A Pa Chải, đất ấy vẫn ràn rạt gió

Thứ Năm, 17/09/2026 00:46

. NGUYỄN XUÂN THỦY
 

Năm 2014, trước dịp kỉ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi có dịp lên Điện Biên. Như một lời hẹn vào những năm chẵn kỉ niệm ngày chiến thắng, tròn mười năm sau, tôi lại ngược đèo Pha Đin về với mảnh đất cực Tây này. Mười năm trước, Thiếu tướng Lưu Trọng Lư đang giữ cương vị Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên. Câu chuyện với vị tướng vùng biên ải với chất hào sảng, quyết đoán khi ấy đọng lại trong tôi một Mường Nhé, vùng đất xa xôi, cách trở trước đó từng xảy ra những bất ổn, các đơn vị đứng chân trên địa bàn đã tham mưu cho tỉnh giải quyết dứt điểm vụ việc. Bởi thế, lần trở lại này, ngay từ khi ở Hà Nội, tôi đã tự hứa với mình rằng, sẽ cố gắng cao nhất để vào Mường Nhé một chuyến.

Và tôi đã có mặt ở vùng đất đặc biệt này.

Bây giờ Mường Nhé đã khác, đường giao thông thuận tiện hơn, quốc lộ 12, quốc lộ 4H được mở rộng, nâng cấp nên việc di chuyển từ thành phố Điện Biên Phủ vào quãng đường 260km đã thuận lợi hơn nhiều, đường xuống các xã, các bản cũng đã được trải bê tông, bà con đi lại dễ dàng. Bởi thế, việc di chuyển của chúng tôi cũng nhanh hơn so với dự tính. Sau 4 tiếng chúng tôi đã chạm vào vùng đất cực Tây - A Pa Chải.

Tác giả bài viết cùng đoàn công tác tại ngã ba biên giới A Pa Chải, Mường Nhé, Điện Biên. Ảnh: Minh Đức.

Khi chúng tôi bước vào Đồn Biên phòng A Pa Chải, Chính trị viên Đoàn Thanh Tuấn đang trong phút giải lao của buổi luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, anh tranh thủ tiếp chúng tôi với chiếc áo đông xuân bộ đội thấm mồ hôi, tay kẹp điếu thuốc ngồi vắt chân, như nghỉ ngơi, và cũng như sẵn sàng tác chiến, đậm chất quân sự. Phong cách “lính chiến” hiển hiện khiến tôi cảm thấy tò mò xen lẫn thích thú. Quả nhiên, cảm giác của tôi không sai, khi giao tiếp vài câu tôi hỏi thì được biết Tuấn vốn dân lục quân chuyển loại chính trị.

Chính trị viên Đồn Biên phòng A Pa Chải cho biết, Sín Thầu là xã nông thôn mới, nhưng 19 chỉ tiêu mới đạt 17, còn hai tiêu chí đang được “cho nợ” trong đó có tiêu chí về hộ nghèo. Bộ đội biên phòng vẫn đang tích cực cùng nhân dân “trả nợ” nốt hai tiêu chí còn thiếu. Ngoài 22 mô hình, chương trình của Bộ biên phòng áp dụng cho toàn lực lượng đã được triển khai, cùng với đó, đồn còn những sáng kiến riêng như mô hình “Vườn cây biên phòng” giúp dân trồng cây ăn quả, từ mô hình này 31 hộ dân đã được cung cấp giống, hướng dẫn trồng 1.300 cây ăn quả; hay như mô hình “Ánh sáng đường biên” thắp sáng các bản làng bằng đèn led sử dụng năng lượng mặt trời. 25 đảng viên của đồn đã tham gia phụ trách 113 hộ, mỗi đồng chí chỉ huy cũng phụ trách 2 hộ. Sín Thầu cũng là xã duy nhất của Mường Nhé đạt 4 không: không phá rừng, không di cư tự do, không có người nghiện ma túy và không có truyền đạo trái phép. Cái không thứ 4 này là vấn đề đau đầu không chỉ của Sín Thầu, của Mường Nhé mà còn của cả nước, đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc giáp biên. Công an huyện, Đồn Biên phòng và Ban Chỉ huy Quân sự huyện là thế chân kiềng để giữ yên vùng ngã ba biên giới. Xác định Mường Nhé là vùng dân tộc, tôn giáo phức tạp, các đơn vị đã phát huy lợi thế từ số cán bộ, chiến sĩ là người các dân tộc Mông, Thái, Hà Nhì để kết nối quần chúng, đến từng hộ gia đình vận động nhân dân không nghe theo lời xúi giục của kẻ xấu, kí cam kết không theo tà đạo. Mỗi dịp năm mới bộ đội biên phòng phối hợp cùng các đơn vị trên địa bàn tổ chức “Xuân đoàn kết, tết thắm tình quân dân” để đoàn kết nhân dân vùng biên cùng vui xuân trong hòa hợp, an vui.

