. NGUYỄN DOÃN VIỆT
Con sông Nậm Xan tích nước từ Tây Trường Sơn, nhọc nhằn trườn qua bao thác ghềnh miền Trung Lào rồi êm đềm hòa vào dòng Mê Kông ở cửa Paksan tỉnh Bôlikhămxay, nước bạn Lào.
Nhớ lại sau giải phóng, nhiều chủ trương chính sách lớn được nhà nước Lào ban hành, trong đó có việc ổn định lại đời sống cho nhân dân các dân tộc, dần xóa bỏ tập tục du canh du cư. Nhờ đó những bản Lào dần ổn định, đời sống nhân dân ngày càng đi lên. Con sông Nậm Xan trở thành điểm tựa vững chắc và cũng là nguồn sống cho những bản làng dọc đôi bờ mướt xanh ngô lúa. Mùa khô, nó cần mẫn chở những guồng nước quý giá phục vụ đời sống dân bản, phục vụ những lễ hội truyền thống của đồng bào. Thế nhưng, mùa mưa đến, nó bộc lộ thái độ dữ dằn hung tợn và bất trị. Nước từ đầu nguồn đổ về khoét vào vách núi, đất đá nát nhừ, cỏ cây run sợ…
Khi này, đội quy tập hài cốt liệt sĩ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh đã hành quân sang đến vị trí đóng quân cả tuần nay nhưng vẫn “bó chân” tại chỗ, bởi thời tiết không thuận lợi. Đã bước vào mùa khô rồi mà những trận mưa cuối mùa vẫn chưa dứt hẳn. Tôi quan sát thấy đội trưởng, Thượng tá Hà Văn Hùng vẻ mặt sốt ruột, cứ ra nhìn nền trời xám xịt rồi thở dài đi vào. Hẳn khí thế ngày xuất quân làm nhiệm vụ chưa lắng trong lòng anh. Bởi hôm làm lễ xuất quân, đồng chí bí thư tỉnh ủy đã phát biểu động viên và giao nhiệm vụ cho đội phải sớm lập công đầu, nhanh chóng khảo sát tìm kiếm được phần mộ các liệt sĩ ngay trong những ngày đầu mùa khô năm nay, vậy mà...
Còn Trung úy, QNCN Lê Văn Đức, vốn là lái xe vận tải vừa được điều động tăng cường sang đội, nhấp nha nhấp nhổm, háo hức vì lần đầu được đi làm một nhiệm vụ thiêng liêng, cậu ta hết đứng lại ngồi, mong sớm được xuất phát. Tôi còn biết, mỗi tối, Đức thường mở lại những bài học tiếng Lào vừa được huấn luyện trước khi lên đường làm nhiệm vụ để nhẩm lại, phòng khi dùng đến…
*
* *
Hơn một tuần trôi qua, thời tiết đã có dấu hiệu chuyển biến rõ rệt, bầu trời trong xanh, những đám mây mỏng mảnh thưa dần, nắng rọi xuống những ngôi nhà kiểu mái Thái. Đội trưởng sau khi đã làm việc với đội công tác đặc biệt phía bạn, nhanh chóng tập trung hội ý toàn đội. Anh nhấn mạnh ý nghĩa của chuyến xuất quân lần đầu của mùa khô năm nay. Giờ cả đội lên đường xử lí thông tin đã được xác định: Phần mộ liệt sĩ hi sinh ở khu vực Nậm Tích.
