. NGUYỄN THANH TÚ
Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đem đến một sức sống mới cho văn hóa Việt Nam. Đây thực sự là đường lối, là ánh sáng, là điểm tựa cho văn học nghệ thuật nước ta phát triển đi lên trong bối cảnh toàn cầu hóa văn hóa. Vấn đề là chúng ta cụ thể hóa đường lối này như thế nào.

Lễ vinh danh những tác phẩm văn học và nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu, xuất sắc
sau ngày đất nước thống nhất. Ảnh: TL
Triết học văn hoá hiện đại rất chú ý tới khái niệm tính người, coi mỗi con người là một cá thể văn hoá phát triển trong một môi trường văn hoá nhất định. Mỗi cá nhân như một cây xanh tươi tốt, xum xuê cành lá là nhờ nó luôn cắm rễ rất sâu vào mảnh đất truyền thống để hút từ đó những dinh dưỡng tinh hoa. Đồng thời cây xanh ấy luôn vươn cao hô hấp, quang hợp ánh sáng, không khí của bầu trời văn hoá đương đại. Nếu cây được trồng ở mảnh đất dù có rất giàu dưỡng chất truyền thống mà thiếu ánh sáng và khí trời của thời hiện đại thì nó cũng còi cọc, và ngược lại. Nhìn vào mỗi cây xanh kia, cường tráng tươi tốt hay héo úa người ta có thể đoán cây ấy được trồng ở mảnh đất văn hoá nào, quang hợp thứ ánh sáng nào. Nếu văn hoá là gương mặt tinh thần của mỗi con người thì đến lượt con người lại mang gương mặt tinh thần của mỗi dân tộc. Ở cái thời cả đất nước ta bừng bừng một khí thế bảo vệ và xây dựng đất nước, tất cả đoàn kết thành một khối lí tưởng, khí quyển xã hội dường như trong vắt, “vô trùng” thì câu thơ của một nhà thơ nổi tiếng tưởng chừng chỉ là cách nói lãng mạn bay bổng lại là rất thật: “Gặp mỗi người đều muốn ghé môi hôn.”
Nhìn từ khái niệm tính người trên sẽ cho chúng ta một cái nhìn hệ thống đồng bộ hơn trong việc tạo sức mạnh đề kháng và những giải pháp chống suy thoái văn hoá. Nghị quyết 9 đã gặp gỡ với tinh thần triết học văn hóa hiện đại trên thế giới là lấy con người làm trung tâm, con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng thụ hưởng văn hóa. Quan điểm của Nghị quyết cũng có thể coi là triết học văn hóa Việt Nam: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mĩ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Để có một tác phẩm nghệ thuật như quan điểm này nhà nghệ sĩ phải trở về với cuộc sống nhân dân. Cuộc sống ấy vừa là cái nôi, là mảnh đất màu mỡ, vừa là cảm hứng, vừa là đối tượng sáng tạo của nghệ thuật. Bất kì một nghệ thuật chân chính nào, trước nay cũng đều bắt nguồn từ đời sống, phản ánh và phục vụ đời sống. Và như vậy mới có thể làm tròn sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”.
Cái đẹp nằm trong cuộc sống, là bản thân cuộc sống. Người nghệ sĩ phải đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để khám phá, sáng tạo.