* * *

Từ Đồn Biên phòng A Pa Chải chúng tôi tiếp tục “tăng bo” bằng xe máy để lên Cột mốc số 0. Thượng úy Lục Vĩnh Lương, Đội trưởng Đội Vận động quần chúng Đồn Biên phòng A Pa Chải dẫn đầu thê đội ba xe máy vượt qua những chặng đường đất quanh co. Đi hết đường đất và những đoạn cua ngược dốc, đến vị trí đang xây dựng cột cờ với tấm bia “A Pa Chải - Cực Tây của Tổ quốc”, Lương bảo còn 5-6 cây nữa mới lên đến mốc nhưng bắt đầu từ đây đường khó đi dù có trải xi măng và xe máy chạy được chứ không đến nỗi phải đi bộ. Đi được chừng non nửa đường Lương dừng lại ngoái đầu dặn: “Đoạn tới đây, khi nào thấy em bấm một hồi còi dài thì các anh về số 1 và ga hết cỡ mới vượt dốc được nhé”. Đúng là chỉ những người lính biên phòng mới hiểu hết thung thổ đất đai, những quanh co biên giới. Khi chúng tôi đến điểm leo bậc đá lên mốc, Lương giới thiệu, tất cả có 500 bậc và 19 chiếu nghỉ, 19 chiếu nghỉ tượng trưng cho 19 dân tộc anh em sinh sống tại Điện Biên.

Thượng úy Lục Vĩnh Lương người Tày, quê ở Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai. Trước khi về Đồn A Pa Chải anh công tác tại Đồn Na Cô Sa, dưới huyện Nậm Pồ. Tuy không sinh ra và lớn lên ở Mường Nhé nhưng anh khá thuộc địa bàn. Lục Vĩnh Lương cho biết, Cột mốc số 0 nằm trên đỉnh Khoang La San, thuộc bản Tá Miếu, xã Sín Thầu, là bởi bản A Pa Chải mới tách ra thành hai bản A Pa Chải và Tá Miếu. Mốc số 0 ở Tá Miếu, nhưng cái tên A Pa Chải quá quen thuộc và ấn tượng nên mọi thứ vẫn được gọi như cũ. Đã chớm đông nhưng cái nắng hắt lên sống đất ranh giới giữa Việt Nam và Lào vẫn bốc mùi khét đắng. Từng ngọn cỏ cũng sém lại vì nắng và gió. Gió táp ràn rạt, thịt da người se sắt lại. Đứng bên Cột mốc số 0 nơi ngã ba biên giới, không có con gà nào gáy để ba nước cùng nghe nhưng tôi cảm nhận rõ vị trí đặc biệt mình đang hiện diện. Sau lưng là đất mẹ, bên phải là nước láng giềng Trung Quốc, bên trái là người anh em Lào. Rừng núi cô liêu trong ánh chiều tà, nếu không có tiếng gió thì tất cả đều thinh lặng.

Trên đường lên mốc, Thượng úy Lục Vĩnh Lương chỉ cho tôi công trình cột cờ Tổ quốc cao hơn 45m. Ở đây có một lối mở đang được nâng cấp lên cửa khẩu song phương Việt Nam - Trung Quốc, dự kiến sẽ xong trong năm 2025. Nơi đây sẽ treo lá cờ có chiều dài 7,5 mét, tượng trưng cho con số 7/5 là ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ. Hồi đầu năm nay, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã dẫn đầu đoàn công tác lên khảo sát để có thể lập dự án làm đường lên Cột mốc số 0, như vậy, con đường từ đồn lên mốc chúng tôi vừa đi sẽ được làm mới. Điểm cực Tây Tổ quốc sẽ không còn quá xa xôi.

* * *

Từ mốc số 0 đi đến ngã ba để về Sín Thầu, tôi gặp bên đường một lán chốt. Ngỡ là lán của công nhân xây dựng, vì con đường chúng tôi đi đang được thi công dở, nhưng không phải, Lục Vĩnh Lương cho biết đây là chốt của Đồn A Pa Chải. Tôi xin phép dừng xe vào hỏi thăm anh em trực. Tiếp chuyện tôi là Thượng tá chuyên nghiệp Trần Văn Huy. Anh Huy sinh năm 1970, quê Quỳnh Phụ, Thái Bình, anh là nhân viên phiên dịch tiếng Trung. Ngược về thời trai trẻ và lần theo câu chuyện vì sao có mặt ở chốt canh kề nơi ngã ba biên giới này của Huy là một câu chuyện dài, dài như những nhân vật có lịch trình phức tạp cần truy vết đợt Đại dịch Covid-19, những ngày mà từng người lính biên phòng phải căng mình lên đường biên để ngăn người thâm nhập trái phép mang theo mầm bệnh. Những ngày đó anh Huy cũng trực tại chốt phòng chống Covid này, bây giờ cái tên vẫn còn gắn trên vách nhưng những tháng ngày cả nước ám ảnh bởi dịch bệnh đã lùi xa. Hết Covid thì có nhiệm vụ khác. Người lính có bao giờ hết việc để làm, hành trình ấy chưa bao giờ dừng lại suốt hơn ba mươi năm quân ngũ của anh Huy.