Lại nói Nậm Tích trước đây nằm trên trục đường huyết mạch tuyến vận tải Tây Trường Sơn. Ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định thành lập Đoàn 559 với nhiệm vụ: Xây dựng tuyến chi viện chiến lược, tăng cường sức mạnh cho “Tiền tuyến lớn miền Nam Việt Nam và Cách mạng Lào” theo đó, đầu năm 1961, liên quân Pha thét Lào và Quân Tình nguyện Việt Nam đã mở chiến dịch giải phóng khu vực rộng lớn từ Xiêng Khoảng xuống các tỉnh Khăm Muộn, Savanakhet, Tà Ven Oọc… khu vực biên giới Trung - Hạ Lào. Trong suốt quá trình chiến đấu, không biết bao anh hùng liệt sĩ của chúng ta đã ngã xuống, một phần trong đó các anh đã được đồng đội đưa về đất mẹ an táng, còn rất nhiều liệt sĩ, các anh mãi mãi nằm lại đâu đó trên những ngọn đồi, bờ sông, bãi suối… Đồi núi bạt ngàn trùng điệp như ngôi mộ khổng lồ bao bọc lấy xương máu các anh dẫu đã hòa lẫn vào đất đá…
Đoàn di chuyển về phía hạ lưu sông Nậm Xan. Tôi thấy xa xa trên những vạt đồi lúa được gặt xếp thành từng bó quây tròn chất đống cao ngang đầu người. Con đường vòng vèo uốn lượn theo dòng sông, đôi chỗ thắt lại do các ghềnh đá nhô ra. Xe chạy nhanh qua những bản làng, những cây cầu sắt bắc ngang các con suối. Đây là những cây cầu do Việt Nam giúp Lào xây dựng sau chiến tranh. Có rất nhiều chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ, công nhân xây dựng đã nằm lại đất bạn do sốt rét, tai nạn và phỉ Lào chống phá.
Đi gần hết hành trình ngày đầu tiên, chiếc xe bỗng chồm lên, một cành cây ngang đường quẹt vào thành xe, kéo xước vạt áo Lê Văn Đức, bả vai bị rạch một đường rớm máu. Vết thương nhẹ không ảnh hưởng đến chuyến đi, nhưng tôi nghĩ, với Đức đó cũng là những kinh nghiệm đầu tiên khi chạy đường rừng. Nó là lời nhắc nhở về khó khăn, thử thách còn dài phía trước, phải cẩn trọng trong mọi tình huống mới có thể hoàn thành nhiệm vụ.
Và khi những tia nắng chiều dần dần rút hết khỏi mặt đất, Thượng tá Hà Văn Hùng cho dừng nghỉ chuẩn bị bữa tối ngay cạnh bờ sông. Ngôi bản nhỏ có vài ba chục nóc nhà về chiều tĩnh lặng. Đàn bò dễ đến hàng chục con từ trong hẻm núi lũ lượt kéo xuống bãi sông uống nước rồi lại thong thả quay về chẳng cần ai chăn dắt. Trên cổ vài con đầu đàn phát ra âm thanh của lục lạc lốc cốc giữa rừng nghiêng im vắng.
Gần đó, là một dãy nhà có vài ba phòng học, mái lợp tôn, bốn phía được đóng ván lưa thưa, mấy bộ bàn ghế lỏng chỏng. Đây là ngôi trường của bản, các cháu học sinh tiểu học sẽ học tại đây, lên trung học phải ra huyện học nội trú cách xa cả mấy ngày đường đi bộ. Tối đó toàn đội sẽ ăn cơm và nghỉ ngơi, làm công tác chuẩn bị, bắt đầu từ sáng mai cả đội sẽ di chuyển bằng thuyền trên sông Nậm Xan để vượt qua eo núi, sau đó hành quân bộ theo sự chỉ dẫn của bạn. Đi lần này có Trung tá Bun Thạ Nông Xay - đội trưởng đội công tác đặc biệt, tỉnh Bôlikhămxay và Phò Khai Phon, một cựu chiến binh Pha thét Lào.
Qua một đêm nghỉ mệt, sáng sau đoàn lục đục thức dậy từ sớm.
Ban mai đất bạn, tôi ngỡ ngàng trước dòng Nậm Xan xanh biếc soi bóng những ngọn núi xa. Lòng sông dần thắt lại bởi hai bên là những vách đá dựng đứng. Hai chiếc thuyền máy huy động từ dân bản phát lên những tiếng nổ lạch phạch, nhả những bụm khói đen sì về sau đẩy chúng tôi ngược dòng Nậm Xan đi lên thượng nguồn Nậm Tích. Càng đi sâu lên thượng nguồn, dòng sông càng trầm mặc; đôi bờ đá núi cheo leo như chực chờ rơi tõm xuống lòng sông; xa hơn, đôi vạt vàng rực loài cúc quỳ nở sớm, điểm xuyết những mảng rừng đỏ thẫm hoa chuối nở trồi lên trang điểm cho đại ngàn.
