. HÀ MINH HƯNG
1.
Dựng chiếc “Min khờ” vào thân cây táu già thân hằn vài vết móng táp, thấy tôi tần ngần nhìn những vết sẹo cũ đã đóng vẩy thành những đường gân sám, A Lử khều tay tôi ra hiệu đi lên nhà. Chúng tôi bước qua năm bậc đá, theo lối dẫn lên căn nhà trình tường thấp bé như vẫn còn run trong đêm mù sương.
- Rìa rừng ven bản chắc đã yên.
A Lử liếc mắt, nhìn những vết cào, gật đầu.
Tôi đặt chiếc balo lô vào góc nhà, mới gần một năm sống ở trạm bìa rừng, nếu không có A Lử thi thoảng lui tới, tôi cũng quên mất cái bản nhỏ gần trạm. Nói là gần nhưng cũng phải đi bộ nửa ngày đường. Ngày xung phong về trạm quản lí bảo vệ rừng, tôi chưa mường tượng được sự vắng vẻ, u tịch nơi đây. Ngoài trạm trưởng, chỉ có một đồng chí nữa và tôi. Hạt kiểm lâm khu vực thì cách đó một con suối, vòng qua một con đường nhỏ ven núi, đi về phía con lộ nên khá cách biệt. Ngày nhận được tin dân làng bắn hạ con hổ đực trưởng thành, tôi được phân công vào bản cùng hai đồng chí bên hạt kiểm lâm. Trước mặt tôi, người thanh niên dân tộc ngồi thẳng đừ trên ghế, hai tay buông thõng, trả lời nhát gừng từng câu hỏi. Đôi lúc hắn quay sang tôi trân trân. Tôi lặng lẽ quay đi. Hắn nhếch mép cười, như thì thầm bằng mắt: đừng làm bộ làm tịch, chúng ta lạ quái gì nhau. Tôi tiếp tục ghi những câu trả lời cụt lủn vào bản tường trình. Còn hắn thản nhiên trả lời, lúc đầu rời rạc, sau đó ngày càng hăng lên. “Rừng thuộc về thần rừng, chẳng phải của bất cứ ai, cũng chẳng phải của các ông”. “Tôi bắn con hổ vì nó phá bản tôi, bắt trâu bò của tôi. Từ cái đêm nó lởn vởn, dân bản Sín Chải không còn ngủ yên. Không hạ nó, thì biết làm sao”. “Tôi không bắn nó thì nó giết người bản.”

Minh hoạ: Đỗ Dũng
Tôi phải ra sức giải thích rằng, đáng lẽ anh phải báo kiểm lâm, và quản lí rừng, đó là trách nhiệm của chúng tôi. Chúng tôi bảo vệ dân làng, cũng bảo vệ cả động vật hoang dã; rằng nguyên nhân con hổ vào làng là do đám cháy rừng do bà con làm rẫy, lan sang vùng sinh sống của nó.
Gã uể oải chỉ về phía cây táu.
- Cán bộ ra nhìn cái vết táp trên cây đi.
Gã chỉ biết nói có thế, chẳng có lí lẽ gì hết. Cái vết táp đó là minh chứng, là dấu chấm kết thúc cho bản tường trình chiều nay, về sự hung dữ và nguy hiểm của con hổ làm cho người Sín Chải bao ngày qua không được yên. Sau đó, gã chỉ lầm lì nhìn về phía cửa.
Phía ấy, người thanh niên khác trẻ hơn đang đứng thập thò. Thoáng thấy bóng tôi, người thanh niên hơi sững lại. Mãi rồi bản tường trình cũng được hoàn thành.
Khi gã đứng dậy, tôi đuổi theo, vỗ vào vai hắn:
- A Sung.
Hắn dữ dằn hất tay tôi ra:
- Tôi với cán bộ quen biết quái gì nhau.
Người thanh niên thập thò lúc này nhao ra ôm lấy vai tôi:
- Trời ơi, Kim. Mày quay lại sao?
- Thôi đi, nó là người khác, không phải thằng Kim đâu. Xong việc rồi, tôi xin phép đi được chưa cán bộ?
Tôi lặng nhìn người thanh niên cao lớn đi nhanh về phía con dốc, thoáng chốc đã khuất bóng.
Thằng A Sung nhanh như sóc, rất khỏe, bắn súng cao su trăm phát trăm trúng. Tôi gặp nó lần đầu khi cùng đám bạn lên rừng tìm mật ong và bị lạc đường. Ngày ấy, mẹ tôi mới mất, bố tôi chuyển công tác từ cơ sở kiểm lâm trung ương dưới thành phố lên nằm vùng cơ sở ngay gần bản Sín Chải này. Công việc buộc ông phải ở lại trạm, còn tôi được gửi vào trường dân tộc nội trú. Bố bảo: thôi chịu khó đi theo bố, hai bố con được gần nhau, chứ ở với ông bà, cô bác, chưa biết khi nào bố về thăm con được. Từ một thiếu niên thành phố, tôi phải làm quen với không gian và nhịp sống giữa núi rừng. Một thằng nhóc da trắng bệch, gầy nhẳng nhưng đầy tò mò là tôi đã lang thang trong khu rừng vắng vẻ. Bụp! Một con chim rơi thẳng xuống chân tôi như một hòn đá bị ai lẳng xuống. Ngay lập tức, một thiếu niên vận quần áo người Mông xuất hiện trước mặt, theo sau là một thằng nhóc nhỏ hơn. Nó cầm theo cái súng cao su, nhìn tôi rồi lầm lì tiến sát đến nhặt con chim đã chết. Giáp mặt với tôi, đôi mắt nó sắc lạnh rồi quay người đi không nói một câu. Thằng nhỏ con hơn có khuôn mặt tròn khá hiền. Nó nhanh chóng bước theo thằng lớn. Một đoạn nó quay lại: “Mày mới đến à? Bị lạc phải không? Bám theo chúng tao”. Từ đó, tôi thân với chúng, A Sung và A Lử. Bọn trẻ con kết thân với nhau rất nhanh. Chúng tôi cùng lớn lên trong trường dân tộc nội trú, cùng nhau khám phá những ngóc ngách của khu rừng ngay sau trường. A Lử là em họ A Sung. Hai đứa hoàn toàn trái ngược nhau, A Sung lạnh lùng khó gần. A Lử lại là một đứa rất thân thiện và có phần hơi yếu đuối. Thằng A Sung tuy có vẻ ngoài ngang ngược và lạnh lùng, nhưng lại là đứa tình cảm nhất. Nó bảo vệ hai đứa tôi như một người anh lớn. Bằng sự khỏe mạnh, nó luôn giúp chúng tôi những việc kê bàn hay đi gánh nước mỗi phiên được phân công. Có đợt tôi bị phạt gánh nước và chép nội quy một tuần sau khi trốn ra ngoài và nói dối thầy chủ nhiệm khó tính. Gánh được hai hôm tôi lăn ra ốm, thằng A Sung đã thay tôi chịu phần phạt còn lại. Với tôi, A Sung và A Lử là cả kí ức thuở niên thiếu.
Ngày bố tôi thôi công tác ở trạm kiểm lâm, chuyển khỏi trường dân tộc nội trú, tôi đã khóc tức tưởi như một đứa con gái vì xa hai đứa nó. A Sung và A Lử chạy theo xe của tôi, như hai con sóc đất cho đến khi khuất bóng. Những tưởng chẳng thể quên, nhưng rồi thời gian cũng làm nhạt dần kí ức. Tôi đi học dưới thành phố, rồi học đại học. Ra trường, nối nghiệp bố quay lại nơi đất cũ, tôi chẳng rõ lòng mình đã mai một đi, hay những lớp bụi thời gian đã khiến tôi cằn cỗi, vô tâm hơn, hoặc đơn giản chỉ vì guồng quay công việc của một người trưởng thành mà tôi chưa vội đi tìm hai thằng bạn xưa ngay, còn lần chần thì gặp lại A Sung và A Lử trong tình huống đó.
Thằng A Sung vẫn giận tôi lắm. Mấy lần A Lử tới trạm tìm tôi, nó chỉ đi một mình. Hoặc có lần tôi đến nhà A Lử thì A Sung đang ở đấy cũng lấy lí do rồi đứng dậy bỏ về. Tôi gọi: “A Sung”. Nó quay lại nhìn một cách hờ hững rồi thản nhiên bước đi. Mấy hôm vừa rồi, nghe tin bố tôi đau ốm, tôi xin nghỉ phép. Ngày trở lại, A Lử đi chiếc Min khờ đến đón tôi. Tâm trạng nó có vẻ nặng nề.
Đêm đó, A Lử thiếp đi bên bếp lửa, giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng, chỉ còn tiếng củi khô lép bép cháy. Nhưng giấc ngủ chẳng hề êm. Tôi thấy nó mơ ú ớ.