Năm 1991, Trần Văn Huy nhập ngũ vào Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình. Sau huấn luyện anh được điều lên Hà Giang. Từ đó là những năm tháng tuổi trẻ đằng đẵng bám những nẻo biên cương nơi miền đá tai mèo, từ Phó Bảng, Đồng Văn đến Thanh Thủy, Vị Xuyên. Đi học lớp tiếng Trung tại Trường Văn hóa Ngoại ngữ Biên phòng xong anh lại quay về Hà Giang, qua các Đồn Bạch Đích, Yên Minh. Một tua học tại chức tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội nữa thì về Săm Pun, Thượng Phùng, Nghĩa Thuận. Cứ thế tuổi trẻ của anh rải đều trên những nẻo biên cương chập chùng đá núi. Kí ức trong Huy những ngày ở Hà Giang là tổ 3 người đóng trên núi cao, mùa khô anh em phải thay nhau xuống đồn cõng từng can nước về dùng. Nước được dùng quay vòng, rửa mặt xong rửa chân tay; vo gạo xong thì rửa rau, ngâm cá khô… Mùa mưa đỡ hơn phần nào khi anh em tận dụng nước đọng trong các hốc đá để dùng cho ăn uống, sinh hoạt. Việc thắp sáng đương nhiên chỉ có đèn dầu. Thế mà cũng hàng chục năm trôi qua trong leo lét ánh đèn những đêm mùa đông sương mù giăng kín, chỉ có niềm tin và sức trẻ là sáng rõ.

Năm 2011, tròn hai mươi năm quân ngũ, Trần Văn Huy về Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Hà Giang, hai năm sau thì được điều chuyển sang Bộ đội Biên phòng Điện Biên. Thế mà cũng hơn mười năm gắn bó với nơi góc trời Tây Bắc này, anh đã kịp dạo một vòng hết Na Cô Sa đến Sen Thượng, Si Pa Phìn… Bây giờ, ngồi đối diện tôi qua chiếc bàn gỗ mộc tại chốt biên phòng dẫn lên mốc số 0 là một người lính 33 năm tuổi quân. Hai năm nữa anh sẽ đến tuổi nghỉ hưu. Huy cưới vợ năm 1998, khi đang ở Đồn Bạch Đích. Vợ anh là giáo viên cấp hai, ở quê. Niềm an ủi đối với anh đó là dù đi xa biền biệt thì hai cậu con trai vẫn được vợ anh nuôi dạy trưởng thành, cậu cả Trần Xuân Bách và cậu hai Trần Lưu Hoàng đều là sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, anh học Công nghệ thông tin, em học Kĩ thuật Hóa.

Từ biệt Thượng tá Trần Văn Huy chúng tôi lên xe khi trời đã nhá nhem. Chiếc xe máy phơi sương đã trở nên lạnh giá, ấn đề không nổ, tôi đạp cần khởi động vài lần chú ngựa chiến mới è è đáp lại. Tôi bật đèn, vào số chạy xe trong nhập nhoạng vùng biên trên con đường hướng về Đồn A Pa Chải. Cái gió ràn rạt lúc ban chiều bây giờ đã trở nên buôn buốt táp vào da thịt, khí lạnh quyện với bụi đỏ quẩn lên, dù trời tối cũng vẫn cảm nhận được. Trên trời, vầng trăng đỏ đọc hiện ra sau rặng núi. Đêm xuống như cô đặc không gian vừa căng mình suốt một ngày bức bối, còn tôi, có điều gì đó khiến lòng tôi chùng xuống.

Chiến sĩ Đồn Biên phòng A Pa Chải bên Cột mốc số 0, cực Tây Tổ quốc. Ảnh: Thành Duy.