Khi trời đã quá trưa, hai chiếc thuyền gác mũi lên một bãi sỏi cạn ven bờ, đội trưởng cho cả đội nghỉ ngơi. Hơn tiếng sau, cả đội bắt đầu hành quân bộ với đầy đủ các trang bị, vật chất, lương thực…
Theo như lời Phò Khai Phon và đội trưởng Bun Thạ Nông Xay thì chiều tối ngày mai, đoàn sẽ đến được địa bàn Nậm Tích - một địa bàn mà từ sau chiến tranh rất ít người đặt chân đến. Bởi nơi đây rừng thiêng nước độc, dẫu cho có ngọc quý trầm hương cũng chẳng ai dám liều mình.
Đoàn chúng tôi cứ thế mải miết đi, người cách người không quá ba mét, phòng lỡ ai sảy chân trong quá trình hành quân có mang đeo nặng còn kịp thời hỗ trợ bởi đường rừng là đường nhưng không có đường, cũng không có lối, tất cả chỉ cắt tọa độ tiến lên. Đang mải miết đi, bỗng có tiếng sột soạt trên cành cây, chúng tôi ngước nhìn lên, một đàn khỉ hơn chục con đang đu mình ngó xuống đoàn người xa lạ, phát ra tiếng kêu choe chóe. Đức chưa kịp rút máy chụp lại bức hình thì đàn khỉ đã nhanh chóng mất hút vào tán rừng…
Đêm xuống, giữa rừng già thâm u tĩnh mịch, bóng đêm đặc quánh như muốn nghiền nát đống lửa nhỏ nhoi. Lửa than tàn nhanh vì sương lạnh, từ những chiếc võng bắt đầu nghe tiếng trở mình, ai nấy đều thức giấc vì cái lạnh buốt tận sống lưng. Phò Khai Phon trở dậy nhóm thêm lửa, tiếng lửa nuốt những cành củi tươi bật ra âm thanh tanh tách. Một lúc sau Thượng úy nuôi quân Đậu Minh Khôi, cũng bắt đầu lịch kịch nhóm bếp, một phần cơm để ăn bữa sáng, phần còn lại vắt chặt phát cho mỗi người kèm với muối vừng dùng bữa trưa dọc đường. Trời khi này đã tang tảng, ánh sáng lờ mờ xuất hiện trên tán rừng già, chẳng biết mặt trời lên từ phương hướng nào, rừng dày đen kịt, ánh sáng lọt qua vài khoảng trống hiếm hoi cô đơn chiếu xuống mặt đất.
Sau bữa sáng, cả đội khăn gói lên đường sớm, đội trưởng hạ quyết tâm phải đến được địa bàn trước khi trời tối. Phải nói thêm rằng, đường rừng giờ càng lúc càng khó đi, những dốc đá cheo leo, đá tai mèo sắc như chông rình rập mỗi bước chân người. Có những chỗ toàn đội phải dùng dây rừng bện thành thang để leo qua, hết sức hiểm nguy. Và sau hơn hai tiếng đồng hồ hành quân, toàn đội nghỉ giải lao trên một khoảng rừng khá bằng phẳng, đồ rằng đây có thể là điểm dừng chân của các bản làng năm xưa trong quá trình du canh du cư. Tựa lưng vào ba lô, ngửa mắt lên là những tổ ong rừng treo lơ lửng trên một ngọn cây cao vút. Có những tổ ong lớn chừng chiếc chiếu vắt vẻo giữa chạc ba cây ở lưng chừng trời. Tôi lim dim chợp mắt, cho đến khi đội trưởng huých vào người, nhắc đoàn kiểm tra hành lí tư trang mang đeo xem có rơi rớt gì không. Bỗng Thiếu tá Hoàng Trọng Quân kêu to: “Rơi túi đồ chính sách rồi các anh ơi!”.
Túi đồ chính sách là các đồ dùng để khâm liệm hài cốt liệt sĩ bao gồm: vải xô, giấy nilon, cờ Tổ quốc… Túi đồ ấy luôn được mang theo trên ba lô, không được để lẫn với các đồ vật khác để tránh bụi bẩn, khi dừng nghỉ phải treo lên cành cây, không để dưới đất đề phòng những điều bất cẩn. Nếu không có túi đồ chính sách ấy, khi tìm kiếm cất bốc hài cốt liệt sĩ sẽ không có đồ gói bọc khâm liệm.