Sáng dậy, nó thuật lại cho tôi giấc mơ ấy. Trong cơn mơ chập chờn, tua tủa những đốm trắng lóa hiện ra, như muôn ngàn con mắt đỏ rực tựa hòn than cháy âm ỉ trong đêm u tịch của núi rừng. “Đoàng… đoàng…”, … tiếng nổ dội vào vách núi như sấm giữa đêm đông. Tứ phía, bầy thú dữ lao ra, nanh vuốt loang loáng ánh sáng của ma trơi. Cả khu rừng rung chuyển, lá cây rào rào trút xuống. Giữa cơn hỗn loạn, hai phát súng kíp chát chúa vang lên, xé toạc màn đêm đen đặc. Cảnh vật bỗng đổi khác. Trống nổi lên từng hồi trầm đục, khèn cất lời tiễn biệt ai oán; âm thanh uốn lượn qua núi đồi, mỏng dần như dải khói lam chiều. Chỉ còn lại trước mắt A Lử lễ cúng rừng đầu xuân. Thầy mo khoác áo chàm sẫm, đầu vấn khăn vải đen buông dải sau gáy.
Rừng thiêng lặng như nín thở, thầy cúng khẽ nhấc con gà trống lên ngang ngực. Con gà lông đỏ au, chân buộc bằng sợi lanh. Thầy lẩm nhẩm khấn gọi thần rừng, thần núi, xin nhận lễ của bản. Cật nứa sắc lẹm “xoẹt” một nhát cắt gọn nơi cổ gà, dòng tiết đỏ ấm chảy vào chiếc bát đặt trên tảng đá phủ rêu. Thầy cúng dùng đầu cành lá rừng chấm vào bát tiết, vẩy vài giọt xuống gốc cây cổ thụ, gửi lời mời thần linh về chứng lễ. Khói hương bảng lảng quyện mùi đất ẩm. Tay nâng bó hương nghi ngút khói, thầy mo bước đi chậm rãi, khoan thai, như đang dẫn lời khấn nguyện gửi cõi trên. Tiếng trống thúc liên hồi, dồn dập, chậm dần, hạ âm rồi lắng xuống. Lời thầy mo cất lên, trầm hùng mà thành kính: “Ai trái lời thề với rừng, thần rừng nổi giận, con cháu muôn đời phải chịu khổ…”.
“Rầm”, mâm lễ biến thành những chiếc sọ người xám ngắt. Tứ phía thốc lên đặc mùi máu tanh. Không còn cảnh cúng rừng mà lớp lớp người phủ phục cúng hồn ma đói. Những linh hồn thú rừng chết oan, những người ngã xuống vì súng kíp, và thú lớn lũ lượt lổm ngổm bò ra từ bóng tối, mắt trắng dã, tứ chi dài ngoằng như chân nhện hua loạt soạt trên mặt đất như muốn giành lấy từng hạt cơm trong bát. Thầy mo đổi giọng, không còn trầm hùng mà réo rắt, nghèn nghẹn nơi cổ họng: “Hồn ai còn vất vưởng thì về đây! Về mà nhận lửa, nhận cơm, nhận nước. Về đây, đừng lang thang nữa…”.
Hai đầu gối A Lử run muốn nhũn xuống. Tiếng gọi hồn kéo dài như gió hú vút ra từ khe đá. Bỗng chốc, trước mặt A Lử hiện ra thân hình một thiếu phụ, mặt cháy nham nhở. Trên khuôn mặt đen sì như than cháy dở, trong khóe miệng kia ánh lên rõ mồn một chiếc răng bọc vàng. Những cánh tay hua hua chấp chới, nhưng phút chốc vỡ vụn như tro tàn gặp gió. A Lử ngoái nhìn lại phía sau, chợt bắt gặp dáng một người đàn ông trông quen lắm. Khuôn mặt be bét máu, hai tay khư khư ôm cái bụng trương phình, ruột lòi ra lê lết, máu đỏ lòm. Phía sau ông ta, lổn ngổn bóng thú rừng: gấu, nai, hoẵng, hươu, lợn rừng… Con nào cũng hóa thành quỷ giương nanh, trợn mắt, chen lấn xông lên cùng tranh nhau cái mạng tơ tướp ấy. Giữa vòng vây của muôn thú, A Lử lại thấy A Sung ôm cây súng kíp nặng trĩu như đeo đá. Muôn ánh mắt thú đỏ đọc dồn về phía A Sung, hằn học. A Lử muốn hét lên giải cứu A Sung, nhưng cổ họng nghẹt cứng, chân tay như bị xiềng xích. Mọi thứ trước mắt quay cuồng, lớp hình ảnh sau cùng dần trôi xa, nhòe đi như thước phim thiếu ánh sáng.
