.NGUYỄN TAM MỸ
Tiểu đoàn 23, Đoàn 5503 đóng quân trong vườn xoài, bên bờ sông Sê San, cạnh phum Đôn Tà Đăm cách thị xã Stung Treng độ ba cây số. Công việc đầu tiên của lính mới là đến quân khí tiểu đoàn nhận súng đạn. Mỗi người được cấp một dây thắt lưng, 6 trái da láng Mĩ, 4 hộp đạn, 1 khẩu AK. Ngoài ra, còn được nhận thêm 90 viên đạn rời, một dao găm ba tác dụng, một xẻng cán gập đào công sự và một hộp bông băng cá nhân.
Vũ Minh Huấn người ngợm trắng trẻo, xinh xẻo, lại nhanh nhẹn, được Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 23 chọn làm quản lí, phụ giúp anh Huỳnh Mười trông coi việc cấp phát quân trang, lương thực thực phẩm và nhu yếu phẩm. Đoàn Văn Vân và Nguyễn Văn Thân được bổ sung về bộ phận hậu cần, làm lính nấu ăn. Sĩ “bo bo”, Chín “râu”, Tiên “ba toác”, Tự “cười ruồi” (bởi hắn hay cười tủm tỉm) và tôi cùng với một số lính mới quê Quảng Ngãi, Bình Định… được biên chế về B trinh sát. Chỉ huy là anh Nguyễn Tấn - lính 77, người Thăng Bình (Quảng Nam - Đà Nẵng), tính tình hòa đồng, vui vẻ, dễ gần.
Quân tình nguyện Việt Nam sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế, thời gian đầu được nghỉ ngơi dưỡng sức đều phải học 9 điều quy định, tuyệt đối không được xâm phạm cây kim sợi chỉ của dân, ai bất tuân mệnh lệnh sẽ bị kỉ luật nặng. Trung úy Phạm Quang Vinh - Chính trị viên Tiểu đoàn, quê huyện Vũ Thư (Thái Bình), tập hợp hơn sáu mươi lính mới bổ sung cho đơn vị lên hội trường truyền đạt một ngày về nhiệm vụ cao cả của quân tình nguyện Việt Nam, về 9 điều quy định không được vi phạm. Những ngày sau đó, chúng tôi được B trưởng Nguyễn Tấn (lính cũ gọi anh là Tấn “hề”) phân công theo tổ ra rừng khộp cách nơi đóng quân không xa là mấy, cắt cỏ lác đem về lợp nhà. Khi đi, ai cũng phải đeo dây thắt lưng lựu đạn, mang theo súng ống đề phòng chạm trán với đám tàn quân Pôn pốt lẩn quẩn quanh phum Đôn Tà Đăm để kiếm ăn. Anh Tấn “hề” bảo rằng, ở phum Đôl Tà Đăm có gia đình em Khâm là “đối tượng” cần lưu ý. Em Khâm có cảm tình với bộ đội Việt Nam nhưng cô nàng có người anh trai tên Chanh lại đi theo Pôl Pốt. Chanh thường lén lút về phum khi màn đêm buông xuống.
Lúc bấy giờ, Campuchia mùa mưa đã qua và mùa khô nắng cháy sắp bắt đầu. Thời tiết khí hậu vùng đông bắc thật lạ. Ban ngày nắng hanh hao, bầu trời cao thăm thẳm, mây trắng bồng bềnh trôi lang thang vô định. Cắt cỏ lác mệt nhọc, mồ hôi mồ kê đầy người, tìm bóng râm ngồi nghỉ một chút thì lại cảm thấy lạnh se se. Ban đêm sương giăng bảng lảng khắp nơi nhưng trời oi, ngủ không cần đắp chăn.
Anh Tấn “hề” bảo: “Trong thời gian nghỉ dưỡng sức, chuẩn bị đi truy quét dài ngày mùa khô, không thể ở nhà ngồi chơi, phải lao động cho người khỏe ra”. Rồi anh phân công chúng tôi thay nhau làm các công việc dọn dẹp quanh khu vực trú quân.