Trước sự cố đáng tiếc này không còn cách nào khác là phải quay lại để tìm. Anh Hùng nhanh chóng cử một tổ ba người gồm đồng chí Thiếu tá Hoàng Trọng Quân, Trung úy Lê Văn Đức cùng Thượng úy Trần Văn Nam quay lại theo đường cũ để tìm túi đồ, lực lượng còn lại tiếp tục hành quân. Hợp đồng cách nhận biết đường đi đã huấn luyện chặt chẽ nhưng đội trưởng vẫn nhắc lại để ba đồng chí biết, tránh trường hợp bị lạc khi quay lại.
Tổ ba người nhanh chóng quay lại theo lối cũ vừa đi. Trời ngả trưa, mặt trời phả hơi ấm xuống tán cây rừng dày đặc, những thảm khói lưng chừng vấn vít trông xa như những tấm voan mỏng mảnh giăng mắc trên những đỉnh đồi.
*
* *
Sau tôi được nghe Quân, Đức và Nam kể lại...
Vì con đường trở lại đã được dọn sẵn lối đi nên không khó để rảo bước nhanh hơn, nhưng túi đồ thì vẫn chẳng thấy đâu. Một chút lo lắng thoáng hiện trên gương mặt cả ba người. Tuy thế, họ vẫn vừa đi vừa quan sát, mong sớm tìm thấy tú đồ và quay lại kịp đội hình. Sau một quãng đường khá dài cuối cùng túi đồ cũng được tìm thấy. Hóa ra, nó vẫn treo chỗ đội dừng nghỉ đêm qua, do sơ ý Quân đã để quên chứ không phải đánh rơi dọc đường. Túi đồ đã được tìm thấy, việc còn lại là nhanh chóng bám đội hình.
Để nhanh nhất bám kịp đội hình, Quân đề xuất cắt theo lòng suối để đi vòng đến vị trí chia tay đội hình sáng nay. Nói là làm, cả ba không do dự nhanh chóng lội dọc con suối men theo con đường cũ để cắt phương hướng đến ngọn đồi bên kia, nơi sáng nay đội trưởng đã hiệp đồng trước khi quay lại. Lòng suối cạn, lớp đá cuội dày đặc mát lạnh dưới chân. Nước suối trong veo, những hòn sỏi vàng óng ánh, ba anh em cứ thế đẩy nhanh tốc độ so với bình thường, trời đã xế chiều, dưới tán rừng rung rinh những giò phong lan đủ màu sắc, xanh đỏ tím vàng rực rỡ.
Ước chừng đã đến chỗ cắt tọa độ rẽ lên đỉnh đồi nơi ban sáng chia tay, Quân cùng Đức và Nam xốc lại ba lô, bắt đầu cắt rừng ngược dốc thẳng hướng đỉnh đồi bên kia suối. Đường đi vẫn vậy, cây cối chằng chịt, gai góc um tùm, những vỉa đá tai mèo giăng ra lởm chởm…
Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua nhưng cả ba vẫn chưa đến được đỉnh đồi nào, và không thấy đỉnh đồi đã xác định ở đâu. Trước mặt, sau lưng, hai bên, đều là những đỉnh đồi cao thấp trùng điệp, cả ba rơi vào trạng thái mất phương hướng. Nguy cấp rồi, chỉ trong tích tắc cả ba không ai xác định được vị trí mình đang đứng, không xác định được điểm đến đang ở hướng nào.
Bình tĩnh lại, cả ba quyết định quay trở lại con suối lúc nãy để hòng về chỗ trú chân đêm qua. Thế nhưng đi mãi vẫn không thấy đoạn suối có đá cuội vàng óng lúc trước. Đến lúc này, cả ba người hốt hoảng thật sự, chuyện lạc đường giữa rừng sâu đang hiển hiện trước mắt.
Quân đưa khẩu AK chỉ thiên kéo ba phát báo hiệu, tiếng súng nổ vang lên vọng liên hồi vào vách núi, rồi lọt thỏm giữa mênh mông đại ngàn. Khóa quy lát, ba người lắng tai nghe tín hiệu đáp trả, nhưng tuyệt nhiên không có một âm thanh nào xuất hiện, đội hình có thể đã đi quá xa.
Khi này, bỗng Nam lên tiếng: “Sao có thể lạc được, bây giờ chúng ta quay trở ra, rẽ trái, vòng xuống mỏm đá, đi một đoạn nữa rẽ phải rồi cứ thế đi là gặp con suối lúc anh em mình đi qua, tìm được đoạn suối ấy là tìm được đường trở lại”.
Đức cũng đồng tình với phương án Nam đưa ra. Lúc này tất cả mệt nhọc dường như đã biến mất, nỗi lo lắng mỗi lúc một tăng thêm khi trời càng lúc càng về chiều. Đi mãi một lúc lâu nhưng tuyệt nhiên không gặp lại mỏm đá cũ, lạ thật, vừa đi qua giờ đi lại không thấy đâu nữa. Loay hoay thêm cả tiếng đồng hồ nhưng cả ba người vẫn không thể tìm được đường trở ra con suối ban chiều, xoay đi xoay lại như dẫm chân tại chỗ. Trời bắt đầu tối sầm trước mắt, không còn cách nào khác, cả ba hạ ba lô mắc võng, đợi sáng mai, xác định lại phương hướng rồi tìm đường trở ra, có cơ may gặp được đội hình.
Việc đầu tiên phải nhóm lên một đống lửa thật to. Ánh lửa cũng là ám hiệu để những người lạc đường nhận ra nhau. Ban ngày đốt củi tươi để ngọn khói bay cao lên dễ nhận biết, còn ban đêm lửa phải đủ lớn để người ở xa quan sát được. Cả ba cùng căng óc lục lại quãng đường chiều nay vừa đi qua. Lúc này, cái mệt, cái đói nhường chỗ cho sự lo lắng và sợ hãi, khi một hai ngày tới, lương khô sẽ hết, gạo còn nhưng không mang theo xoong nồi chỉ còn nước nhai sống, mọi tính toán bủa vây lấy tâm trí giữa đêm đen rừng già bao phủ. Không ai có thể chợp mắt nổi, đống lửa tàn lại được chất thêm củi, lửa cháy suốt đêm cùng với ba nỗi lo âu thắc thỏm…
Sáng ngày thứ hai lạc rừng, đói, lạnh và thấm mệt, còn vài bánh lương khô cuối cùng cả ba chia nhau. Những miếng bánh khô khốc nghẹn lại trong miệng, vài ngụm nước chắt ra từ gốc chuối rừng khiến tâm tư trấn tĩnh lại đôi chút, Quân đưa ra quyết định: “Giờ không còn cách nào khác là đi ngược hướng mặt trời để ra cho được dòng sông Nậm Xan. Chỉ còn cách ấy chứ ngồi chờ đội hình quay lại thì chỉ có nước chết”.
Trời sáng lờ mờ, mặt trời không biết mọc từ hướng nào nữa, dưới tán rừng ken dày ảm đạm một màu bàng bạc sương khói. Trong chốc lát cả ba bàn bạc rồi quyết định cắt rừng trực chỉ về phía thung lũng hun hút bên dưới. Đó là những hố sâu ẩm ướt, với tầng lá mục chất dày, đá nhọn và hang hốc lởm chởm. Đang lò dò qua một lèn đá thì bất ngờ ngay trước mặt bỗng phát ra tiếng kêu phè phè, Quân suýt ngã nhào xuống hố. Thì ra chỉ cách vài bước chân, một con rắn hổ đất đầu to như cái chày, dướn cổ phình mang chực đớp lấy cổ chân Quân nếu bước thêm bước nữa, thật hú vía.
Tránh được con rắn hổ kịch độc, ba anh em vòng qua mạn đồi tiếp tục hướng theo thung lũng đi xuống, hi vọng sẽ gặp được con suối nào đó, rồi từ đó đi theo dòng chảy sẽ ra đến đầu nguồn Nậm Xan. Vừa đi Nam vừa lắp bắp nói, giọng vẫn còn run: “Anh Quân ơi… gặp rắn là gặp may… quan niệm ông bà xưa là vậy anh ạ…” Thung lũng sâu hoắm, ban ngày nhưng tối như bưng, nơi đây chắc không bao giờ có sự hiện diện của ánh nắng mặt trời. Càng đi xuống thung lũng càng sâu, ẩm ướt, là dấu hiệu của suối khe, của sự sống, niềm hi vọng thắp lên mỗi lúc một nhiều trên gương mặt ba người.
