cây rừng. Thời gian làm những tấm bia đổ nghiêng rồi mất dấu, những cột mốc biến mất, những con đường không còn ai nhớ chính xác vị trí. Thời gian cũng khiến xương cốt của những người lính dần hòa vào lòng đất mẹ. Nhưng khắc nghiệt hơn cả, thời gian đang lần lượt mang đi những nhân chứng cuối cùng của chiến tranh. Những cựu chiến binh năm nào nay tóc đã bạc trắng. Những người dân từng chứng kiến việc chôn cất liệt sĩ giờ đều đã ngoài bảy mươi, tám mươi tuổi. Mỗi năm trôi qua, kí ức lại phai mờ thêm một chút. Anh Phạm Khắc Trường trầm ngâm: “Không biết sau chiến dịch này còn có thể tổ chức được những đợt tìm kiếm với quy mô và lực lượng như thế này nữa hay không. Vì vậy, chúng em chỉ biết cố gắng hết sức để đưa các bác trở về”.

Đứng trên điểm cao 350B trong buổi chiều đầy nắng, nhìn những người lính trẻ vẫn lặng lẽ cặm cụi bên các rãnh đào khảo sát, tôi chợt nhận ra rằng chiến tranh tuy đã lùi xa nhưng trách nhiệm đối với những người đã ngã xuống chưa bao giờ khép lại. Trách nhiệm ấy đang được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ những cựu binh như ông Hoàng Xuân Dục đến những người lính hôm nay như anh Phạm Khắc Trường và đồng đội, để hành trình đưa những người đã hi sinh trở về với đất mẹ vẫn tiếp tục trên những sườn đồi biên giới của Tổ quốc.

Trời đã ngả về chiều muộn nhưng đội tìm kiếm vẫn miệt mài với công việc. Rời điểm cao 350B, anh Trường dẫn chúng tôi đến nhà quàn, nơi đang lưu giữ chín hài cốt liệt sĩ vừa được quy tập. Sáng thứ bảy tới, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai sẽ tổ chức lễ bàn giao các hài cốt liệt sĩ cho địa phương.

Căn phòng nhỏ nằm ngay bên trái cổng Ban Chỉ huy Quân sự xã Bát Xát được bố trí trang nghiêm làm nơi thờ vọng các liệt sĩ. Trên bàn thờ là bát hương nghi ngút khói cùng những bông cúc vàng, cúc trắng tươi thắm. Phía trên nổi bật dòng chữ vàng trên nền đỏ: “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ”. Bên dưới là lá cờ đỏ sao vàng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phía trước bàn thờ, chín tiểu quách được bọc trong lá cờ Tổ quốc, xếp ngay ngắn thành hai hàng trên chiếc bàn phủ vải đỏ. Trên mỗi tiểu quách đều đặt lễ vàng mã. Anh Trường lặng lẽ châm hương rồi lần lượt trao cho từng thành viên trong đoàn. Nhà thơ Lý Hữu Lương thay mặt cho đoàn kính cẩn dâng hương, thành kính tưởng niệm anh linh các liệt sĩ. Trong không gian tĩnh lặng, khói hương quyện tỏa, ai nấy đều lặng người trước sự hi sinh lớn lao của những người lính đã nằm lại nơi biên cương Tổ quốc gần nửa thế kỉ trước.

Từng người trong đoàn lần lượt tiến lên dâng hương với lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc. Chỉ một buổi chiều theo chân đội quy tập hài cốt liệt sĩ cũng đủ để chúng tôi hiểu hơn những khó khăn, vất vả cũng như ý nghĩa nhân văn sâu sắc của công việc mà các anh đang ngày đêm thực hiện. Đứng trước những tiểu quách phủ cờ đỏ sao vàng, lòng chúng tôi không khỏi xúc động. Để đất nước có được hòa bình, để những bản làng nơi biên cương hôm nay bình yên trong màu xanh của núi rừng, các anh đã gửi lại tuổi thanh xuân, máu xương và cả cuộc đời nơi chiến địa. Sự hi sinh ấy sẽ mãi được các thế hệ hôm nay và mai sau ghi nhớ, tri ân.