Năm 1960 Bác Hồ kêu gọi: “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng. Vì vậy, nội dung văn hoá phải có ý nghĩa giáo dục… Văn hoá phải gắn liền với lao động sản xuất. Văn hoá xa rời đời sống, xa lao động là văn hoá suông.”(*) Thế nhưng đề tài thường gặp của văn học nghệ thuật hôm nay là gì? Là tình yêu, tình dục, tiền vàng, là chuyện cướp bóc, tù tội, là những suy nghĩ quẩn quanh, vụn vặt… Những cái đó đều là đời sống, thuộc về đời sống nhưng dứt khoát không phải là điều cơ bản, không phải là ý nghĩa mang tầm thời đại, không phải là hơi thở của thời đại hôm nay. Chủ nghĩa Mác quan niệm hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Văn nghệ là một hình thái ý thức nên càng phải cắm sâu vào mảnh đất hiện thực để hút lấy chất dinh dưỡng của cuộc đời. Thoát li hiện thực, nghệ thuật nhất định khô héo. Vậy thì một trong những cách để thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật hôm nay là tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế, càng nhiều càng tốt, càng sâu càng hay. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tài năng. Không có cách nào khác muốn rèn luyện tài năng thì người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống muôn màu muôn vẻ kia. Để phát hiện những năng khiếu, điều kiện cần có của tài năng cũng phải tìm từ đời sống. Trong lịch sử văn hóa nhân loại cũng chưa có thiên tài nghệ thuật nào không được gieo hạt, nảy mầm, bắt rễ, lớn lên, trưởng thành từ cái nôi đời sống. Các đại thụ văn chương thế giới, trước khi có những trước tác đồ sộ, họ cũng đều là những người lăn lộn với cuộc đời: Lỗ Tấn từng là một bác sĩ, du học ở Nhật Bản và đi rất nhiều nơi trên đất Trung Hoa rộng lớn; A.Chekhov vốn là một nhân viên ngành y đã làm một cuộc vạn lí vượt Siberia mênh mông đến tận đảo Sakhalin; M.Gorky đi hầu khắp nước Nga; để trở thành một tiểu thuyết gia S.Dickens trước đó làm nghề ghi tốc kí ở Nghị viện Anh, nhờ đó mà hiểu sâu sắc đời sống các chính khách; các nhà văn Nga thế kỉ XIX như: A.Pushkin, M.Lermontov, N.Nekrasov, L.Tolstoy… đều đã từng tham gia đấu tranh chống chế độ nông nô và phải đi khổ sai, tù đày.
Bác Hồ rất chú trọng vấn đề chủ thể trong sáng tạo nghệ thuật và luôn nhắc nhở các nghệ sĩ phải luôn cố gắng tăng cường bồi dưỡng, giáo dục, ý thức tư tưởng chính trị thường xuyên. Có thể ví phẩm chất chính trị và tài năng như hai cánh của con chim, thiếu một cánh, chim không thể bay được, một cánh yếu một cánh khỏe chim không thể bay được xa. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận đang có tình trạng buông lỏng vấn đề này. Một số đơn vị nghệ thuật còn coi nhẹ việc giáo dục chính trị tư tưởng cho văn nghệ sĩ, quan niệm phiến diện, coi đó chỉ là vấn đề hình thức, còn chuyên môn mới là quyết định. Lại có thể ví cấu trúc nhân cách của người nghệ sĩ như một ngôi nhà thì ý thức chính trị lại là nền móng. Nền móng ý thức vững vàng thì ngôi nhà tài năng mới có thể cao to, đẹp đẽ được. Vì sao vậy? Vì tác phẩm văn học nghệ thuật là một sản phẩm văn hóa tinh thần đặc thù được cấu thành bởi các giá trị tinh thần đặc biệt của người nghệ sĩ, trong đó phải có hai thành tố quan trọng là tâm huyết và tài năng.
Tâm lí học sáng tạo nghệ thuật khẳng định trong cấu trúc tư chất ở người nghệ sĩ, thì điều trước hết cần có là giàu tình cảm, dễ xúc động và rất nhạy cảm. Trong khoa học thì tình cảm nằm trong tiền đề sáng tạo còn trong nghệ thuật thì tình cảm nằm ngay trong thành phần sáng tạo. Để phát minh ra vấn đề gì mới thì trước đó nhà khoa học phải có niềm đam mê mãnh liệt, cháy bỏng để làm việc đến quên ăn quên ngủ. Tâm huyết ở nhà nghệ sĩ đòi hỏi phải cao gấp nhiều lần nhà khoa học. Trước khi hát anh ta phải hiểu và yêu bài hát ấy, khi hát anh ta còn phải hát với tất cả tình yêu của mình, hát bằng cả con người mình, biểu hiện, thể hiện bằng cả con người mình. Nghệ thuật không thể tầm thường đã đành, nghệ thuật phải trên mức thông thường là như vậy. Quy luật của nghệ thuật là quy luật của tình cảm. Tình yêu, đấy là điều cốt tử của nghệ thuật. Cây nghệ thuật có tươi mát, có xum xuê hoa trái là nhờ được trồng trên mảnh đất của tình yêu. