. NGỌC TẤN
Rừng cao su vào mùa thay lá mang một vẻ đẹp thật khó tả. Bắt đầu là sắc vàng đầy siêu thực rồi sau đó, một rừng nụ hé mở, lấp dần những ô trời bằng màu xanh mỡ màng…
Chiều muộn, tôi đi dưới tán rừng xạc xào mùa gió trở, lòng lâng lâng với bao cảm xúc không đầu không cuối của riêng mình. Ai lên biên giới cho lòng ta theo với/ Về với ngàn lau chỉ trắng có một mình/ Những ngàn lau đứng canh cho bờ cõi/ Suốt một đời cùng với gió giao tranh (Chế Lan Viên). Biên giới - mảnh đất nào cũng gieo vào lòng ta nỗi hoài vọng thiêng liêng. Với Đức Cơ, một chấm xanh trên dọc dài biên cương ấy, cây cao su cũng là lịch sử, một chặng gần 70 năm với quá khứ đầy máu, nước mắt qua những trắc trở của cơ chế bao cấp để có được màu xanh yên bình của cuộc sống hôm nay...
Nhớ lại, năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm với quốc sách dinh điền đã chủ trương phát triển cao su lên Tây Nguyên. Vùng đất dọc biên giới Tây - Nam Gia Lai được coi là trọng điểm. Tài liệu chính quyền Sài Gòn cho biết: Năm 1957, từ ba điểm khởi đầu là Bảo Đức, Lệ Cần, Lệ Chí, đến cuối năm 1963 đã có tới 27 điểm dinh điền, tiếp nhận hơn 11.000 gia đình (hộ) với gần 34.960 nhân khẩu. Cư dân gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận và một số tỉnh Tây Nam bộ như Kiên Giang, An Giang… Các điểm dinh điền chủ yếu tập trung trồng cao su và cây ki náp. Chỉ riêng khoảng thời gian 1962 - 1963, các dinh điền Lệ Cần, Lệ Chí, Ninh Đức, Thanh Bình, Tân Lạc… đã trồng được 2017 mẫu cao su. Lệ Phong, Thanh Giáo, Lệ Kim… trồng hơn 7658 mẫu. Như vậy, đã có một diện tích cao su khá lớn, tương đương với một công ty ngày nay được trồng trên đất Đức Cơ.
Nấp dưới những mĩ từ vị nhân sinh nhằm khai thác vùng đất phì nhiêu nhưng hoang vắng của vùng cao nguyên để tăng lợi tức quốc gia, đồng thời phân phối cư dân trong nước cho hợp lí, đưa dân chúng vùng trung châu nơi ít đất nhiều người, không có cơ sở làm ăn lên cao nguyên lập nghiệp, thế nhưng quốc sách dinh điền thực chất là cuộc gom vét những gia đình liên quan đến cách mạng, những người tham gia kháng chiến vào các ấp chiến lược, nơi rừng hoang nước độc để quản chế hòng tách cá ra khỏi nước.
Cụ Nguyễn Đai từng là dân dinh điền thứ thiệt, phiêu dạt về thị trấn Đăk Đoa từ sau giải phóng đã chia sẻ với tôi rằng, hồi những năm cuối đánh Pháp có tham gia du kích Ba Tơ, lẽ ra cụ cũng đi tập kết nhưng vì vợ con nên nán lại. Cứ tin chỉ hai năm rồi hiệp thương, thống nhất đất nước chớ lâu la gì. Nhưng một buổi sáng cụ bỗng bị bọn lính bắt lên quận cùng với nhiều gia đình có liên quan kháng chiến. Bấy giờ ở quê cụ, địch bắt đầu chiến dịch tố cộng nên cụ chắc mẩm chúng đưa đi tố mình đây, nào ngờ sau ba ngày học tập chính sách dinh điền của Ngô tổng thống, chúng hốt tất cả lên Lệ Thanh lập dinh điền. Sau gần hai ngày trời bơi trong cái nóng và bụi đỏ đến nghẹt thở đoàn người mới đến nơi. Xuống xe, trước mắt mọi người là những dãy nhà lợp tranh, chơ vơ trên những trảng đất đã ủi sẵn ngút mắt, đỏ bầm như máu. Dinh điền đấy. Không cần thì giờ để suy nghĩ lâu, tất cả hiểu rằng thực chất là chúng cách li những kẻ như các cụ để tránh gieo mầm cộng sản đó thôi.
Công việc đầu tiên của đoàn người được giao là đào hố trồng cao su. Để tồn tại trong những ngày đầu trên vùng đất mới, quốc gia cho 6 tháng gạo (trẻ em 13kg, người lớn 18kg) và mỗi tháng 1.000 đồng. Vừa trồng cao su, chúng vừa bắt rào ấp chống cộng thâm nhập. Mỗi nhà được giao đào 10m hào; sâu 1,5m, rộng 3m. Trên mặt hào phải cắm le hoặc lồ ô vạt nhọn chéo cánh sẻ, dưới cắm chông. Ngày làm việc mệt nhoài, đêm đến chẳng ai được yên giấc bởi chúng bắt thay nhau đi gác. Giữa chốn rừng sâu thẳm, những bóng nhà câm lặng, những ánh đuốc cứ chờn vờn qua lại trông chẳng khác gì xứ sở ma trơi.
Nhưng mọi chuyện dẫu sao cũng chưa đáng sợ bằng sốt rét. Rừng thiêng nước độc không ai thoát. Mà đã sốt thường là ác tính. Đến lán nào cũng gặp những thân hình võ vàng, lẩy bẩy la liệt trên sạp nứa. Có ngày chết đến vài ba chục người, chết đến không kịp chôn. Hòm ván không có, cứ bó chiếu đem lấp. Có những lúc hết cả chiếu, phải chẻ tre đan thành phên mỏng rồi bó lại đem chôn.
Có lẽ chẳng còn ai không thầm hiểu cái tương lai tươi sáng mà Ngô tổng thống mang lại cho những gia đình thuộc nòi cộng sản là thế nào. Và biết được ngọn lửa căm uất đang âm ỉ trong lòng mọi người, chúng càng cố sức siết chặt gông xiềng. Trung úy Trí, gã quận trưởng đầu tiên của quận Lệ Thanh thời ấy là điển hình của những kẻ chống cộng điên cuồng, hắc ám. Cụ Đai nhớ lại, Trí lúc bấy giờ có lẽ mới ngoài 30 tuổi. Vóc hơi lùn, cái đầu tròn và mái tóc húi cua, trông hắn cứ rắn đặc như một võ sĩ. Dáng đi lúc nào cũng có vẻ lừ đừ, tưởng hắn chậm chạp nhưng trái lại, dường như không đêm nào hắn ngủ. Cứ như một hồn ma, xó xỉnh nào cũng có mặt hắn. Chỉ cần một tên lính đi cùng, đêm đêm hắn mò mẫm, lùng sục khắp mọi ngả đường trong quận. Cứ bắt được cán bộ hay người nào có vẻ khả nghi là hắn bắn ngay không cần đôi co. Bắn xong, hắn còn thêm một phát vào đầu gọi là nhân đạo rồi cắt mang về để thị uy. Có sáng, hắn đem tới 3 đầu người về ném ngay trước cửa quận. Không chỉ với dân dinh điền, hồn ma bóng quỷ của hắn còn là nỗi khiếp đảm của bọn lính. Tên nào thấy hắn đi ngang mà không chào là lập tức bị ăn một quả thụi vào mặt. Ban đêm đi kiểm tra vọng gác, thấy tên nào ngủ là hắn lôi dậy, cho ngay một phát đạn vào đầu. Sáng nào thấy hắn đi ăn đêm về, không có mồi, ra chiều tư lự là lính tráng tên nào tên nấy cứ nem nép như rắn mùng năm.
Nhưng trời không dung kẻ ác, sau này đổi về Nha Trang, Trí đã bị biệt động ta trừ khử.
Dưới trướng hắn còn mấy tên tay chân hắc ám nữa. Nổi bật nhất là trung sĩ Mừng. Tên này chữ nghĩa lem nhem, viết tác ra tộ, nhưng sự nham hiểm, độc ác thì chẳng kém gì Trí. Hơn thế, vốn sống gần đồng bào dân tộc từ nhỏ, hắn nói tiếng Jrai thạo, am hiểu phong tục, tâm lí của đồng bào nên bà con nhiều làng luôn bị mắc mưu hắn. Nhờ nham hiểm, Mừng từng bị du kích phục mấy lần mà thoát chết. Nhưng rồi lưới trời lồng lộng, sau này hắn đã bị bắt và đền tội trong trận bộ đội đánh quận Lệ Thanh.
Sống cảnh cá chậu chim lồng, sống trong căm thù như thế, còn đâu tình người với cây và đất. Cây cao su bỗng hóa kẻ thù, đặc biệt là với đồng bào dân tộc. Họ lén nhổ, chặt phá một diện tích khá lớn. Sự biến tiếp theo là tháng 10/1965 ta phá quận Lệ Thanh. Lo ngại nếu để dân dinh điền ở lại sẽ là một đám lửa cách mạng bùng cháy, Mĩ - ngụy huy động hàng trăm lượt trực thăng, hốt bằng sạch già trẻ, lớn bé rồi phân tán đi các nơi để tiện bề quản chế. Dinh điền trở thành vô chủ. Cao su bị cỏ đuôi chồn lấp dần rồi làm mồi cho lửa. Nhưng đất thiêng không dung tham vọng tội ác. Quốc sách dinh điền đã ra đi với triều đại nhà Ngô…
*
* *
Tháng 4/1975, khi những cánh quân đang thừa thắng xốc tới dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn thì trước đó, tại xã Đại Đồng, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc cũ) Đoàn Mê Linh được thành lập với nhiệm vụ tiếp quản vùng giải phóng Đức Cơ. Một chiến lược phát triển kinh tế - quốc phòng cho dải đất phên giậu của Tổ quốc bắt đầu.
Ngày ấy như bao bạn bè trang lứa, Đại tá Trần Quang Hùng, nguyên Giám đốc Công ty 74, Binh đoàn 15 cũng ghi nhật kí. Đấy là một cuốn sổ đóng bằng giấy kẻ ca rô khổ nhỏ đã ố vàng. Chỉ là những dòng sự kiện vắn tắt và cảm xúc thoáng qua nhưng lật lại nó, cả một quá khứ nhuốm màu bi tráng lại hiện về trong ông…
Tháng 3/1975 ấy, mặc dù chưa hay dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn sụp đổ chỉ một tháng sau đó, 1.000 nam nữ thanh niên, phần lớn chỉ mới rời ghế nhà trường vẫn hăm hở tiến vào vùng đất mà họ gần như chưa có một ý niệm gì.
Hơn một tháng trời hành quân ròng rã, những ý nghĩ lãng mạn của tuổi trẻ cũng phải chùng xuống trước một sự thật khắc nghiệt: ngút mắt là những khoảng rừng xác xơ vì bom đạn. Hàng cây số không nghe một tiếng chó, tiếng gà. Cuộc sống bắt đầu với những dãy nhà tranh tự dựng và mô hình tổ chức của quân đội. Nhiệm vụ đầu tiên của họ chưa phải trồng cao su mà sản xuất lương thực. Để có đất, lính ta được lệnh khai hoang cả những khu vực cao su còn sót lại thời dinh điền. Sáng lưng chén cơm với mấy khúc sắn luộc rồi vác búa ra rẫy. Trưa, tối lại điệp khúc sắn luộc, lưng cơm. Lương thực sản xuất ra phải niêm kho để chuyển ra tuyến trước. Ngay cả sắn chất đầy kho đấy nhưng không phải muốn là lấy ăn. Đói vàng cả mắt. Công việc nặng nhọc, ăn uống kham khổ, giường chiếu chưa bén hơi người, sốt rét đã trỗi lên hoành hành. Với cánh nữ, một căn bệnh còn đáng sợ hơn sốt rét mà người ta gọi là rối loạn công năng. Đang bình thường, thốt nhiên phá lên cười như điên dại rồi chạy lung tung như người mất trí. Có người đang đêm bỗng vùng dậy leo tuốt lên ngọn cây cười sằng sặc. Giữa rừng núi mịt mùng, tiếng cười nghe cứ buốt lạnh cả sống lưng.
Tương lai nào cho cuộc sống này?
Không ít người đã chẳng cần đến một sự dằn vặt. Câu trả lời đơn giản là chạy trốn khỏi cuộc sống mà họ cho là vô vọng này. Có đại đội bỏ ngũ đến một phần ba. Chỉ riêng một xã như Hồng Lạc, 80 người ra đi, trụ lại vỏn vẹn chỉ 6 người. Điều bất ngờ là nam lại trốn ngũ nhiều hơn nữ.
Để tiếp sức cho một thế trận đang núng, những năm 1976 - 1984, hàng ngàn lao động lại được bổ sung để thành lập thêm các nông trường. Trong bối cảnh biên giới hai đầu đất nước đang có chiến tranh, họ vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu trong điều kiện vô cùng gian khổ: cơm độn sắn, cá chuồn khô, Fulro quấy phá... Công nhân là đồng bào dân tộc tại chỗ bỏ đi đãi vàng. Cả đội trưởng, đội phó cũng bỏ ngũ. Lao động thiếu, vốn thiếu khiến nhiều diện tích cao su lần lượt làm mồi cho lửa. Khó khăn muôn nẻo khiến nhiều đơn vị buộc phải ngừng trồng mới...