2.
Chiều cuối tuần, cổng trường dân tộc nội trú huyện bỗng rộn hẳn lên, tiếng nói cười tíu tít hòa vào bước chân của đám trò vùng cao. Con đường nhựa vắt qua lưng núi như sợi chỉ nối trường học đến những bản làng xa. A Lử đứng nép một bên cánh cổng, cặp sách khư khư trong tay, mắt cậu ngóng xa xăm. Từ dốc núi, A Sung thở hổng hộc đi bộ lên. Vẻ lầm lì vẫn trên gương mặt rám nắng.
Tôi và A Lử theo sau A Sung. Núi chập chùng, mây quấn quýt như sống váy cô gái mèo trong hội Gầu Tào. Những nếp nhà thưng gỗ, nhà trình tường ẩn hiện trong khói chiều vướng vít. Từ xa, tiếng mõ trâu lốc cốc vọng qua sườn núi, tiếng chó bản lanh lảnh sủa vang mỗi khi có người lạ - những âm thanh quen thuộc của mỗi buổi chiều về bản. Đâu đó, tiếng khèn Mông dìu dặt, khi ngân nga, lúc lại réo rắt, như sợi chỉ nối kí ức với thực tại.
Ngày ấy, tôi và A Lử thường trốn học theo A Sung vào rừng đào củ mài, săn chim, lội suối bắt cá bống. Lúc mệt thì nằm ngửa giữa nương ngô, ngắm bầu trời cao xanh có mây trắng trôi lững lờ trôi như khói bếp. Mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, ba đứa co ro bên bờ suối, nhóm lửa hơ tay. Trên than hồng, mùi cá nướng ướp mắc khén thơm nức mũi, thịt dúi xèo xèo cháy cạnh thơm ngậy khiến bụng réo lên cồn cào. Những kỉ niệm ấy ùa về trong tôi như than hồng vùi trong bếp lửa, càng khơi lại càng bừng sáng, sưởi ấm cả kí ức tuổi thơ dữ dội. Tôi vẫn chưa quên, tất cả vẫn vẹn nguyên dưới lớp bụi thời gian.
Tôi đến nhà A Sung vào chiều muộn. Ngồi trước mặt nó, tôi chưa biết nói gì, chỉ im lặng nhìn lên bàn thờ. Những con người đã khuất dõi cái nhìn câm lặng từ trên cao xuống. Tôi nhấc bát lên, uống cạn, nhìn người đàn ông nhiều nét khắc khổ, bất cần và lạnh lùng. Tôi nói khẽ “A Sung, mày đâu phải chỉ biết săn thú. Còn nhiều việc có ích ở bản mà mày dư sức làm. Mày vốn là người luôn muốn bảo vệ cơ mà. Mày cũng hiểu gốc của ấm no là nuôi trồng chứ không phải bắn phá”. Giờ đây, tôi mới là người tường trình, còn A Sung giống như kẻ im lặng lắng nghe. “Mày biết bố mẹ mày sẽ không muốn như thế này, phải không?” A Sung nhìn theo ánh mắt tôi, hướng về phía bàn thờ. Nó ngửa cổ uống nốt bát rượu. Người ở bản, uống hết bát rượu là bỏ qua hết những điều không không mong muốn đã qua.
3.
Mấy tuần nay, cái loa của bản cứ reo réo truyền tin của ban quản lí bảo vệ rừng cấm săn bắn, thu gom súng tự chế, vật liệu nổ. Người già bản này bảo: Tuyên truyền thế thôi. Chứ cấm sao nổi! Núi rừng Sín Chải rộng lắm, bao nhiêu lối mòn còn in dấu chân thú, đâu dễ mà bỏ.
Đã lâu lắm, cây súng của A Sung vẫn nằm im chưa một lần khai hỏa. Nó có vẻ đã xuôi lời tôi. Cây súng ấy treo trên vách gỗ, báng làm từ thân gỗ nghiến già đã hong khói bếp sẫm màu, nòng súng nhẵn thín vì bao lần bàn tay người cầm nắm. Với trai bản Sín Chải, súng kíp là niềm tự hào. Được vác súng vào rừng săn thú cũng đồng nghĩa với việc bước qua ngưỡng trưởng thành, như tiếng khèn vang lên trong ngày hội bản.