Điều kì lạ là sang chiến trường K, đôi chân của tôi không còn sưng tấy các khớp nữa. Có lẽ do bác sĩ Quân y Tiểu đoàn 5 tiêm hai mũi thuốc gì đó vào hai đầu gối, đồng thời cho một lọ thuốc viên và dặn: “Uống ba ngày rồi thôi, cất để dành. Khi nào thấy đau nhức các khớp xương hãy uống”. Lọ thuốc ấy, tôi cất kĩ dưới đáy ba lô. Nhờ tình hình sức khỏe được cải thiện rõ rệt, tôi vui sống lạc quan hơn. Những buổi chiều cơm nước xong, tôi hay ghé nhà Quân nhu - Tài vụ Tiểu đoàn chơi. Ở đó có Huấn và anh Mười. Huấn là chỗ bà con bên ngoại với mẹ tôi, còn anh Mười quê gần đầm Thị Nại - Quy Nhơn, lính cũ gọi anh là “bố già hâm”, “bố già chập mạch”. Sở dĩ họ đặt cho anh biệt danh ấy vì ở chiến trường K. mà anh vẫn nuôi mộng bút nghiên. Năm 1976, học xong lớp 11, anh lên đường nhập ngũ. Tham gia huấn luyện độ một tuần, anh được đưa lên Tây Nguyên, đánh nhau với Pôl Pốt ở vùng biên giới. Khi đất nước Campuchia được giải phóng khỏi họa diệt chủng, Đoàn 5503 được thành lập, anh được phiên chế về Tiểu đoàn 23 phụ trách bộ phận hậu cần của đơn vị. Chẳng biết bằng cách nào, anh kiếm được bộ sách giáo khoa lớp 12. Lúc rỗi rãi, anh tự mày mò học với ước mong một ngày nào đó được xuất ngũ trở về quê nhà thi vào đại học để mặc áo sinh viên…
Tôi là thằng có chữ nhiều nhất trong số lính mới bổ sung về đơn vị, bởi tôi đã tốt nghiệp cấp 3, thi đại học xong mới đi lính. Biết thế, “bố già chập mạch” hay rủ tôi đến chơi, giúp anh giải các bài toán hình học không gian, lượng giác…
Anh Mười rất quý mến tôi, có cái gì cũng cho. Chiều tối hôm đó, anh cho tôi một gói trà Bắc nhỏ như khối vuông rubic. Tôi vừa về đến nhà, anh Tấn “hề” đang nằm trên võng, nghển cổ hỏi: “Mày cầm cái gì vậy hả, Thái Nguyên Tài? Trà phải không? Ừ, được đấy! Để tao nhóm lửa nấu nước pha trà uống chơi”. Mỗi người một tay, chẳng mấy chốc, bếp lửa nhỏ được nhóm lên trước sân nhà. Thằng Cư quê Hội An tình nguyện đem bi đông đi lấy nước về đặt lên ba hòn đá kê chụm lại làm ông đầu rau. Sương giăng bảng lảng khắp nơi. Dưới ánh trăng mờ, những người lính mới ngồi quây quần bên bếp lửa nghe anh Tấn “hề” kể chuyện phiếm. Anh có tố chất của một nghệ sĩ hài. Nhìn cách anh nói năng, điệu bộ minh họa, không ai có thể nhịn cười được. Tôi hay ngắm trộm anh bởi trông anh khác lạ so với anh em lính cũ. Đôi giày vải há mõm khâu lại khá sơ sài. Quần vá nhiều miếng to bự chảng. Áo lót trắng đã chuyển sang màu cứt ngựa. Da dẻ xanh mét. Ria mép chỗ có chỗ không. Râu cằm sợi dài sợi ngắn. Quả đầu tròn vo, tóc mọc lưa thưa, hoe vàng.
“Thằng Tài cứ ngó tao trân trân do thấy quả đầu dị hợm, đúng không?”. Anh cười hỏi.
Tôi lúng túng chưa kịp trả lời, anh nháy mắt, nói: “Muỗi xơi hết tóc nên quả đầu mới trọc lóc như thế!”.