Đã đến lúc kì vọng cho một vùng đất chiến lược của Tổ quốc cần phải có một mô hình thích hợp. Mô hình đó phải giữ vai trò là một “chính phủ nhỏ” trên địa bàn: từ việc lớn là công ăn việc làm, thu nhập, đến việc nhỏ là cây bút, cuốn vở cho các cháu học sinh. Mô hình đó không chỉ hiệu quả về kinh tế mà phải giữ vai trò quyết định trong việc ổn định chính trị, an ninh quốc phòng trên địa bàn; tăng cường sự gắn bó với các cấp ủy Đảng, chính quyền và tình đoàn kết quân dân…
Đáp ứng các yêu cầu này chỉ có thể là doanh nghiệp quân đội. Nên ngày 20/2/1985, những người lính các Sư đoàn 331, 332, Công ty Cao su Đức Cơ, Nông trường 732… nhận lệnh giã từ phiên hiệu cũ để tụ về trong một đội hình mới: Binh đoàn 15. Một trang mới cho vùng đất dọc dài biên giới từ Đức Cơ đến Mo Ray chưa ai hay đã bắt đầu...
*
* *
Làng Mới của anh hùng chân đất Rơmah Klum. Từ xa đã thấy hồ chứa nước của làng lóng lánh như con mắt xanh dưới cái nắng mùa khô vàng mật. Làng Mới hiện ra trước mắt tôi không giống bất cứ ngôi làng truyền thống nào của người Jrai. Ấn tượng đầu tiên là không gian sống. Không là những mái tôn loá mắt, trần trụi dưới nắng, nhà nào cũng dịu mát dưới tán điều trĩu quả. Rơmah Klum mất đã hơn mười năm nay nhưng trong tâm trí dân làng ông vẫn sống, vẫn hiển diện qua câu chuyện họ kể tôi nghe…
Hơn ba chục năm trước, sau gần hai chục năm đánh giặc, Rơmah Klum trở về làng. Ông không ngờ đôi mắt ráo hoảnh vì đạn bom ác liệt của mình lại phải rơi những giọt lệ giữa thời bình. Dường như chẳng có gì thay đổi từ cái ngày ông giã làng đi đánh giặc: vẫn những đứa trẻ chưa đầy tuổi đã phải đeo lưng mẹ lên rẫy chặt cây, trỉa bắp; vẫn những mái nhà tranh rúm ró xiêu vẹo trên những trảng đất không một bóng cây nuôi sống được người. Đàn ông cả làng ai cũng đóng khố, không có nổi chiếc quần để mặc. Là người J’rai, Klum biết rõ hơn ai hết dân tộc tính của đồng bào mình. Ông biết chọn con đường nào để đi…
Rơmah KLum dẫn 12 hộ thanh niên và 4 hộ gia đình cựu chiến binh theo ông lập làng mới. Binh đoàn 15 đã tiếp sức cho ý nguyện của ông bằng tất cả những gì có thể: đắp hồ chứa nước, tháo gỡ bom mìn, mở đường, giúp dựng nhà… Chỉ một thời gian, cái đói cố hữu của làng ông đã lùi bước. Tuy nhiên, bằng con mắt nhạy cảm của người lính một đời trận mạc, ông hiểu rằng nếu chỉ làm cây lúa thì chỉ hết đói chứ khó thoát được nghèo. Cứu cánh của cuộc sống bền vững trên đất này chỉ có thể là cây cao su. Ông đứng ra xin binh đoàn cho làng ông được vào làm công nhân.
Nhưng những gì mắt thấy tai nghe ở chốn dinh điền xưa vẫn còn lởn vởn. Dẫu biết rằng đây là cao su bộ đội nhưng sự hiểu biết hạn chế khiến người ta cứ lưỡng lự như đứng trước ngã ba. Rơmah Klum một lần nữa lại đi tiên phong. Ông đứng ra trồng 7ha cao su. Niềm tin vào cái mới một lần nữa được Rơmah Klum đặt cược. Dần dần, bà con dân làng nghe ông. Làng Mới trở thành làng đầu tiên đi làm công nhân cao su. Niềm tin được đặt cược đúng chỗ. Bây giờ, hơn 50 hộ làng Mới làm công nhân cao su đã có đời sống khá nhất xã Ia Dơk. Mỗi tháng làng Mới có một số tiền tương đương trước đây làm rẫy cả năm. Nhiều gia đình đã xây nhà kiên cố trị giá hàng trăm triệu đồng. Một cuộc sống có thể nói là chưa có ngay cả trong giấc mơ những ngày cơ cực…
Cạnh đó, giàu chất cổ tích còn hơn làng Mới là làng Poong cùng với một con người từng cầm đầu dân làng chống đối quyết liệt nhà nước trồng cao su để giữ đất cho con bò đi chơi, đó chính là Rơmah M’rao.
Nhớ lại cái năm 1990 ấy làng Poong đói lắm. Làm lúa rẫy chỉ được ba tháng đã hết ăn huống chi lại gặp lúc mất mùa. Người người đi vật vờ trên đường như bị ma lấy mất vía, con mắt lặn sâu như hố củ mài; đến cái khố trễ xuống mà cũng chẳng buồn kéo nó lên nữa. May sao gặp lúc nhà Rơmah M’rao đang cúng con ma. Đói thế này mà có thịt trâu ăn, có rượu uống thật chẳng bằng gặp của Yang cho. Nói ra nghe xấu bụng nhưng cứ mong nó cúng miết thế này cho đến lúc Yàng đổ mưa.
Cả tháng nay rồi, chiều nào M’rao cũng ngồi ôm đầu gối vào bụng. Cảnh làng, cảnh nhà, hai cái buồn cùng đổ lại khiến trong ruột như có bàn tay con gấu đang cào. Vợ M’rao đau. Không biết bệnh gì mà lạ, trong ngực cứ như có con gõ kiến mổ rồi ho, khạc ra máu. Thầy cúng Rơ Ma Chênh đến lấy quả trứng gà đập vỡ, đổ vào chén săm soi một lúc rồi bảo: “Thế này là vợ mày bị con ma nó ăn trong bụng, phải đập trâu cúng thì mới hết được”. Thầy nói chắc đúng quá, không thì sao lại ho rồi chảy máu mồm. Chẳng chần chừ, M’rao cho đập một con trâu kèm một con heo, hai chục ghè rượu để thầy cúng. Cả làng say mềm như cây chuối bị vặn gốc suốt hai ngày. Xong việc, M’rao còn phải tạ thầy một gùi lúa to nữa. Vậy mà lạ, chẳng thấy vợ đỡ chút nào. Hỏi, thầy lại bảo: “Vợ mày bị con ma ăn đã lâu, phải cúng thêm nữa nó mới chịu. Nhà mày có của, lo gì. Vợ mày lành, nó làm ra mấy con trâu nữa cũng được chớ”. Lại phải nghe thầy thôi. Vợ đau, nhà lạnh như không có bếp, khổ quá rồi.
Suốt một con trăng, tuy được đền công 10 gùi lúa nhưng thầy cúng Rơ Mah Chênh cũng phải cúng đến 10 lần. Cái miệng thầy đọc lời khấn cứ đơ ra như phải đấm. Cả đàn trâu 4 con - gồm cả con trâu mẹ to nhất làng, lại thêm 4 con bò, một chục con heo lần lượt ra đi, vậy mà xem ra con gõ kiến mổ trong ngực vợ M’rao lại nhiều hơn. M’rao muốn khóc khi nghe thầy bảo: “Con ma này không chịu ăn trâu bò, không chịu uống rượu, vậy là nó chỉ muốn bắt vợ mày đi rồi!”.
Lúc đó, nếu mà không có Đại tá Xuân, Giám đốc Công ty 75, chắc cha con M’rao cũng xuống làm ma theo vợ.
Chuyện là lúc đó cán bộ công ty đi vận động bà con vào công nhân. Đang buồn như cây lúa chờ mưa, vậy mà nghe nói, bụng M’rao cứ như có ai thả vào cục lửa. Trồng cao su mất hết đất ông bà, mai mốt lấy chỗ nào cho con bò đi chơi. Lại nữa, làm công nhân cao su khổ lắm, con gà chưa xuống đất đã phải dậy rồi. Muốn uống rượu say cho cái chân đá vào nhau cũng không được. Vậy là dù bận vợ đau, M’rao vẫn bí mật chỉ đạo dân làng quyết không đi công nhân, không cho bộ đội khai hoang.
Hôm đó tình cờ sao Đại tá Xuân ghé vào nhà. Nghe M’rao buồn rầu kể đầu đuôi, ông lập tức cho bác sĩ xuống khám bệnh. Bác sĩ bảo vợ M’rao bị bệnh phổi rồi đưa về trạm xá Công ty điều trị. Được 3 tháng thì hết bệnh, khỏe ra như có phép Yang cho.
