Lê Hải Kỳ sinh năm 1983 tại vùng chiêm trũng liền kề đầm phá Cầu Hai - Tam Giang (nay là xã Phú Lộc, thành phố Huế). Anh tốt nghiệp Cử nhân Báo chí tại Trường Đại học Khoa học Huế, hiện là hội viên Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng, là một trong những tác giả trẻ với giọng thơ giàu cảm quan hiện thực và cảm thức hiện sinh. Tôi gọi đó là thi pháp thơ và kiểu thơ “khi người ta trẻ”, cháy hết mình với khát vọng tình yêu.
Là cây bút có cá tính sáng tạo và tạo được hiệu quả nghệ thuật, đến nay, Lê Hải Kỳ đã có cho riêng mình 02 tập thơ: Trăng hạ huyền đã cháy (2022), Mộng mù thi (2025). Anh đã nhận Tặng thưởng thơ của Tạp chí Non Nước năm 2022; Tặng thưởng văn học của Hội Nhà văn TP Đà Nẵng năm 2023; giải Nhất cuộc thi thơ Nét đẹp người thợ điện Việt Nam năm 2023; giải B, Cuộc vận động sáng tác Văn học - Nghệ thuật TP Đà Nẵng năm 2025; và mới nhất là Giải thưởng Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2025.

2 tập thơ của Lê Hải Kỳ.
Trong bài viết ngắn này, tôi muốn đề cập đến đề tài hấp dẫn, nổi bật trong thơ Lê Hải Kỳ: đề tài tình yêu. Dù không tuyên ngôn nhiều, nhưng qua thơ, chúng ta nhận ra anh là người rất trữ tình, lãng mạn, nhưng thích triết lí. Anh hiểu rất rõ về bản chất kỳ diệu này của nhân sinh.
Có thể nhận xét một cách khái quát về chất thơ và hồn thơ Lê Hải Kỳ như sau: Từ cuộc sống trực quan thời hiện tại đang tiếp diễn mà mình từng cảm nhận và nếm trải, anh không ngừng thao thức, nghĩ suy về sự tồn tại của mỗi phận người trong dòng chảy thao thiết của thời gian và hành trình sống để sáng tác nên những bài thơ giàu suy tư, triết nghiệm. Cảnh vật và con người thời hiện đại luôn được anh thao thức và cắt nghĩa thông qua từng quan hệ hiện sinh cụ thể và nhân ái.
Dù là cây bút trẻ, nhưng anh luôn nghĩ về sự hiện hữu và yếu tính của mỗi chủ thể, trong đó, có hành vi và suy cảm của chính mình để nhận thức và lựa chọn hành vi đạo đức theo phán đoán đúng. Anh luôn ý thức và tìm cách trả lời câu hỏi: Mình là ai?Mình là người như thế nào? Vì vậy, trong cuộc sống và tình yêu, từ sự sống trải của chính mình, anh luôn truy tìm ý nghĩa đích thực của từng quan hệ, từng hoàn cảnh để suy tư và sáng tạo. Đó là trách nhiệm cao đẹp của người cầm bút trẻ, luôn mong thơ mình chân thật và có ích.
Cuộc sống và nghề nghiệp giúp anh có điều kiện đi nhiều, quan sát nhiều và có cơ hội bổ sung thực đơn tinh thần và tri thức cho mình từ thiên nhiên, xã hội đến lịch sử, văn hóa để từ đó, hình thành cảm hứng thơ, hình tượng thơ và ngôn từ thơ chân thật, nhưng phức hợp, đa thanh. Như nhiều nhà thơ trẻ khác, Lê Hải Kỳ quan tâm trước hết là đề tài tình yêu ở tập thơ đầu tay, đến tập thơ sau, anh quan tâm đến đề tài quê hương, đất nước, con người và cảnh quan ở các vùng địa - văn hóa, địa - lịch sử khác nhau mà anh có dịp tiếp xúc, gắn bó. Từ vốn sống đó, anh biến chúng thành cảm xúc nội tâm để tạo nên những bài thơ mang hồn sự sống thật có khả năng nội cảm trong lòng người đọc.