Hôm ấy, tôi hẹn A Sung và A Lử cùng vào rừng. Đã lâu lắm rồi, ba thằng không cùng đi, nướng cá bên bờ suối như dạo xưa. Sáng sớm, sương còn đọng trên lá ngô lấp lánh nom giống hạt cườm, chúng tôi tất bật sửa soạn. A Sung đeo trên vai chiếc túi vải chàm đựng và gói cơm nếp bọc lá dong, bên sườn dắt con dao quắm ánh thép sáng lạnh. A Lử và tôi cùng theo sau, đôi mắt sáng như ánh sao đầu bản. Sau nửa ngày cuốc bộ, ba thằng bước vào rừng già Sín Chải. Tán cây cổ thụ vươn cao, che kín bầu trời, chỉ lọt vài vệt nắng mỏng manh sắc lẹm. Mùi đất ẩm ngai ngái, hương hoa rừng phảng phất trong gió. Chim chuyền cành ríu rít, tiếng gió luồn qua ngàn lá như tiếng khèn ai gọi bạn tình từ thung sâu.
Đoàng… phát súng vang lên, dội vào vách núi, lũ chim rừng tán loạn bay. “Bịch” con gà rừng phải đạn rơi xuống, đôi cánh sặc sỡ quẫy lên những nhịp cuối cùng rồi gục xuống, lông ánh vàng rực như tàn lửa rơi vào thảm lá mục. Tôi giật bắn mình, phát hiện ra cái túi chàm A Sung mang theo là súng. Nó đã lặng lẽ lôi ra từ lúc nào. Cảnh đó khiến A Lử rùng mình. Ánh lửa đâu đó trong hồi ức hay trong giấc mơ hôm nào chợt bừng lên. “Mỗi linh hồn thú rừng đều để tiếng kêu lại trong lòng núi. Giết nhiều thú, thần núi sẽ nổi giận, lở đất, sạt nương, lũ ống...”. Lời nói trong giấc mơ như hiện lên trong đôi mắt bàng hoàng của A Lử mà tôi vừa kịp đọc được. Chưa kịp định thần, A Sung suỵt khẽ, ánh mắt sắc lạnh, ám hiệu im lặng. Mắt A Sung vằn lên như đại bàng vừa khóa chặt một con mồi yếu thế giữa rừng già. Trên phiến đá phủ rêu xanh, khỉ mẹ đang cho con bú. Con khỉ mẹ lông xơ xác, trốc lở, cái bụng và hai bầu ti cùng chảy xệ xuống. Nó đưa bàn tay có những móng đen nhẻm nhẹ nhàng, âu yếm ôm lấy khỉ con lông vàng mượt óng. Đôi mắt nó hiền như mắt người đàn bà bản ôm con trong tấm chăn thổ cẩm. Khỉ bố ngồi cạnh, thỉnh thoảng đưa lá cây cho bạn đời. Gia đình khỉ đang có vẻ thảnh thơi chẳng chút đề phòng. Một cảnh tượng bình yên đến nao lòng.
Bất giác, nòng súng chĩa thẳng. Mũi súng chúi xuống, tiếng nổ “Đo…à…ng!” vang rền, dội vào vách núi như tiếng sấm. Khoảnh rừng tĩnh lặng bỗng vỡ toang. Đạn hoa cải tóe ra phầm phập cắm vào thân cây lớn. Lá rừng rơi lả tả như mưa đá. Bầy khỉ thảng thốt, tán loạn rồi biến mất trong tầng lá rậm rịt. A Sung chưa bao giờ bắn trượt. Trong người nó chảy dòng máu của người thợ săn cừ khôi và tinh tường nhất bản. Trong khoảnh khắc A Sung như biến thành con người khác. Khuôn mặt đỏ bầm, trên đó là đôi mắt dữ tợn vằn lên như sự ai oán.
- Sao mày làm thế. Dám kéo nòng súng của tao? A Sung gầm lên, giọng như sấm cuộn.
Tôi đứng lặng im, cảm giác báng súng của nó sẵn sàng trực phang vào một bên mặt mình. Tôi như thấy miệng mình ngậm cả một bụm máu. “Mày vẫn vậy, A Sung. Mày vẫn không tử bỏ nổi thú tính hoang dại của mày.”