Nói cho thật thì lúc ấy M’rao chưa tin cây cao su lắm. Miễn cưỡng đăng kí đi công nhân với dân làng cũng là để trả ơn người cứu vợ mình thôi. Nhưng rồi dần dần M’rao nhận ra rằng của cải tích cóp cả đời ông bà để lại, so với mấy năm M’rao làm cao su đâu có hơn gì. Thế mà cứ khư khư ôm lấy đất ông bà để cho cỏ mọc. Đó là chưa nói có tích cóp cả đời, chỉ bị thầy bói phỉnh một lần là tiêu tan hết. Con người ta, cái đầu phải sáng thì bụng mới no được. Muốn thế thì chỉ có đi làm công nhân. Càng nghĩ M’rao càng thấy xấu hổ với cái bụng hẹp của mình. Việc nào mới, mọi người chưa thông, M’rao đi trước làm. Nhà nào khó vận động, M’rao đến trước. Nhiều cái khó lắm. Người càng nghèo càng khó nhưng M’rao biết mình đã đi đúng đường thì dân làng sẽ theo thôi.
Nên từng có một dạo làng Poong xôn xao chuyện nhà M’rao sắm két đựng tiền. Chẳng phải tin đồn mà có thật một trăm phần trăm. Sau hơn hai chục năm dốc sức làm ăn, bây giờ M’rao đã có 10ha cao su, 10ha điều, 3ha cà phê, một cửa hàng tạp hóa, một chiếc xe khách. Tài sản của M’rao, người ta ước tính phải hàng chục tỉ đồng - ấy là chưa kể 3 cái nhà M’rao đã xây cho con rồi máy cày, trâu bò... Sự thức tỉnh của Mrao đã thúc đẩy sự thức tỉnh của một ngôi làng lạc hậu, đói nghèo ngỡ đến kiệt cùng. Làng Poong bây giờ đã đổi thay tới mức khiến người ta phải ngỡ ngàng: 100% có nhà xây, trong đó nhiều nhà xây hai tầng. Số hộ có thu nhập từ ba trăm triệu đồng/năm trở lên chiếm hơn một nửa... Chẳng có phép lạ nào, tất cả đều từ cây cao su. Làng được công ty giao gần 500ha, mỗi lao động đều được đảm bảo từ một suất cạo trở lên. Ngoài ra công ty còn khuyến khích, giúp đỡ bà con trồng cao su tiểu điền, điều, cà phê để tăng thu nhập. Bụng no, đầu càng thêm sáng. Làng Poong bây giờ là một ngôi làng kiểu mẫu. Không có chuyện ăn cắp mủ, không nghe lời kẻ xấu. Ai cũng hiểu làm những việc đó là tự chặt tay mình…
*
* *
Cho đến năm 1999, Bắc Tây Nguyên vẫn còn một vùng đất chưa in dấu chân người khai phá, cùng một tộc người gần như đang sống trong thời bán khai, đó là vùng đất Mo Ray và dân tộc Rơ Măm...
Mùa mưa năm ấy, khi Đoàn kinh tế - quốc phòng 78 (Công ty 78) Binh đoàn 15 bổ những nhát cuốc đầu tiên khai phá vùng đất Mo Ray, tôi đã có một chuyến đi nhớ đời vào nơi thâm sơn cùng cốc ấy. Ngoài thị trấn Sa Thầy cái nắng cuối mùa khô vẫn còn cô đặc, vậy mà chỉ mới bập vào rừng già, không gian bỗng chốc sầm lại như có ai lấy vải che. Nền trời loang lổ, những cơn gió đang phất phơ bỗng lồng lên như roi quất. Rừng vật vã, trắng nhợt dưới làn nước mịt mùng. Vệt đường lọt thỏm giữa hai bờ cây cao vút trước mặt chúng tôi bỗng chốc thành con sông nhỏ. Chiếc U-oat nhảy chồm chồm như cóc giữa dòng nước đỏ ngầu bùn đất. Trái với sự lo lắng của chúng tôi, người lái xe vẫn tỏ ra bình thản: “Dẫu sao thì bây giờ thế cũng đã lí tưởng lắm rồi. Mấy tháng trước con đường còn chưa có hình thù nữa kia”.
Nhưng sự lạc quan của bác tài là hơi sớm. Chỉ tiến được chừng cây số nữa thì xe bị sụp lầy. Hết tiến lại lùi, xoay trái rồi xoay phải, chiếc U-oat vẫn chôn chân giữa vũng bùn đặc quánh. Vậy là người cuốc, người xẻng, chúng tôi xúm vào giúp. Áo quần bê bết bùn đất, cho đến sẩm tối chúng tôi mới thoát được quãng đường kinh khủng. Tuy nhiên ấn tượng của tôi hôm ấy không phải là xe mình bị sụp lầy mà là chiếc xe chở công nhân mới tuyển ở Quảng Bình cùng đi vào. Họ hầu hết là các cô gái trẻ. Mặc bác tài hì hụi gạt bùn, chèn đá chống lầy, các cô cứ ngồi trên xe khóc sướt mướt. Tôi thầm nghĩ chẳng biết rồi trong số họ còn được mấy người dám trụ lại chốn này?