Trên đường trở về trung tâm tỉnh Lào Cai, xe chạy men theo những triền núi đang chìm dần trong ánh hoàng hôn. Dòng sông Hồng lặng lẽ chảy dưới chân núi, mang theo màu nước đỏ đặc trưng nơi đầu nguồn. Bên kia sông là những bản làng, những cánh đồng và những con đường mới mở đang nối dài về những vùng đất xa hơn. Đêm xuống rất nhanh trên miền biên viễn. Những ngọn đèn trong các bản làng ven núi lần lượt sáng lên. Phía sau chúng tôi, những điểm cao từng thấm máu người lính dần chìm vào bóng tối. Tôi vẫn nghĩ mãi về những nhát cuốc đang lật từng lớp đất đỏ để tìm lại dấu tích của đồng đội. Nhưng rồi tôi chợt hiểu rằng, để những nhát cuốc ấy có thể an toàn chạm xuống lòng đất, luôn có những người lính khác âm thầm đi trước. Họ rà từng mét đất, phát hiện và xử lý từng quả bom, quả mìn còn sót lại sau chiến tranh. Họ không trực tiếp tìm thấy hài cốt liệt sĩ, nhưng chính họ là những người mở đường để cuộc tìm kiếm ấy có thể tiếp tục. Một người đi tìm đồng đội. Một người đi gỡ bỏ hiểm nguy. Cả hai đều đang làm chung một công việc: khép lại những mất mát của chiến tranh và trả lại sự bình yên cho mảnh đất biên cương.

Đội tìm kiếm quy tập đang tìm những gì còn sót lại của hài cốt liệt sĩ trong lòng đất

Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục hành trình đến Mường Khương, nơi Đội rà phá bom mìn, vật liệu nổ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lào Cai đang thực hiện nhiệm vụ. Tôi khá bất ngờ khi biết nơi đóng quân của đơn vị hiện nay lại là một trang trại gà bỏ hoang giữa vùng biên Mường Khương. Trên đường đi, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là toàn bộ tuyến biên giới phía Trung Quốc đã được rào chắn kiên cố. Dọc theo bờ suối là hệ thống kè bê tông vững chãi; phía trên dựng hàng rào, lắp đặt camera giám sát và loa phát cảnh báo. Không còn cảnh người dân qua lại dễ dàng như trước. Có lẽ đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến trang trại gà này bị bỏ hoang, khi hoạt động buôn bán qua các đường tiểu ngạch không còn thuận lợi như những năm trước. Khi chúng tôi đến nơi, ở doanh trại chỉ còn các “anh nuôi.” Qua câu chuyện, tôi được biết toàn Đội rà phá bom mìn, vật liệu nổ đã lên đồi từ sáng sớm. Họ đã làm việc tại đây gần ba tháng và dự kiến sẽ tiếp tục bám địa bàn đến hết năm. Khu đóng quân của Đội rà phá bom mìn được bố trí khá quy củ. Nơi làm việc tuy chỉ là những căn nhà tạm dựng bằng vách liếp, lợp mái tôn đơn sơ nhưng các phòng đều được gắn biển tên rõ ràng. Trên bức tường của văn phòng dã chiến nổi bật dòng khẩu hiệu: “An toàn, cẩn trọng, đúng quy trình kĩ thuật, không để sót bom mìn, vật nổ”. Bên dưới là các bảng nội quy an toàn lao động, bản đồ khu vực thi công, bảng tiến độ thực hiện nhiệm vụ, hình ảnh nhận dạng các loại bom mìn, vật nổ thường gặp và quy trình rà phá trên cạn. Ngay cạnh đó là khu bếp ăn. Bốn chiến sĩ đang tất bật chuẩn bị bữa trưa. Trong vệt nắng nghiêng xuyên qua những khoảng hở trên vách tôn ám khói, chiếc bếp lò đôi đỏ lửa cháy âm ỉ. Dưới đáy lò, những thanh củi đã hóa thành than hồng. Hai chiến sĩ trẻ đang làm thịt gà. Bữa ăn hôm ấy khá tươm tất với thịt gà, ngô, cà rốt và thịt viên. Một chiến sĩ bưng ra chiếc nồi gang lớn. Tôi đùa: “Nồi này chắc phải nấu mấy chục bơ gạo?” Cậu chiến sĩ thật thà đáp: “Ba mươi bát gạo cho ba mươi ba người anh ạ”. Lâu lắm rồi tôi mới được nhìn lại chiếc nồi gang to đến vậy. Loại nồi này khi nấu cơm thường tạo nên một lớp cơm cháy vàng ruộm dưới đáy, giòn tan và thơm lừng. Chỉ cần bẻ từng miếng, chấm với chút nước gà kho cũng đã thành món ngon khó quên, nhất là đối với những người lao động ngoài trời nắng nóng suốt ngày. Thực đơn của từng bữa ăn được ghi rõ trên bảng thông báo treo trước khu bếp. Dù chỉ là nơi đóng quân tạm thời, khu nhà ở của các chiến sĩ vẫn gọn gàng đến bất ngờ. Những chiếc giường tầng được kê ngay ngắn. Chăn màn gấp vuông vức ở đầu giường. Ba lô, mũ kê pi và quân trang được sắp xếp ngăn nắp phía sau. Mỗi giường đều có bảng tên của chủ nhân. Nhưng mùa hè nơi vùng biên cũng không hề dễ chịu. Dưới mái tôn hấp nhiệt, căn phòng lúc nào cũng nóng hầm hập. Các chiến sĩ kể rằng nhiều tối phải ra ngoài đồi hoặc xuống bờ suối ngồi hóng gió, chờ căn phòng nguội bớt mới trở vào ngủ. Càng bật quạt lại càng thấy nóng. Bao quanh khu trại là những thửa ruộng lúa và nương ngô đang vào vụ thu hoạch. Xa hơn là những triền núi xanh thẫm nối tiếp nhau đến tận chân trời, xen giữa là những đồi dứa bạt ngàn. Dứa Mường Khương từ lâu đã nổi tiếng bởi vị ngọt thanh và hương thơm đặc trưng của vùng đất biên cương đầy nắng gió.