Buổi tối hôm ấy chúng tôi được các anh em Đồn Biên phòng A Pa Chải giới thiệu gặp ông Pờ Dần Xinh, một già làng trưởng bản tiêu biểu ở nơi ngã ba biên giới. Nhà ông Xinh thuộc bản Tá Kố Khừ, xã Sín Thầu. Từng làm lãnh đạo xã từ nhiều năm trước, nay ông Xinh vẫn luôn là nòng cốt trong mọi hoạt động của người Hà Nhì, giữ cho vùng biên cương được ổn định vững vàng. Nơi biên cương, nhân dân luôn là điểm tựa của mỗi chiến sĩ bảo vệ đường biên cột mốc, của chính quyền địa phương trong việc giữ gìn an ninh trật tự. Ông Pờ Dần Xinh đã diễn giải những ý niệm thiêng liêng và có phần to tát ấy một cách giản dị: “Trên hết mình là người dân, mình phải coi việc bảo vệ chủ quyền biên giới, việc bảo đảm an ninh trật tự cũng là trách nhiệm của mình chứ không được ỷ lại lực lượng chức năng. Có thêm một người như mình là các cán bộ công an, biên phòng có thêm một đôi mắt, một đôi tai, một đôi chân, một đôi tay để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ vững chắc biên cương, bình yên cuộc sống cho chính mình, cho chính con cháu mình”. Cái lí của người Hà Nhì là như vậy. Ở Sín Thầu cũng như các xã lân cận Sen Thượng, Leng Su Sìn gần như 100% là người Hà Nhì cư trú. Trong lịch sử vùng đất này, bộ đội biên phòng và nhân dân đã đồng hành dài lâu, cùng nhau vượt qua những thăng trầm, từ thời tiễu phỉ đến đấu tranh giải phóng quê hương, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Nối tiếp bước chân của ông Pờ Dần Xinh, nhiều con em Hà Nhì đã học tập, trưởng thành, đã đi xa khỏi vùng ngã ba biên giới, về Hà Nội, đem cái chữ về phục vụ bản làng. Đã có những cô giáo người Hà Nhì, đã có những cán bộ biên phòng người Hà Nhì, và đặc biệt hơn, ở Sín Thầu hôm nay đã có cả một nữ cán bộ xã người Hà Nhì còn rất trẻ. Chị Pờ Mỳ Lế, sinh năm 1982, là cô gái đầu tiên nơi ngã ba biên giới tốt nghiệp trung học cơ sở. Chị cũng là nữ Bí thư Đảng ủy xã đầu tiên là người dân tộc thiểu số ở Mường Nhé. Pờ Mỳ Lế chính là con gái của ông Pờ Dần Xinh. Kể về sự học của con, ông Xinh nhớ mãi cảnh cô bé tóc khét cháy đi 200 cây số về Mường Tè để nhặt cái chữ. Mười tuổi mới vào lớp một nhưng Pờ Mỳ Lế vẫn kiên trì theo con chữ, học đến Cao đẳng Kĩ thuật nông, lâm nghiệp. Bây giờ thì cô đã đảm đương vị trí của ông nội, của bố khi xưa, giữ cương vị Bí thư Đảng ủy sang nhiệm kì thứ hai rồi. Đồng hành với cô trong vai trò Phó Bí thư Đảng ủy xã Sín Thầu là một cán bộ biên phòng tăng cường. Anh Lý Hừ Cà, cũng là một người Hà Nhì vốn ở xã Leng Su Sìn, đã có nhiều năm gắn bó với bà con vùng ngã ba biên giới.

Là người con Hà Nhì sinh ra tại Leng Su Sìn, nơi mà hình ảnh những người lính biên phòng đã in sâu đậm qua mấy thế hệ đồng bào, Lý Hừ Cà đã học tập, trưởng thành và trở thành một người lính quân hàm xanh. Được đào tạo bài bản trong quân đội, lại là người bản địa, thông thạo nhiều thứ tiếng nên khi về Đội Vận động quần chúng, Đồn Leng Su Sìn, anh như sợi dây gắn kết giữa các dân tộc nơi đây. Thiếu tá Lý Hừ Cà đã tham gia giải quyết rất hiệu quả những vụ việc mâu thuẫn giữa các dân tộc do tình trạng di cư tự do, tranh chấp đất sản xuất... Những tình huống phát sinh trong cuộc sống như người nhập cư mâu thuẫn với dân bản địa lâu đời, việc phá rừng làm nương rẫy, tranh chấp lối đi chung, mâu thuẫn ngay trong anh em họ hàng, chồng vợ..., bà con đều gọi cán bộ Lý Hừ Cà. Thiếu tá Lý Hừ Cà cũng là người tham gia khảo sát, thực hiện Đề án 79 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc sắp xếp, ổn định người Mông di cư vào Mường Nhé và có những đóng góp xác đáng, đậm tính thực tiễn. Vấn đề được giải quyết khi bản mới của người Mông được tỉnh đầu tư xây dựng. Những ngày bản mới thành lập, Lý Hừ Cà lại là người đầu tiên có mặt để động viên bà con ổn định đời sống, không du canh du cư, tổ chức họp dân, bầu cán bộ cốt cán của bản... Kiên trì suốt một hành trình dài, người đảng viên áo lính ấy đã cùng chính quyền và nhân dân nơi ngã ba biên giới đấu tranh với đói nghèo, lạc hậu dai dẳng, với sự chống phá của các thế lực thù địch. Từ ngày tăng cường về Sín Thầu làm Phó Bí thư Đảng ủy, anh đã góp phần mang lại sự bình yên nơi cực Tây Tổ quốc. Thiếu tá Lý Hừ Cà tâm sự, nhận nhiệm vụ đặc biệt này, anh hiểu, chỉ cần một sự chểnh mảng, hoặc thiếu kinh nghiệm là đánh mất sự chủ động trên địa bàn phụ trách, những truyền thống tốt đẹp các thế hệ biên phòng dày công vun đắp sẽ bị mai một.