Đức đang đi bỗng sụp chân xuống một hộc đá, vội kêu lên: “Đây có nước rồi, nước nhiều đây…” Thì ra dưới lớp lá mục chất dày ấy, một khe nước nhỏ đang chảy ngầm qua từng hốc đá. Đó là mạch nguồn ban đầu của một con suối bên dưới không chừng. Và quả thật, một lúc sau thì khe nước lớn dần, dòng chảy xuất hiện, vui mừng hiện rõ trên ánh mắt. Cứ thế, theo dòng nước, gặp một thác nước, rồi gặp một ngã ba suối… Khi này trời cũng tối dần, buộc phải dừng nghỉ qua đêm, mấy mảnh lương khô từ sáng sớm không còn dính ruột, nhưng giờ đã có nước, gạo vẫn còn, thế là sống rồi, ba con người và một hi vọng - ngày mai sẽ tiếp cận được dòng Nậm Xan.
Sáng sớm ngày thứ ba, cả tổ tiếp tục hành trình; con suối chảy ngang lưng núi có nhiều đoạn dốc đứng tạo thành những thác nước nhỏ; lòng suối lởm chởm đá gan gà, rêu bám trơn trượt ẩm ướt. Quần áo ướt sũng, đôi chân tê buốt vì mấy ngày liền di chuyển không nghỉ. Hai bên bả vai và cánh tay mỗi người đều chi chít những vết trầy xước tứa máu do gai rừng cào cấu. Ra đến quãng suối rộng hơn, nước sâu dần, ba người đành phải men theo bờ suối mới đi được. Hi vọng sớm đến bờ Nậm Xan hiển hiện, khi trước mắt là một ngã ba suối rộng dễ đến vài ba chục thước…
Đi mãi, đi mãi, lại thêm một đêm giữa mênh mông rừng già.
Đến sáng ngày thứ tư, tiếng gà le te gáy sáng tạo một cảm giác bình yên lạ kì. Đức cho gạo vào ống nứa rồi đặt sát đống lửa. Không lâu sau mùi cơm chín thoảng ra hành hạ cơn đói của ba người sau mấy ngày ăn gạo sống. Dù sao thì lúc này cũng không còn cảm giác lạc đường nữa, mục tiêu là nhanh chóng xuôi dòng đến điểm có hai con thuyền đang đợi sẵn…
Thêm một ngày đi đường mệt lả nữa. Trời tối rất nhanh, phút chốc hoàng hôn trải xuống những mạn rừng thâm u, mặt sông Nậm Xan ánh lên những gam màu xanh đỏ vàng huyền ảo. Ba người ngược lên một gò cao để tìm chỗ nghỉ qua đêm. Vừa đến nơi, Đức nhìn về phía xa theo hướng dòng sông bất ngờ thấy những đốm lửa sáng. Đức hét lên: “Anh em ta kìa, họ chờ ta ở đó rồi”. Lập tức ba phát súng nổ lên trời báo hiệu, ngay tức thì, phía xa vọng lại một loạt AK đáp trả. Không chần chừ thêm nữa, cả ba tức tốc lên ba lô đi băng băng về phía đó…
*
* *
Song song với hành trình lạc rừng của Quân, Đức và Nam, phần còn lại của đoàn, mãi không thấy ba người bắt kịp đội hình, linh tính mách bảo có điều không hay, đội trưởng, Thượng tá Hà Văn Hùng cho đoàn hành quân trở lại.