Không thể nào tin được, chúng tôi ồ lên ngạc nhiên. “Nói ngắn gọn là vậy. Nói nôm na là do muỗi đốt sốt rét hoài, đau ốm liên miên đến nỗi trọc cả đầu”. Anh cười bảo. Chúng tôi cũng cười bởi cách ví von mang đậm chất Tấn “hề”.
“Xè xè xè… bụp!”
Chiếc bi đông Cư bắc trên ba ông đầu rau sau tiếng “bụp” đã biến dạng thành quả lựu đạn da láng Mĩ to ngoại cỡ do vặn chặt nắp khi bắc lên bếp lửa. Anh Tấn “hề” chửi um. Rồi anh vào nhà quơ mấy bộ quần áo rách để dành lau súng đem ra xử lí sự cố do Cư bất cẩn. Quấn chặt mấy lần giẻ quanh chiếc bi đông giống y hệt trái banh nhựa trẻ con chơi đá bóng, anh Tấn “hề” trùm vải gắng sức vặn nắp. Tiếng hơi xì thoát ra nghe xè xè. Rất may, không xảy ra sự cố gì vì nước mới nóng và nắp bi đông vặn không quá chặt.
“Để lên bếp nấu tiếp, nước chưa sôi, trà Bắc sẽ hóa thành trà Thái Đức (thức đái), cả đêm mất ngủ thì bỏ mẹ!”. Anh cười hì hì. Tuy có chậm một chút nhưng cuối cùng tiệc trà cũng được bày ra dưới ánh trăng đầu tháng nhòe mờ. Có gói thuốc lá Romdos trong túi áo, anh Tấn “hề” lấy ra chiêu đãi anh em. Tôi với tay nhón một điếu châm lửa hút. Trà Bắc pha đậm uống ngon tuyệt. Anh Tấn “hề” lót dép râu ngồi kể chuyện đánh nhau với Pôn pốt từ biên giới sang Mundulkiri, Rattanakiri, Bung Lung, Stung Treng…
“Các ông qua đây có thấy hai cao điểm X-a và X-b cách ngầm Ốs Dza đâu chừng vài ba cây số không? Chỗ đó, anh hùng Phan Hành Sơn “đánh tung núi Ngũ Hành diệt Mĩ” bị trọng thương suýt hi sinh đấy. Bọn Pôn pốt bám trụ với tinh thần sống mái khiến quân ta phải hao người tốn sức mới xóa sổ được”. Anh cho biết.
Khốc liệt là điều dễ nhận thấy nhất trong chiến tranh. Lằn ranh giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc. Anh Tấn “hề” đã có gần bốn năm lăn lộn nơi trận mạc. Đạn pháo chê. Đạn nhọn chê. Sông sâu nước xiết cũng chê… Vì thế, cho dù bị muỗi xơi hết tóc khiến cả quả đầu trọc lóc cũng không lấy được mạng anh.
“Chiến trường K. bây giờ, ở Prết Vihia mới gian khổ hi sinh đúng nghĩa, còn ở Stung Treng dễ thở hơn. Hi sinh do đánh nhau không nhiều, do giẫm phải mìn các loại cũng chẳng bao nhiêu. Nhưng sốt rét rồi đuối nước dẫn đến hi sinh đáng kể đấy! Tuyệt đối không được chủ quan”
“Làm thế nào để đề phòng được hả anh?”. Lại “bủng” hỏi.
“Thì đi công tác qua sông suối vào mùa mưa không được liều mạng. Quân y cấp phát thuốc “phòng 3” phải uống đủ liều, không được lén vứt đi”. Anh nói. “Thuốc “phòng 3” là thuốc quái quỷ gì vậy anh?”. Tiên “ba toác” tò mò. “Là thuốc phòng chống sốt rét do Liên Xô sản xuất và cung cấp. Nó hiệu nghiệm vô cùng. Có điều, uống nó, ông nào ngó cũng lơ ngơ như bò đội nón mất cả tuần”. Anh cười. Chín “râu” gặng hỏi thêm. Anh khoát tay: “Ít bữa nữa các ông sẽ biết ngay! Nói trước, còn gì là yếu tố bất ngờ, đúng không?”.