Tôi hiểu sự trải lòng của Lý Hà Cừ, bởi những gì đã diễn ra trên mảnh đất này hơn nửa thế kỉ nay. Hình ảnh Lý Hừ Cà chân đi, miệng nói, tay làm, sát cánh vui buồn cùng đồng bào nơi ngã ba biên giới khiến tôi không thể không nhớ đến một người mà hình ảnh của ông đã in đậm nơi vùng biên cương này. Đó chính là một trong những Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên của lực lượng Công an vũ trang trước đây, Bộ đội Biên phòng ngày nay, một cán bộ trẻ tuổi đã cống hiến tuổi xuân và mãi mãi nằm lại nơi này, anh Trần Văn Thọ.

Người dân nơi ngã ba biên giới này từ những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỉ trước đã ghi nhận và tôn vinh một hình tượng sống là chiến sĩ biên phòng Trần Văn Thọ, trong việc đồng cam cộng khổ với người Hà Nhì, từ việc tuyên truyền xóa bỏ tệ nghiện thuốc phiện đến việc hướng dẫn trồng lúa nước, dạy cái chữ cho bà con. Nói thì dễ nhưng để thay đổi những tập tục từ nghìn đời không hề đơn giản. Sự kiên trì, thấu hiểu và chân thành của anh khiến đồng bào cảm phục. Những câu chuyện cảm động về anh Trần Văn Thọ còn được bà con Hà Nhì nơi ngã ba biên giới kể mãi đến bây giờ. Anh đã là người anh hùng trong lòng người dân Hà Nhì từ trước cả khi được truy tặng danh hiệu cao quý ấy khi đã dâng cả cuộc đời mình vì cuộc sống hạnh phúc của đồng bào các dân tộc vùng cao biên giới; là người chiến sĩ biên phòng tiêu biểu trong việc vận động đồng bào Hà Nhì giữ đất, giữ làng.

Một người có nhiều gắn bó với Anh hùng Trần Văn Thọ là bà Chu Chà Me, vốn là người Leng Su Sìn. Bà Me là người được anh Thọ dìu dắt những ngày còn thơ ấu. Người dân Hà Nhì nơi ngã ba biên giới những năm sáu mươi thế kỉ trước sống rải rác trong các cánh rừng hay trên những núi cao quanh năm mây mù bao phủ, chỉ biết phát nương trồng ngô, trồng sắn, săn bắn con thú trong rừng. Ngày ấy, muốn đi vào bản, người ta phải cuốc bộ xuyên rừng, đem theo cơm nắm, nước uống, đi cả chục ngày trèo rừng lội suối. Vùng đất này vào mùa khô, gió Lào thổi như hắt lửa, có những chặng đường đi hết ngày không kiếm nổi một giọt nước, mùa đông gió táp thấu xương. Sau những cơn mưa, đường mòn ở đây bùn ngập đến đầu gối, muỗi vắt nhiều vô kể...