A Lử thụp xuống trước cuộc đôi co căng thẳng của chúng tôi, run rẩy như chiếc lá non trước gió. Khuôn mặt tái nhợt, giọng lạc đi:
- A Sung đừng. Em không muốn khỉ con mất mẹ. Bố mẹ khỉ chết rồi… như A Sung thôi.
Trong đôi mắt A Lử ầng ậc chứa cả bóng núi. A Sung cứng người, ngồi bệt xuống đất rồi lặng thinh. Gió rừng thoảng qua, mang theo mùi ngai ngái của cỏ lá, mùi nhựa cây rỉ chảy. Tôi biết nó đang chênh chao giữa bản năng một thợ săn và sự thiện lương. Tôi vỗ mạnh một bên vai nó. Một lúc rất lâu, A Sung lặng lẽ đứng dậy:
- Về thôi…
Tiếng thở dài dội vào vách núi, nghe như lời thú nhận, như dấu chấm hết cho một niềm kiêu hãnh cũ kĩ đang dần nhạt giữa đại ngàn. Tôi và A Lử đi sau, mỏi mệt như hai kẻ đưa đám âm thầm.
4.
Trên đường về, hai phát súng kíp năm nào lại dội về. Tiếng súng báo hiệu bản Sín Chải có chuyện. Chuyện gì đây? Thường lệ, súng bắn hai phát nghĩa là bản có người chết mà là đàn bà, còn nam giới chết phải là ba phát biểu hiện cho trụ cột trong gia đình, phân biệt hai phát để chỉ sự vuông tròn, hòa thuận của phụ nữ Mông.
Bước chân rầm rập chạy đến nhà A Sung mỗi lúc một đông. Có việc gì nhỉ, qua bố nó vẫn vào rừng săn thú rồi về uống rượu thắng cố với đám phường săn ở chợ phiên mà, mọi người nháo nhác. Đất Sìn Chải này ai chẳng biết bố A Sung là tay săn cừ phách, bao thú lớn, thú nhỏ bị hạ dưới mũi súng của ông. Các phường săn mỗi khi nói chuyện săn bắn là cái tên của bố nó lại mang ra bàn luận, bố A Sung là niềm kiêu hãnh và mơ ước của bất cứ thằng trai bản nào muốn ra dáng trưởng thành. Đám trẻ Sín Chải mê đến nhà A Sung chơi để được mân mê, vuốt ve những cái đầu hươu, sừng sơn dương, nanh gấu, lợn rừng trắng muốt. Rừng Sín Chải ngày càng vắng bóng thú, đến tiếng chim hót ngày một thưa dần. Phong trào đeo súng vào rừng và treo súng trên vách nhà lớn như một biểu tượng cho vị thế của gia chủ, rằng nhà này có người trưởng thành biết săn bắn, có thể gánh vác những việc lớn cho cộng đồng. Thứ gỗ để làm báng phải là gỗ nghiến già móc trên đỉnh Sín Chải quanh năm sương gió. Nòng súng được chế tác hoàn toàn bằng tay, phải là loại thép tốt, tôi lửa tới, than thổi rực đủ nhiệt, cứ thế từ từ mà khoan đặc. Đạn dùng cho súng kíp không khó, là loại bi xe đạp hỏng, nhưng để bi chạy ra khỏi nòng với một sức mạnh như gió phải nhờ vào thuốc nổ. Thứ này nghe đâu phải qua bên kia biên giới mới có hàng, nhưng phải khách quen họ mới bán.
Dân bản vẫn rỉ tai nhau về hai từ nghiệp chướng. Chẳng ai nói ra một cách công khai, nhưng tất cả đều chung nỗi lo sợ mơ hồ. Họ hoang mang khi thấy những người thợ săn chết trên rừng như một sự ứng nghiệp. Nỗi hoang mang lan theo ánh mắt từ người này sang người khác, gặm nhẫm, ăn mòn dần niềm tin của họ. Thú rừng đều có linh hồn, giết hại nhiều, thần rừng sẽ nổi giận.