Trở lại Mo Ray khi Đoàn kinh tế - quốc phòng 78 đã vững chân trên vùng đất mới, đi thăm đồng hương tôi mới hay chặng đường hơn hai chục năm vật lộn để trụ được trên vùng đất dữ, có bao điều tôi thật chưa tưởng tượng hết.
Đội 1 có 62 công nhân, quê chủ yếu ở Quảng Bình. Nếu nguyên vẹn phải hơn 80 người. Nguyễn Quang Dũng công nhân của đội này kể: “Em vốn là dân biển nên cứ hình dung vùng đất mới là công trường rộn tiếng ca. Đến nơi hóa ra chỉ một màu rừng hoang lạnh. Hàng cây số không nghe một tiếng chó, tiếng gà. Mùa mưa đất trời sũng nước, cả công ty là một ốc đảo. Mùa khô nắng bỏng da, muôn vật như bị xé ra trong miên man những cơn gió. Đất này họa chăng chỉ có trồng được cây… cột điện. Chuồn khỏi nơi này là đắc sách. Cùng xã Hưng Thủy với em, đi 8 người thì 4 bỏ về… Thực tình là em bấy giờ cũng rất hoang mang nhưng rồi lại nghĩ sau công ty còn cả binh đoàn. Và chăng sức trẻ mà làm không nên ăn thì nhục quá. Nhưng đã xác định ở lại thì phải an cư. Bấy giờ công ty có phong trào “vườn nhà trước, vợ chồng sau”. Vườn nhà không khó, nửa kia mới khó. Bởi lúc tuyển quân tỉ lệ nam nữ tương đương nhưng việc bỏ về của nhiều người đã làm lệch. Có đội 100 nam nhưng chỉ có 20 nữ. Thế là bắt đầu thời kì nở rộ tình yêu. Mỗi đợt sinh hoạt tập thể, mỗi cuộc giao lưu đều là những cơ hội quý giá để gặp gỡ, làm quen. Tìm được đối tượng đã khó, đến với nhau cũng chẳng dễ dàng. Đội này cách đội kia hàng chục cây số, ra khỏi khu tập thể là mịt mùng rừng. Mà hồi ấy ngay nơi ở, đêm đêm cọp còn về rình bắt heo sau nhà. Tư lệnh binh đoàn lên thăm, hỏi công nhân có nguyện vọng gì cấp thiết nhất. Không đôi hồi, các cô nói thẳng: “Xin Tư lệnh tuyển nhiều công nhân nam vào để chúng em có cơ hội lấy được chồng…” Còn giám đốc thì tuyên bố ai về quê lấy được vợ mang vào, công ty sẽ chi tiền tàu xe và thưởng luôn 1 triệu đồng”.
Nghe Dũng kể chuyện, tôi chợt nghĩ, cuộc sống vốn có những điều kì diệu hơn những gì người ta vẫn nghĩ. Điều kì diệu ở đây là tình yêu đã xóa nhòa mọi ranh giới. Chỉ một đội 2, tình yêu đã kết trái 6 miền quê, 5 dân tộc. Vượt qua 5 năm ròng sống giữa ốc đảo, các hộ công nhân giờ ngoài lương còn có thu nhập từ kinh tế hộ. Ở đây công nhân phần đông đều có cao su tiểu điền. Hộ nhiều tới 5ha. Danh xưng tỉ phú chẳng còn xa lạ trên vùng đất vốn chưa ai dám nghĩ tới này…
Kể chi tiết một chút về Đoàn kinh tế - quốc phòng 78, tôi không chỉ để nói về một vùng đất biên cương hoang vu được đánh thức bằng trầm tích mồ hôi của bao người lính như thế nào mà còn muốn nói đến hành trình cứu rỗi số phận của một tộc người cộng sinh trên đất này: dân tộc Rơ Măm.