Cuối những năm 50 ấy, vùng ngã ba biên giới này là nơi thâm sơn cùng cốc, nơi giao thoa giữa các thế lực chính trị, giằng co. Đế chế vua Thái tự trị Đèo Văn Long khi đó còn mạnh, lại được Pháp hậu thuẫn nên làm mưa làm gió, nạn phỉ hoành hành khiến người dân luôn sống trong cảnh nơm nớp âu lo. Khi ta giải phóng Điện Biên, cứ bộ đội đánh mạnh thì chúng rút qua bên kia biên giới, bộ đội về chúng lại nống sang lũng đoạn. Ngoài nạn phỉ còn là thú dữ, hổ về bắt mất người. Ta phải điều lực lượng Công an vũ trang vào cắm bản cùng bà con trấn giữ miền biên ải. Các chiến sĩ Đồn 5 Công an vũ trang tỉnh Lai Châu (nay là Đồn Biên phòng Leng Su Sìn) đã xuyên rừng lên nằm vùng, thực hiện 3 cùng với dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), động viên bà con kiên cường tiễu phỉ, cùng đồng bào giữ vững biên cương Tổ quốc. Anh Trần Văn Thọ khi ấy là cán bộ Đội Vận động quần chúng Đồn 5. Quê gốc anh Thọ ở Cẩm Khê, Phú Thọ, sau này nhà anh chuyển lên Trấn Yên, Yên Bái trước khi gia nhập lực lượng Công an vũ trang. Tuổi thơ anh đã gắn bó với hạt lúa, củ khoai, biết cầy cấy, nuôi trồng. Quê anh làm lúa nước, còn ở đây, từ xưa, người Hà Nhì chỉ biết dùng gậy vót nhọn chọc lỗ, tra ngô, tra lúa vào đó rồi để cây cối tự nhiên lớn lên, không cần chăm tưới, dù có nhàn hơn nhưng đổi lại, năng suất ngô, lúa không cao. Có năm rét đậm, rét hại, sương muối xuống trắng rừng, cây cối chết, mùa màng thất bát, bà con Hà Nhì phải vào rừng kiếm củ mài, kiếm rau sống qua ngày. Bà Chu Chà Me kể lại rằng, ngày ấy bà mới 15 tuổi. Anh Thọ cùng các anh trong Đội Vận động quần chúng về bản, đến từng nhà, vận động từng người xuống dựng bản ở gần suối Păng Pơi. Vì sao phải đến gần suối Păng Pơi? Là bởi anh Thọ muốn hướng dẫn bà con làm lúa nước, nhưng bà con còn băn khoăn lo lắng lắm. Làm cái thứ mình chưa bao giờ làm, sống cuộc sống mình chưa từng sống làm sao mà không lo lắng được. Với lại người lạ ở xa đến từ trước chỉ cướp bóc, đánh đập, cưỡng bức, người Hà Nhì phải rút vào sâu trong rừng cũng là vì thế, nay lại có cán bộ vận động xuống núi, lại chìa bàn tay ra giúp khiến bà con không khỏi e dè, nghi ngại. Nhưng anh Thọ đã từng bước hoá giải mối nghi ngại ấy.

Trong một lần về phép, khi trở lại đơn vị, anh Thọ đã lặn lội đi bộ cả tháng trời mang lên một gùi thóc giống. Cùng với đó là chiếc lưỡi cày. Anh chọn địa thế bằng phẳng ven suối, xẻ đất, dẫn nước, đắp bờ tạo hình ruộng để trồng lúa nước. Cách dạy đồng bào tốt nhất là hãy làm cho bà con thấy. Anh gieo mạ, làm đất, cấy lúa. Mảng ruộng ngày một lên xanh như niềm hi vọng lớn dần từng ngày. Năm ấy, lúa do anh trồng bông nặng trĩu hạt và cho thu hoạch cao hơn rất nhiều so với lúa của đồng bào. Trong những câu chuyện tâm tình, anh kể cho bà con nghe về những cánh đồng, thửa ruộng ở quê anh, từ từ bà con làm theo. Từ đó người Hà Nhì đã có thói quen trồng lúa nước. Anh Thọ cùng các chiến sĩ trong Đội Vận động quần chúng giúp dân sửa nhà, mang ống tre xuống suối lấy nước, mang hạt muối, chăn ấm, quần áo chia sẻ với bà con. Bản mới được anh đặt tên là Đoàn Kết để nhắc nhở đồng bào luôn đùm bọc, yêu thương nhau. Trước sự tận tụy của anh, cảm được tấm lòng của anh nên bà con làm theo, cuộc sống cứ thế mà từng bước thay đổi. Xong trồng cấy anh cùng đồng đội lại bắt tay vào đuổi con ma thuốc phiện, đuổi xong con ma thuốc phiện thì tính chuyện đưa trẻ em đến trường. Bản làng vui tươi, ngày tết trẻ con vào đồn chơi cùng các chú, anh Thọ chia kẹo, dạy múa hát cho các em. Bà Chu Chà Me chính là lứa học sinh đầu tiên ấy của đồng bào Hà Nhì được đến lớp, rồi ra tỉnh học. Bà còn được đại diện hoc sinh dân tộc thiểu số đi đón Bác Hồ, được về Hà Nội gặp Bác một lần nữa. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Việt Bắc bà Chu Chà Me về dạy học tại Điện Biên, sau đó bà về Ban Dân tộc tỉnh rồi làm ở Ban Phát thanh tiếng dân tộc của Đài Phát thanh Truyền hình Lai Châu.