Hôm ấy chợ phiên đông như thường lệ, bố A Sung đi biên về gặp mẹ nó đang lúi húi mua hàng. Ông liền đưa cái túi chàm bảo mẹ A Sung đeo vào, dặn mang về cất ngay vào chỗ cũ. Bố A Sung đủng đỉnh đi vào hàng thắng cố uống rượu với đám bạn phường săn. Mẹ A Sung về đến cổng, thấy trong bếp khói lửa lách tách bén lên mái, vội chạy vào dập. Chưa kịp khống chế, một luồng sáng xanh lét lóe lên như tia chớp, khói mù đặc quánh bao trùm cả gian bếp. Mẹ A Sung lập tức được đưa xuống bệnh viện huyện, rồi chuyển gấp lên tuyến trên. Nguyên do là em trai A Sung đang nấu cám lợn, mải chơi bỏ đi, quên rút củi, để lửa bén cháy lan. Mẹ A Sung cuống cuồng chạy vào dập, không hay gói thuốc súng bố trao sáng nay vẫn còn trong túi chàm, gặp lửa phát hỏa và bị thiêu sống.
Ngày làm ma tươi mẹ A Sung, cả bản ai cũng xót. Bố A Sung cả ngày rượu bát uống khan, A Sung mắt hoe đỏ nhòe đi trong lời khèn chỉ đường: “Đừng quay lại nương ngô, đừng tìm về bếp cũ, vì lửa dương gian đã tắt, chỉ còn tro mờ/ Hãy đi qua ba ngả núi, chọn lối có ánh sáng/ Hãy men theo dòng suối trong, nước chảy về mường tổ/ Qua cổng đá, qua bậc trời, sẽ có người thân đón/ Nơi đó bếp tổ tiên còn đỏ than, còn nghi ngút khói chờ…”.
Trống nổi, khèn ngân, quan tài nhấc trên vai đám trai bản, vừa chạy vừa hò hét. Tiếng trống mỗi lúc một dồn dập giục người sống đi thật nhanh cấm ngoái đầu. Quan tài vút đi mất hút vào rừng sâu như ma đuổi. Người Mông Sín Chải tin rằng người chết hồn ma còn vương víu gian bếp khói ám, còn luyến tiếc bóng núi quen, còn ngửi thấy hơi ngô rẫy vừa tách hạt. Khi tiếng khèn cất lên khúc dẫn hồn, chỉ đường cho người chết trở về với tổ tiên, những người còn sống trên dương gian bắt đầu đưa tiễn. Họ chạy một mạch, chạy thục mạng như để xóa dấu đường đi. Tiếng trống dồn dập vang lên mỗi lúc một to, át cả không gian, để hồn người chết không quay đầu trở lại. Nếu đi chậm, hồn sẽ lần về lối cũ, trở lại bếp lửa, nấp vào hiên nhà, không chịu rời bản. Cả đoàn người, trong tiếng khóc xé lòng, trong nhịp trống ma cuồn cuộn, dồn dập lao xuống con dốc như một dòng thác đen đặc, cuốn theo cả nỗi sợ hãi cùng niềm tiếc nhớ của con người nơi trần thế.
5.
“Bà con chú ý! Xã phát động phong trào giao nộp vũ khí, vật liệu nổ. Ai có súng kíp, thuốc nổ, xin mang đến Ủy ban giao nộp…”. Giọng nói của cán bộ trạm qua chiếc loa rè rè chen ngang, vắt qua triền núi, rót xuống đúng khoảng kí ức đang rớm máu.
Mẹ A Sung đi chưa hết ba mùa ngô, thì vận đen đã ập về. Cái bóng tang thương còn vương trên mái nhà, tiếng khóc chưa kịp tan trong khe núi, thì bố anh gục ngã tức tưởi. Những cụ già trầm ngâm: “Ma dữ còn lảng vảng đâu đây, chưa chịu buông tha cái nóc nhà này.”.
… Đêm đó, trong rừng sâu, bố A Sung giương cây súng kíp có nòng sáng loáng. Một tiếng nổ khô khốc như đá vỡ. Loạt đạn đầu găm vào sườn con lợn rừng có thân hình bằng cả hòn đá tảng. Nhưng đạn bi không đủ sức hạ gục nó. Con thú đau đớn rú liên hồi, mắt nó long lên sòng sọc, nanh nhọn cắm xuống đất, rồi vút tới kẻ vừa bắn nó. Khoảnh khắc ấy, cả cánh rừng rung chuyển. Con thú như hóa thành tia chớp điên cuồng, xé toạc khoảng lặng ngàn năm của trời đêm. Bố A Sung chưa kịp châm liều thuốc súng thứ hai thì mãnh thú kia đã sầm tới, tiếng xương thịt gãy rạn rắc lên rợn ngực. Bố A Sung đổ xuống, miệng ộc máu tươi, bụng lòi ruột đỏ lòm, máu lênh láng chảy ròng xuống thảm lá mục. Tiếng kêu đau đớn lịm dần, hòa vào tiếng gió hú và tiếng chim lạc bầy hoảng loạn. Núi rừng như khép lại, nhận thêm một linh hồn, để lại khoảng trống tang tóc phủ kín bản làng.