Người Rơ Măm hiện chỉ quần cư tại một ngôi làng duy nhất, làng Le. Muốn hiểu sử làng không thể không gặp Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn A Dói. Tuy nhiên cũng như dân làng, gốc gác người Rơ Măm trong ông chỉ còn là cái bóng xa mờ. Từ khi cái chân biết giẫm đất, A Dói không nhớ đã cùng cha mẹ theo dân làng du cư qua bao cánh rừng, bao nhiêu con suối. Cũng như các tộc ít người ở Bắc Tây Nguyên này, người Rơ Măm chính là những mảnh vỡ của các bộ tộc vùng Nam Lào sau những cuộc chiến tranh bộ tộc liên miên đã giạt về đây. Họ co mình giữa lưng chừng những rặng núi cao chất ngất để tìm cuộc sống hòa bình. Sống biệt lập, người Rơ Măm như đốm lửa cứ lụi dần bởi cuộc sống hoang dã: khố quấn bằng vỏ cây, ăn thịt sống, hôn nhân cận huyết, chết chôn chung... Thống kê sau năm 1975, người Rơ Măm chỉ còn vỏn vẹn 26 hộ với gần 100 nhân khẩu. Tuy nhiên trong số họ, người Rơ Măm thuần chủng chỉ còn chừng 12 hộ. Chính quyền đã phải tốn rất nhiều công sức vận động họ xuống núi để thay đổi cuộc sống. Tuy nhiên với quan niệm truyền đời đất dưới thấp là đất ma, chỉ gia đình A Dói và ba hộ dám bước qua lời nguyền. Nhưng buồn là sự tiên phong của A Dói không đủ sức thuyết phục dân làng, bởi ông cũng chẳng biết làm gì ngoài chọc lỗ tra hạt cây lúa rẫy truyền đời...
Giờ mỗi lần nhắc lại giai đoạn đó, A Dói thường cười, lúc lâu mới từ từ kể lại:
“Lúc đó mình run trong bụng lắm. Trở lại núi xấu hổ với dân làng chỉ một, xấu hổ với ba hộ theo mình thì mười. Đúng lúc là sự có mặt của cán bộ Công ty 78. Họ vận động mình làm lúa nước. Chà, bảo người Rơ Măm làm lúa nước, chuyện còn lạ hơn thấy họ đi gánh muối. Nhưng các anh đã hứa sẽ cầm tay chỉ việc cho. Không còn đường lui nữa thì phải liều thôi. Vậy là làm. Đúng như đã hứa, các anh cũng xuống ruộng bừa đất, ủ giống rồi cầm tay chỉ cách gieo sạ cho từng nhà. Rồi cứ mươi ngày lại ra ruộng kiểm tra, chỉ cách chăm sóc. Không những làm lúa, các anh còn cày đất, hướng dẫn cách trồng mì (sắn) bán để lấy tiền mua con giống về nuôi. Những con trăng dài như leo núi rồi cũng đi qua. Hôm thu hoạch vụ hai, mình làm một bữa rượu mừng lúa mới, lên núi mời dân làng xuống uống rượu. Nhìn đống lúa to lù trước mặt, ai cũng thọc tay vào như sợ nó không thật trước con mắt mình. Rành là ba nhà nó ở trên núi cũng đói ăn như ai, vậy mà chỉ mới hai mùa rẫy, lúa ăn không hết lại còn mua được trâu, bò...”
Sức thuyết phục của cuộc sống ở đất ma đã kéo cả làng người Rơ Măm xuống núi như thế. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, chăm lo cuộc sống cho dân làng trở thành một nhiệm vụ thường trực của công ty: từ cầm tay chỉ việc làm lúa nước, đến chai nước mắm, túi bột ngọt, lá quốc kì, tấm ảnh Bác để thờ… Sự giúp đỡ bằng cả tình ruột thịt ấy đã đưa một dân tộc từ nếp sống hoang dã bước vào cuộc sống văn minh như có phép màu. Làng Le bây giờ ai cũng biết làm lúa nước, trồng cao su tiểu điền; mọi nhà đều có tivi, xe máy; được dùng điện lưới quốc gia. Một tộc người nhỏ bé với vỏn vẹn 26 hộ ngày ấy, giờ đã nảy nở lên gần 100 hộ với gần 400 nhân khẩu. Đứa con đầu lòng của họ đã bước vào giảng đường đại học. Đốm lửa đang lụi tàn bỗng vụt sáng trên một dải đất biên cương…
*
* *
Tôi có cảm giác 220 thôn, làng trên địa bàn Binh đoàn đứng chân là 220 câu chuyện cổ tích. Và trong mỗi câu chuyện cổ tích ấy lại chứa đựng hàng ngàn câu chuyện cổ tích về sự đổi thay của những phận người. Để có cuộc sống đổi thay ngỡ như huyền thoại ấy, biết bao công sức, trí tuệ, mồ hôi của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ, người lao động Binh đoàn đã nhuần thấm những nẻo đường xanh. Hàng ngàn tỉ đồng được chắt chiu từ hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ sự đóng góp đầy ân tình của cán bộ, chiến sĩ và người lao động toàn Binh đoàn để làm nên hàng trăm cây số đường, hàng chục trường học, bệnh xá và công trình phúc lợi. Hai lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng - tất cả đã kết tinh vào bức tranh muôn màu của cuộc sống, để định hình nên những giá trị không thể lãng quên…
N.T
VNQD