Sau cuộc điện thoại thông báo đoàn nhà văn đến thăm, vài chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên đỉnh đồi lập tức chạy xe máy xuống đón. Hôm ấy, người dẫn đường cho chúng tôi là chiến sĩ Trần Văn Thiên. Tôi ngồi sau xe của Thiên trên một chiếc Sirius đã cũ, men theo con đường dốc do bà con mở để lên chăm sóc những đồi dứa. Con đường đất đỏ như sợi chỉ men theo sườn đồi, có những đoạn dốc dựng đứng đến mức Thiên phải vừa giữ ga, vừa chống hai chân xuống đất để lấy đà. Chiếc xe gằn máy, nhích từng mét một giữa cái nắng như thiêu như đốt. Khu vực rà phá nằm trên những quả đồi cao phía sau vùng trồng dứa của người dân. Khi nhiệm vụ hoàn thành, những mảnh đất từng tiềm ẩn bom mìn, vật liệu nổ sẽ được trả lại để bà con yên tâm sản xuất. Đội của Thiên có sáu chiến sĩ. Khi chúng tôi lên tới nơi, họ đang đốt thực bì. Những bụi cây đã được phát dọn từ nhiều ngày trước nay khô quắt dưới nắng tháng sáu. Gió từ sườn đồi thổi tới khiến khói cuộn thành từng đợt, quất thẳng vào mặt, làm mắt cay xè. Thế nhưng, các chiến sĩ dường như đã quá quen với điều đó và vẫn tiếp tục công việc. Bộ đồ bảo hộ của lực lượng rà phá bom mìn nhìn thôi cũng đủ thấy ngột ngạt. Chiếc mũ bảo hộ che kín khuôn mặt. Bộ áo giáp bảo vệ dày cộp ôm trọn cơ thể giữa cái nóng như thiêu đốt của ngày hè vùng biên. Thiên giải thích rằng bộ trang phục này được thiết kế để giảm thiểu thương tích do mảnh văng khi xảy ra nổ. Nhưng anh cũng thẳng thắn thừa nhận rằng không có thiết bị nào có thể bảo đảm an toàn tuyệt đối trước những vật liệu nổ có sức công phá lớn. Điều khiến những người lính rà phá bom mìn luôn phải đặc biệt thận trọng là các loại mìn đã nằm trong lòng đất hàng chục năm. Thiên kể rằng đáng ngại nhất là một số loại mìn K58 có vỏ bằng nhựa. Sau thời gian dài chịu tác động của nắng mưa và độ ẩm, phần vỏ đã lão hóa, giòn mục, khiến cấu tạo bên trong trở nên khó lường. Chỉ một va chạm không đúng quy trình cũng có thể dẫn đến kích nổ. Cầm chiếc máy dò kim loại trên tay, các anh kiên nhẫn rà từng khoảng đất nhỏ. Mỗi bước chân đều chậm rãi và cẩn trọng. Tiếng máy dò phát ra những âm thanh đều đặn giữa không gian chỉ có nắng và gió. Trước mắt họ là biết bao quả đồi vẫn đang chờ được kiểm tra. Không ai biết dưới lớp đất khô cằn kia còn sót lại những gì của chiến tranh. Bởi vậy, mỗi tín hiệu phát ra từ chiếc máy dò đều khiến người lính phải dừng lại, kiểm tra thật kĩ trước khi tiếp tục công việc. Đó là công việc thầm lặng nhưng luôn cận kề hiểm nguy. Thiên chỉ cho tôi xem những đuôi đạn cối, lựu đạn chày mà đơn vị vừa phát hiện trong những ngày gần đây. Những vật thể bằng sắt đã hoen gỉ theo thời gian nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ chết người. Tôi hỏi: “Vợ con biết làm công việc này có lo lắm không?” Anh cười hiền: “Ban đầu cũng lo chứ anh. Nhưng làm lâu rồi thành quen. Gia đình cũng dần hiểu và yên tâm hơn”. Câu trả lời nhẹ nhàng của Thiên khiến tôi nghĩ nhiều hơn về những người lính công binh. Đằng sau sự bình thản ấy là những ngày tháng đối mặt với hiểm nguy mà không phải ai cũng hình dung được.