Tiệc trà nhanh chóng kết thúc bởi được châm thêm nước nhiều lần nên nhạt hoét. Hơn nữa, Lại “bủng” và Sĩ “bo bo” cũng đã đến phiên gác ngoài giao thông hào.
Quý hiếm vì có hình dáng độc nhất vô nhị chính là chiếc bi đông của Cư. Hắn dở khóc dở cười với cái bình hồ lô ấy. Thương hắn, anh Tấn “hề” lấy chiếc bi đông của mình đổi cho. “Nhớ đấy! Đừng có dại thêm lần nào nữa!”. Anh bảo. Không thể nào xử lí được chiếc bi đông trông không khác gì trái banh nhựa của trẻ con, anh Tấn “hề” đành lấy dây dù buộc ở cái khấc phía dưới nắp vặn, đeo toòng teng trước ngực. Nó tròn vo nên cứ lăn qua lăn lại theo nhịp bước chân. Tôi nhìn anh không nhịn được cười và liên tưởng đến nhân vật Sa Tăng trong truyện Tây Du Kí. Giá như anh có bộ râu quai nón như Chín “râu”, chiếc bi đông đích thị là chiếc đầu lâu trong xâu chuỗi hạt…
“Cười cái gì, Tài?”
Anh hỏi. Tôi nói với anh ý nghĩ của mình. Anh cười. Nằm trên võng, anh cầm trái da láng Mĩ to ngoại cỡ săm soi. “Trên đời này, không thứ gì là không thể khắc phục được, nhất là đối với lính tráng ở chiến trường K.”. Anh bảo với tôi. Không nói gì nhưng tôi thầm nghĩ, chiếc bi đông ấy không thể xài được, chỉ có đem vứt mà thôi.
Cuối chiều hôm sau. Anh Tấn “hề” rủ tôi ra sông Sê San tắm. Tôi gật đầu. Hai anh em men theo lối mòn trong vườn xoài đi xuống bến. Không dừng lại ở chỗ quen thuộc, anh vẫy tôi đến ghềnh đá, mở mớ quần áo lấy chiếc bi đông tròn vo ra. “Tao đã có cách nhưng phải nhờ mày phụ giúp một tay”. Anh nói rồi đặt chiếc bi đông lên phiến đá khá bằng phẳng, bắt tôi cầm chỗ vặn nắp giữ chặt. Lấy hòn đá dẹt có một mặt cũng khá bằng phẳng, anh dùng hai tay nâng lên đập nhẹ vào chiếc bi đông. Lâu, rất lâu, dưới tác động của hai mặt đá, cái bình hồ lô đã có hình dạng khác. “Phía trước, phía sau, coi như ổn. Chỉ còn hai bên hông, ráng làm một tí nữa là xong”. Cầm chiếc bi đông ngắm nghía, anh nói. Hai anh em lại hì hụi với công việc bất đắc dĩ. Cuối cùng, trái da láng Mĩ to ngoại cỡ cũng có hình dạng của một chiếc bánh chưng khuyết bốn góc. Chiếc “bánh chưng” ấy nhét vào lấy ra khỏi bao vải đeo dây thắt lưng tuy có khó khăn nhưng vẫn được. Anh đổ đầy nước vào, vặn nắp lại thật chặt, lấy áo lót lau khô bên ngoài rồi… ngồi chăm chú nhìn. “Nếu nó không bị rạn nứt bên trong thì thành công”. Anh cười. Chà bàn tay to bè quanh cái “bánh chưng”, anh đưa lên sát mắt dòm. Bàn tay khô ran. Rồi anh hét lên: “Quá mĩ mãn, Tài ơi!”. Anh Tấn “hề” vui sướng hét lên rồi nhảy ùm xuống sông. Tôi cũng lao theo.
Hai anh em vừa té nước vào nhau vừa cười nói ồn ào khiến đám lính trẻ ở bến tắm phía dưới không hiểu chuyện gì, cứ đứng ngẩn ngơ…
N.T.M
VNQD