Khi đội hình quay ra đến vị trí cả đội dừng nghỉ đêm trước, nhưng tuyệt nhiên không thấy ba người đâu. Xác định cả ba đồng chí đã lạc đường, anh Hùng và anh em còn lại bắt đầu chia nhau tìm kiếm. Những phát súng chỉ thiên được bắn lên trời nhưng không thấy tín hiệu đáp trả. Đêm xuống, những đống lửa cháy bùng lên một góc rừng, hi vọng ba người sẽ phát hiện được vị trí cả đội đang dừng nghỉ. Vì đã qua mấy ngày đường, ai cũng thấm mệt, Phò Khai Phon đặt lưng cạnh đống lửa ngáy khò khò từ lâu, Bun Thạ Nông Xay châm thuốc liên tục, còn anh em toàn đội cứ lật mình trên võng không tài nào chợp mắt, sự lo lắng, sốt ruột hiện rõ trên khuôn mặt từng người.
Đã bước sang ngày thứ hai kể từ khi cử tổ ba người quay lại tìm túi đồ chính sách, sự lo lắng mỗi lúc một tăng lên, nhiều đoán định được đưa ra, nhiều phương án được nhắc đến, cuối cùng, đội trưởng quyết định hành quân ngược ra bờ sông Nậm Xan, dù để ra được đến đó cũng mất non một ngày đường…
Sau một ngày đêm ngược ra, cả đội không khó để đến bờ sông như đã định, hai chiếc thuyền dân bản vẫn gối đầu chờ theo hợp đồng từ lúc đi vào, duy chỉ không thấy chủ thuyền đâu, qua lời Phò Khai Phon thì có thể họ đang vào rừng tìm mật bởi mùa này ong rừng kết mật rất nhiều. Cả đội không còn cách nào khác, dừng chân tại chỗ chờ đợi, đồng thời đội hình chia thành hai tổ tìm kiếm dấu vết của ba anh em. Hi vọng họ sẽ sớm quay lại được bờ sông, hội ngộ cùng cả đoàn.
Đến chập tối ngày thứ tư, kể từ khi Quân, Đức và Nam tách đoàn. Lửa đống to được đốt lên từ chiều. Bỗng ba tiếng AK từ phía rừng đột ngột dội xuống phá tan không gian yên tĩnh. Ba tiếng AK đáp trả. Liền sau đó là những tiếng hú từ dưới bờ sông vọng lên rừng núi âm u. Những tiếng gọi vang lên, bất kể tập tục khi ở trong rừng người ta thường kiêng gọi tên nhau:
“Đức ơi… Quân ơi… Nam ơi…”
Khi ba người đến gần, người đầu tiên nhao ra ôm lấy ba đứa em, ba người lính dưới quyền mình là đội trưởng Hà Văn Hùng.
“Anh em an toàn cả chứ? Có ai sao không?”
“Không sao… không sao cả anh ạ”.
Quân đáp trả thay hai người bạn đang luống cuống.
Mọi người vội vàng đỡ lấy ba lô, dìu cả ba đến bên bếp lửa. Gương mặt sau mấy ngày đêm đã tái nhợt, niềm vui sau bốn ngày đêm bị lạc vỡ òa cùng những giọt nước mắt…
*
* *
Sáng sớm tinh mơ, tiếng chim rừng ríu rít, bầy khỉ tranh thủ leo xuống những cành cây gần mặt sông uống nước, chúng phải uống đủ nước cho một ngày mới đi tìm thức ăn tận sâu trong rừng già. Lau trắng ngần mọc dọc đôi bờ Nậm Xan. Bên kia bờ sông thoáng bóng hai chủ thuyền từ trong hẻm núi đi ra. Trên vai lủng lẳng những bọc mật ong rừng khệ nệ.
Mùa khô, những cánh rừng nguyên sinh Lào bạt ngàn cây lá, cảm tưởng như chưa từng có ai đặt chân đến bao giờ. Nơi đây, sau chiến tranh, đất nước Lào thực hiện tốt chủ trương bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng, vì thế việc khai thác rừng được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Đặc biệt năm 2016, chính phủ Lào kí ban hành lệnh cấm khai thác rừng tự nhiên, cấm mua bán, chế biến gỗ, lâm sản… Kể từ đó, những con đường vào rừng trước đây hoàn toàn bị đóng cửa. Lâu dần, cây rừng bít kín đường đi, đến những người bản địa cũng khó tìm ra đường cũ. Đường vào Nậm Tích vì thế phải lội suối, cắt rừng, đèo cao, vực sâu vô cùng hiểm trở. Để hành quân vào Nậm Tích dễ đến vài ngày mới tới nơi.