Những khu vực đã hoàn thành rà phá được cắm cờ đỏ đánh dấu. Đó là dấu hiệu cho thấy một khoảng đất đã được làm sạch, đủ điều kiện để bàn giao lại cho người dân canh tác. Công việc ấy là một phần của Chiến dịch 500 ngày đêm nhằm làm sạch bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh, trả lại sự bình yên cho những vùng đất biên cương. Thiên kể chương trình rà phá ở khu vực này đã được triển khai từ nhiều năm nay. Từ khi bước vào giai đoạn cao điểm của Chiến dịch 500 ngày đêm, lực lượng được tăng cường đáng kể. Cường độ công việc cũng lớn hơn, hầu như không còn khái niệm nghỉ cuối tuần. “Có khi rà hết cả một quả đồi mà chẳng tìm thấy gì”, Thiên nói. “Nhưng không ai biết dưới lòng đất còn gì nên vẫn phải thực hiện đầy đủ quy trình, không được phép chủ quan”. Nhìn những lá cờ đỏ cắm trên sườn đồi dưới nắng gắt, tôi hiểu rằng phía sau sự bình yên của những nương dứa, những thửa ruộng nơi biên giới là biết bao bước chân âm thầm của những người lính công binh đang ngày ngày đi trước để mở đường cho cuộc sống. Nhắc lại những ngày đầu mới về đơn vị, Thiên cười: “Hồi đó em làm bên sửa chữa thiết bị thông tin. Chuyển đi phát dọn thực bì, rà phá bom mìn, leo đồi được hai, ba ngày là người rã rời. Tối về chỉ muốn nằm vật ra ngủ. Leo dốc một lúc là tức ngực, hụt hơi. Giờ thì quen rồi, khỏe hơn nhiều. Với lại, bộ đội với nhau dễ sống lắm anh ạ. Đã là đồng chí thì không so đo, tính toán. Mỗi người một việc nhưng cùng chung mục tiêu là hoàn thành nhiệm vụ”.

Cuộc sống của họ diễn ra đều đặn như thế. Sáu giờ sáng bắt đầu công việc. Mười giờ nghỉ tránh nắng. Hai giờ chiều lại tiếp tục lên đồi cho đến năm giờ rưỡi hoặc sáu giờ tối mới trở về. Nước sinh hoạt được dẫn từ những mạch nước ngầm trên núi. Những ngày hè, mái tôn hấp nhiệt khiến căn nhà nóng như rang. Chạm tay vào nền nhà hay chiếc chiếu trải trên giường cũng có thể cảm nhận rõ hơi nóng hầm hập bốc lên.

Xế trưa, những chuyến xe máy lại đưa chúng tôi từ sườn đồi trở xuống. Nhìn những gương mặt còn đẫm mồ hôi nhưng luôn thường trực nụ cười của các chiến sĩ trẻ, chúng tôi dường như quên đi cái nắng gay gắt của miền biên viễn. Vì nhiệm vụ chung, họ chấp nhận sống xa gia đình, vượt qua những thiếu thốn, gian khổ và cả những hiểm nguy luôn tiềm ẩn dưới mỗi tấc đất.

Chúng tôi rời Mường Khương khi mặt trời đã lên gần tới đỉnh, nắng tràn ngập những triền đồi dứa xanh nối tiếp nhau đến tận chân trời. Phía sau chúng tôi, những người lính công binh vẫn lặng lẽ tiếp tục công việc thường ngày. Ngày mai, rồi nhiều ngày nữa, họ vẫn sẽ mang theo máy dò kim loại, cuốc xẻng và những bộ đồ bảo hộ nặng nề để bước lên những sườn đồi còn lưu giữ dấu tích chiến tranh. Có người đi tìm những đồng đội đã nằm lại gần nửa thế kỉ trước. Có người rà từng tấc đất để loại bỏ những hiểm nguy còn sót lại, trả lại sự bình yên cho bản làng và nương rẫy.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những công việc âm thầm ấy vẫn bền bỉ nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi hài cốt liệt sĩ được tìm thấy là thêm một gia đình vơi đi nỗi chờ đợi. Mỗi quả bom, quả mìn được xử lí là thêm một khoảng đất được trả lại cho sự sống. Nhìn những lá cờ đỏ đánh dấu các khu vực đã hoàn thành rà phá thấp thoáng trên sườn đồi dưới nắng tháng Sáu, tôi hiểu rằng hòa bình không chỉ được đánh đổi bằng sự hi sinh của những người lính năm xưa, mà còn được gìn giữ mỗi ngày bởi những bước chân lặng lẽ của những người lính hôm nay... .

L.N.S

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong văn của tôi ít được hư cấu vì tôi không có tài hư cấu. Vì thế đọc lên là biết ngay đó là ai. Hơn nữa tôi cũng hay để tên nhân vật là tên nguyên mẫu...(NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)