Thực ra, tình yêu luôn xuất phát từ sự rung động của trái tim. Mà trái tim thì có lí lẽ riêng của nó, dù ai đó đã nói: “Thực ra tình yêu rất đơn giản, chỉ cần hiểu rằng, những thứ quá tầm với vốn đã chẳng thuộc về mình, thôi đừng đuổi theo một giấc mộng viễn vông” (Khuyết danh). Thế nhưng với Lê Hải Kỳ, anh cảm nhận được sự sự mong manh, lỗi hẹn từ những dỗi hờn vô cớ nên vẫn đam mê theo đuổi. Vì vậy mà trong anh, luôn có một trạng thái trống rỗng (empty state) hiện ra nếu thiếu em bên cạnh. Khi đó, anh sẽ trở thành một người khác - một kẻ bị lưu đày và hấp hối trong mòn mỏi khát yêu nơi huyệt mộ:
nếu thiếu em,
tôi biết mình sống mòn vất vưởng
câu thơ dò dẫm lối nào cũng chạm nỗi điêu linh
và khối tình khoét đêm thành huyệt mộ
hấp hối một cơn say…
(miền mĩ tửu)
Bởi vì như em biết đấy, mọi người trên thế gian này, ai cũng biết mình tồn tại và cần phải được yêu, được hồng phúc trong tình yêu: “ta và em/ và triệu triệu người trên trái đất/ tồn tại là có thật/ ai may mắn sẽ kịp ghi dấu tên mình lên phiến thời gian” (phiến thời gian). Vì vậy mà khi chưa được yêu, chưa thuộc về nhau, người thơ nhập hồn vào em trong tưởng tượng: “em tinh khôi hay tình tôi tinh khôi/ bỏng môi/ giòn yếm lụa/ phập phồng cài then”. Và khi đó, em lặng im trước bao điều u ẩn: “em giấu nghĩ suy trong mắt/ tôi soi bóng tôi/ chới với/ đôi mắt hút trong, ngần toả long lanh”. Chỉ còn đêm nói với tôi những mật ngữ của trái tim: “đêm nói với tôi/ một người đặc biệt, những ưu tiên đặc biệt và cả chế tài đặc biệt/ mến thương lén đượm tỏ bày/ / tôi nguyện được làm bờ ngực ấm/ vùi em giấc tinh khôi” (chờ).
Cách thổ lộ tình yêu và triết lí khi yêu của Lê Hải Kỳ bao giờ cũng bất ngờ và ảo diệu, như cách để anh thể hiện những hoang hoải và bất ổn của cõi lòng: “em và tôi,/ hai mảnh vỡ/ kiêu hãnh mà xanh”. Kiêu hãnh để được chạm vào nhau sự trần trụi thơm tho của đôi ngực trần và sự thẳm đen của ánh mắt em trong chiều cả gió:
tôi đẫm vào em khi trái tim không mặc áo
trái tim học đòi thi sĩ chẳng bao giờ biết tự vệ trước hương hoa
niềm tin chết ngạt trong chiếc bình xuyên không
lặng im tái sinh
thơm như ánh mắt lướt qua chiều chướng gió
vọng lại phiến ngực trần chưa một lần chạm mùa đông
(kiêu hãnh xanh)

Tác giả Lê Hải Kỳ.