Điều khiến bà Chu Chà Me day dứt mãi đó là, khi cuộc sống mới đã ổn định, người Hà Nhì đã nhận ra lợi ích của việc trồng lúa nước, của những việc cán bộ Thọ chỉ dạy cũng là lúc đồng bào Leng Su Sìn mãi mãi mất đi người cán bộ biên phòng mà giờ đây họ đã coi như ruột thịt. Sau những tháng ngày dầm mưa dãi nắng, trong sự khắc nghiệt của rừng thiêng nước độc, anh Trần Văn Thọ đã không thể chiến thắng căn bệnh sốt rét ác tính. Người dân Leng Su Sìn vẫn nhớ, năm anh Thọ hi sinh là năm 1961, khi anh mới vừa tròn 26 tuổi. Ơn của anh Thọ với dân bản to như núi, chẳng bao giờ trả hết được... Mãi về sau này, bà Chu Chà Me vẫn nói với những người Hà Nhì thế hệ sau như thế.

Di cốt của anh sau đó được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Lai Hà nhưng bà con Hà Nhì ở Leng Su Sìn vẫn đắp lại ngôi mộ nơi anh đã từng nằm xuống để tưởng nhớ người con của bản. Ngày Trần Văn Thọ ra đi, mỗi người Hà Nhì đắp lên ngôi mộ anh một viên đá, thế mà ngôi mộ thành cao nhất trong những ngôi mộ của đồng bào. Di cốt đã chuyển đi nhưng ngôi mộ đá bà con vẫn giữ lại, từng viên đá vẫn được vun cao bởi những bàn tay người già, trẻ em bản Đoàn Kết và bà con Hà Nhì nơi ngã ba biên giới. Bữa cơm đầu tiên của mỗi vụ lúa mới, bà con Hà Nhì đều mang lên mộ anh để hương thơm của bát cơm lúa mới hòa vào lòng đất nơi anh yên nghỉ. Đến ngày giỗ anh Thọ, mỗi gia đình đều đem đến mộ anh một sản vật thắp hương để tỏ lòng tri ân. Ngày 1/1/1967, Nhà nước đã truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho anh Trần Văn Thọ. Anh đã trở thành 1 trong 5 người Anh hùng đầu tiên của lực lượng Công an vũ trang, sau này là lực lượng Biên phòng. Hiện nay ở Leng Su Sìn, Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Trần Văn Thọ đã được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng xây dựng năm 2016, nằm giáp Đồn Biên phòng Leng Su Sìn, trên tuyến đường di chuyển đến lối mở A Pa Chải.

Từ những năm sáu mươi của thế kỉ trước, những người lính biên phòng mà khi ấy là lực lượng công an vũ trang đã gắn bó với bà con nơi đây. Hôm nay, các chiến sĩ biên phòng nơi dải biên cương này vẫn tiếp tục những công việc năm xưa của người đi trước như một tấm gương tỏa sáng. Lịch sử xa xôi thực ra vẫn nối liền như một dòng chảy không ngừng, ở đầu dòng chảy ấy là liệt sĩ Trần Văn Thọ, còn ở thì hiện tại hôm nay là Thiếu tá Lý Hừ Cà bằng xương bằng thịt đang hiện hữu trước mắt tôi. Nơi ngã ba biên giới đã đổi thay nhiều, có lẽ chỉ có gió Lào là vẫn thế. Gió vẫn ràn rạt thổi, mùa hè thì như táp lửa, mùa đông như quất roi. Giữa trận hàn thu phong nơi đây, các thế hệ người lính biên phòng vẫn thay nhau nghênh diện, năm tháng trôi đi để đổi lấy sắc hồng trên gò má em thơ, niềm vui trong ánh mắt người già Hà Nhì, để đổi lấy màu xanh của lúa, của ngô khoai, để giữ lấy màu xanh của rừng, sau ngàn đời vẫn xanh như thế.