Đêm rừng Sín Chải u uất, sương phủ đặc như tấm khăn tang. Khèn Mông cất lên điệu bi ai, réo rắt như dòng suối than khóc giữa thung sâu. Tiếng khèn quấn vào gió, nức nở như có linh hồn đang theo nhịp bay đi. Người già nói: Khèn đã mở lối cho hồn người chết, dẫn về với ông bà tổ tiên. Cánh cửa đã khép lại, con đường không còn lối về. Người đi như lá rụng theo dòng suối, người ở như rễ cây níu chặt lòng đất.
Trong làn khói hương nghi ngút, A Sung quỳ gục đầu, khăn trắng trùm kín, phủ phục bên cỗ quan tài sơn đỏ hoét. Đôi mắt vô hồn. Bóng nó run rẩy giữa ánh lửa lập lòe, như cọng cỏ dại trước cơn gió dữ, mà sau lưng là cả núi rừng lạnh lẽo:
“Hồn ơi, khèn gọi hồn về đường tổ tiên.
Con ngựa trời đã chờ, yên cương sẵn sàng.
Đường về mường ma có suối, có núi.
Khèn dẫn hồn đi, đừng ngoái lại nóc nhà chính.
Lũ con thơ còn khóc, nhưng sẽ lớn lên.
Như ngô, như lúa trên nương còn xanh…”.
Nước mắt A Sung nhòe đi, nhìn trân trân theo cái quan tài mất hút giữa ngả rừng âm u. Đoàn đưa tang tan dần vào khoảng tối, chỉ còn vọng lại dư chấn tiếng trống và tiếng khóc lịm dần như bị rừng nuốt chửng.
Sau loạt bảy phát súng kíp chỉ thiên, như bảy nhát dao chém rạch vào bầu không tang tóc tiễn đưa người đàn ông rời cột nhà lớn. Cây súng kíp sau đó lại được đem về, treo ngược trên vách gỗ. Nó lặng im, trơ trọi, lạnh lẽo như một cái bóng đã thôi thở, như một định mệnh đã chấm dứt vai trò. Thứ từng là niềm kiêu hãnh, từng vang lên giữa núi rừng, giờ chỉ còn nằm đó, gỉ sét và oan nghiệt, thành chứng tích cho cái tang kép đã phủ trùm tuổi thơ A Sung.
6.
Trong gian nhà chính còn sặc mùi khói bếp, A Sung ngồi lặng hồi lâu, mắt dõi theo cây súng kíp treo trên vách. Bất chợt, nó đứng lên, đưa tay gỡ xuống. Cây súng lạnh ngắt, nặng trĩu như chứa cả tiếng khóc lẫn bóng ma của bao đời. A Sung chậm rãi lau từng vết sém thuốc súng, từng đường nứt trên báng gỗ. Đôi mắt thoáng bồi hồi, như nhìn lại cả tuổi thơ gắn liền với tiếng nổ giật mình vọng ra từ thẳm rừng: “A Sung làm gì vậy” - A Lử hoang mang dợm đứng dậy.
A Sung mỉm cười, nụ cười day dứt. A Sung không đáp. Chỉ thấy nó xoay người, thay vì gùi súng ra ngõ, lại cẩn thận đặt vào chiếc hòm gỗ nhỏ, đóng nắp lại. Tiếng khóa gài khẽ khàng, như một lời tiễn biệt. Nó trao chiếc hòm cho tôi, nói câu gọn lỏn: từ nay, khẩu súng chỉ nổ khi cần bảo vệ rừng.
Ngoài kia, loa bản vẫn vang lên giọng nói rành rọt kêu gọi giữ rừng, giữ núi. Xen lẫn là tiếng khèn Mông dìu dặt, như hơi thở của tổ tiên vọng về. Tôi, A Sung và A Lử bước ra hiên. Nắng mai trải xuống, bóng ba chúng tôi kéo dài trên con đường đất đỏ, mở ra một lối đi khác, không còn dấu chân phường săn ngày cũ.
H.M.H
VNQD