Vậy có cách gì để cứu vãn tình thế trống vắng này. Chỉ có cách là phủ nhận nó, xem đó như là cơ chế của tâm lý tự vệ nhằm khôi phục niềm tin, khôi phục sự hiện hữu em: “tôi thấy em chồi non/ tôi thấy em sương nõn/ tôi thấy em thổ cẩm thời gian/ màu thời gian ngấm vào tôi xù xì đá xám/ lời hẹn thề tạc vũ điệu hoang dã cùng tận huyền bí thâm sơn” (đổ vào bóng núi). Nhờ vậy mà hình bóng em luôn hiện về trong mộng mị. Và anh là người cầu mong em ở lại cùng trăng, cùng hương hoa phủ dụ người xưa để ru cơn mê ái tình mất ngủ: “xin trăng,/ đừng soi thấu tâm can mùa thu cũ/ dành một chút hoang vu phủ dụ người xưa”. Khi ấy, không cần em để ý đến anh làm chi nữa, có hương thức cùng đêm ám dụ anh rồi:
và em nữa
đừng thương nỗi buồn ru cơn mất ngủ
cứ để hương thức cùng tôi
trắng đêm hoa
hoặc cũng có thể:
thơ là ngữ ngôn dành riêng cho trái tim mất ngủ
từng nhịp
từng nhịp
mộng mị thiên hương
(những sợi tóc mất ngủ)
Và chỉ có thơ là cứu cánh để khi ước mơ hiện về, thơ như người tình - là em để anh cầu hôn bằng trái tim dại ngộ hát ru lời yêu em/ yêu thơ hòa tan vào biển cả: “tôi cầu hôn thơ bằng ngọn sóng/ khi lòng ngùn ngụt phong ba/ / trái tim si đứng trước biển quá đỗi thật thà/ xin em là ga cuối/ giữa trùng khơi bể đời/ / giữa trùng khơi bể người/ tôi nguyện yêu thơ đến khi nào trời thôi thiên thanh, hải lưu thôi nóng lạnh/ mặn mòi bao lấy phù sa” (cầu hôn thơ). May ra, giữa sóng gió trùng khơi, tình yêu được vỗ về trong thanh lặng: “lặng im/ lặng im để nghe đêm thở// biết đâu,/ tình vùi trong gió/ đong đưa…” (phố tiễn). Và may ra, phép thắng lợi tinh thần này giúp anh cạn em, tận cùng em và tan nhau trong miền nhớ và tưởng tượng:
tôi cạn em
bâng lâng miền nhớ
càng tỉnh càng say
uống làm sao hết khi ngày lên men.
(ngày lên men)
Lối vào tình yêu và triết nghiệm khi yêu của Lê Hải Kỳ phải nói là bất ngờ và dùng dằng neo buộc. Vì vậy mà, dẫu chia xa, nhiều lúc muốn quên, nhưng chẳng thể nào quên được vì em đã thường trực trong tâm hồn anh như tượng thần tình yêu không bao giờ phai nhạt: “làm sao tôi có thể quên em mà vẫn sống bình thường/ khi không thở không nghĩ không nhìn/ và vứt bỏ trái tim/ sợ lắm,/ trăng rụng thủng đáy sông” (để nghe trăng thì thầm) dẫu hiện tại trong anh “nỗi nhớ trào trắng xoá/ mùa sương thiên di” (sương thiên di).
Vậy là tôi đã lần theo lối vào tình yêu trong Trăng hạ huyền đã cháy và Mộng mù thi của Lê Hải Kỳ để đồng cảm và thao thức về những vui buồn, ân nghĩa quanh đời mà anh muốn gửi đến mọi người bằng tiếng nói thi ca trẻ trung, đầy tin yêu và trách nhiệm. Với các chủ đề khác, anh cũng tạo được giá trị riêng ở góc nhìn hiện thực, lịch sử và văn hóa, nhưng rất tiếc trong bài viết này, tôi chưa kịp tiếp nhận và bình phẩm. Chỉ riêng về đề tài tình yêu như vừa tìm hiểu, chúng ta đã nhận ra ở anh một gương mặt thi ca trẻ đầy khát yêu và dâng hiến.
Điểm đáng quý ở Lê Hải Kỳ là anh không giả tạo, làm dáng bằng kiểu trò chơi ngôn ngữ hoặc lạ hóa về cấu trúc thơ. Anh viết theo cảm xúc và sự thôi thúc bên trong của chính mình. Thơ anh lay động người đọc bởi chất sống thật và cảm quan triết mĩ mới mẻ, nhưng dễ hiểu thông qua ngôn từ, hình tượng và cái nhìn nghệ thuật linh động. Trong đội ngũ những người làm thơ trẻ hiện nay, thơ Lê Hải Kỳ tạo được giọng điệu riêng, được bạn đọc tin yêu và quan tâm đón nhận.
***
Vỹ Dạ - Huế, 3/2026
HỒ THẾ HÀ
VNQD