Sau bữa sáng giữa ban mai đại ngàn, đội trưởng Hà Văn Hùng triệu tập toàn đội lại để rút kinh nghiệm. Hơn một giờ hội ý, quán triệt nhiệm vụ, qua nắm tình hình, dự trữ lương thực, thực phẩm mang theo chỉ còn lại vài ngày. Thông thường mỗi chuyến đi khảo sát, anh em có thể mang theo từ bảy đến mười ngày ăn, tùy theo đánh giá về quãng đường, thời gian hành quân và tính toán thời gian ở lại thực hiện nhiệm vụ. Nếu tìm được hài cốt liệt sĩ, đương nhiên toàn đội sẽ làm các thủ tục cần thiết để di chuyển hài cốt về nơi đóng quân, trường hợp không có kết quả mong đợi, đội cũng sẽ quay ra vì lương thực mang đi đã cạn. Lần này dù có thể cầm cự thêm vài ngày nhưng đường hành quân đến điểm có thông tin phần mộ còn quá xa, vì thế đội trưởng, Thượng tá Hà Văn Hùng, quyết định cho anh em rút trở ra nơi đóng quân, chuẩn bị trở lại Nậm Tích trong vài ngày tới.
Chuyến khảo sát lần này đành phải dừng lại, tất cả mọi người lần lượt sắp đặt lại ba lô, vật chất trang bị mang theo để quay ra, trên nét mặt mỗi người hiện rõ nỗi buồn khó tả. Đã có rất nhiều chuyến khảo sát và tìm kiếm không mang lại kết quả, nhưng lần này sao thấy có gì đó hối tiếc, khôn nguôi… Giá như những ngày qua không bị lạc đường thì biết đâu lúc này đã tìm thấy được phần mộ của các anh, biết đâu, biết đâu…
*
* *
Trở về nơi đóng quân, chúng tôi được nghỉ ngơi vài ngày để làm công tác chuẩn bị. Chủ yếu là chuẩn bị thực phẩm khô để mang theo. Lần này đội trưởng chỉ thị cho anh em phải mang theo đủ mười ngày ăn, đề phòng đường hành quân xa và địa hình nguy hiểm phức tạp. Chúng tôi lại sục sôi lên đường, thẳng hướng Nậm Tích.
Phải nói thêm rằng, địa hình Nậm Tích cây cối ken dày, có vài con suối cạn chạy qua thung lũng, đây chính là căn cứ của ta trong chiến tranh. Phò Khai Phon cùng đội trưởng Hà Văn Hùng lại giở bản đồ, xác định lại vị trí. Sau khi đã thống nhất, toàn đội bắt tay ngay vào khảo sát, tìm kiếm trên một địa bàn rộng chừng năm ngàn mét vuông.
Ban đầu anh em tổ chức phát cây, tìm kiếm những điểm có dấu hiệu của hầm hào, trận địa hoặc phần mộ. Tuy nhiên, việc tìm kiếm hết sức khó khăn, cây cối, đất đá lởm chởm. Bởi hơn năm mươi năm giữa đại ngàn, đủ để mọi thứ phong hóa hết cả…
Suốt mười ngày tích cực kiếm tìm nhưng tuyệt nhiên không thấy có dấu hiệu nào đáng ngờ. Và rồi chúng tôi lại quay ra vì lương thực đã cạn. Đành phải chờ đợi vào chuyến sau, khi đó có thể chúng tôi sẽ mở rộng khu vực kiếm tìm. Hi vọng những lần sau sẽ có được kết quả mong đợi…
Trên chiếc thuyền theo dòng Nậm Xan trở ra, đội trưởng, Thượng tá Hà Văn Hùng vẻ mặt trầm tư xúc động, anh ngước nhìn về hướng Nậm Tích mờ xa, như muốn gửi theo nỗi lòng đau đáu, như muốn nói một lời với đại ngàn thâm u, với anh linh của các anh hùng, liệt sĩ rằng chúng tôi sẽ trở lại, sẽ tiếp tục hành trình được Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó, là khảo sát, tìm kiếm hồi hương hài cốt liệt sĩ trở về đất mẹ thân yêu…
N.D.V
VNQD