* * *

Đêm ở A Pa Chải. Tôi ngồi bên Trung tá Đoàn Thanh Tuấn trong cái se lạnh đầu đông miền biên viễn. Trong câu chuyện về Anh hùng Trần Văn Thọ, Tuấn bảo sẽ cung cấp thêm thông tin cho tôi để tìm hiểu viết bài. Và người mà Tuấn giới thiệu khiến tôi ngỡ ngàng, chị Chu Thùy Liên, Phó Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên. Tôi ngờ ngợ khi nghe đến cái tên này, và liên tưởng ấy đã đúng. Chị Chu Thùy Liên chính là nhà thơ Chu Thùy Liên, từng giữ cương vị Phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên, người mà tôi đã có dịp biết đến. Chị Liên cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, có tác phẩm được tuyển chọn vào sách giáo khoa. Chị Chu Thùy Liên chính là con gái của bà Chu Chà Me, cô gái Hà Nhì năm xưa được anh Trần Văn Thọ cưu mang dạy dỗ, cũng là người đã mang tiếng Hà Nhì đi xa. Bà Chu Chà Me lấy chồng là người Kinh, dù đặt tên con theo tiếng phổ thông nhưng chị Chu Thùy Liên vẫn có một cái tên Hà Nhì nữa là Chu Tá Nộ. Như một mối duyên, sau này chị Liên xây dựng gia đình, anh Phạm Bá Lanh chồng chị cũng là cán bộ biên phòng, trước khi nghỉ hưu anh mang hàm đại tá, giữ chức Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Điện Biên. Tiếp nối sự nghiệp của bà Chu Chà Me, chị Chu Thùy Liên sau thời gian làm lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật tỉnh cũng về làm Phó ban Dân tộc tỉnh Điện Biên và nghỉ hưu tại đây. Chị Liên là thạc sĩ văn hóa, đã xuất bản nhiều đầu sách trong đó có những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa Hà Nhì. Nếu như mẹ chị là người đưa tiếng Hà Nhì lên sóng phát thanh thì chị là người lan tỏa những nét đẹp tâm hồn người Hà Nhì đến bạn đọc gần xa qua những áng văn thơ. Một bài thơ của chị Chu Thùy Liên được đưa vào sách giáo khoa, bộ Cánh diều, có những câu: Cành mận bung cánh trắng muốt/ Giục mẹ xôn xang lá gạo/ Giục cha vui lòng căng cánh nỏ/ Giục người già bản hối hả làm đu... Hiện chị Chu Thuỳ Liên là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Điện Biên.

Sau đó, khi kết nối với chị Chu Thùy Liên, chị cho tôi biết, các con của bà Chu Chà Me sau này đều được đi học, trưởng thành và làm việc trong lực lượng vũ trang và các cơ quan nhà nước tại Điện Biên. Một người em trai của chị là anh Chu Trần Việt công tác trong lực lượng biên phòng nay đã nghỉ hưu, một người em trai khác là anh Chu Trần Nam hiện là Phó chính uỷ Trung đoàn 82 tại Điện Biên. Bản thân chị rất gần gũi và thân thiết với bộ đội biên phòng, làm ở Ban Dân tộc tỉnh, trong những chuyến về công tác tại vùng biên chị luôn được các chiến sĩ biên phòng đón tiếp, giúp đỡ thịnh tình như người nhà.

Đoàn Thanh Tuấn cũng kể với tôi như vậy.

Câu chuyện vùng biên giữa tôi và Trung tá Đoàn Thanh Tuấn bên chén rượu thơm nồng. Không có bếp lửa bập bùng như hình ảnh những người lính biên phòng rẻo cao năm xưa trong thơ Trần Đăng Khoa những mùa đi thăm thẳm/ trong mung lung chiều tà/ Biết bao người lính trẻ/ Cứ lặng thinh mà già, không có cái mơ màng của người lính biên phòng cùng ta nâng chén/ người xa nhà rượu ngô như lửa đêm đông trong thơ Nguyễn Linh Khiếu. Doanh trại sáng đèn, những tán lá ban rung rinh xoe tròn hứng trăng khuya nhấp nhóa. Đêm về khuya và ánh trăng như dịu lại khi được thanh lọc bởi tiết trời trở giá. Người lính lục quân chuyển loại chính trị ngồi bên tôi lặng lẽ hút thuốc. Nước da ám sương gió biên thùy. Vẻ mặt như là ưu tư. Chính những người như các anh đã góp phần gìn giữ văn hóa của đồng bào, đồng hành với bà con Hà Nhì nơi đây bảo tồn và phát triển các giá trị tự ngàn đời. Những làn khói thuốc quẩn như sương nhòa hiện trước mắt tôi. Dưới khoảng rừng trống hoang vu, gió lại cào cuột thổi…

Điện Biên là tên gọi do vua Thiệu Trị đặt năm 1841 cho 3 châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu. Theo đó Điện có nghĩa là vững chãi, Biên là vùng biên giới, biên ải. Phủ Điện Biên ngày ấy đã thành tên gọi Điện Biên Phủ sau này. Còn Mường Nhé, dù đã cố gắng nhưng tôi vẫn chưa tìm ra ý nghĩa của tên gọi. Tạm biệt vùng ngã ba biên giới, xe chúng tôi chạy về Điên Biên Phủ theo quốc lộ 4H. Lướt qua những núi đồi, những bản làng mới, những màu xanh và cả những khoảng đồi trọc loang lổ, sau lưng tôi, A Pa Chải vẫn ràn rạt gió.

Tháng 11/2024

N.X.T

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)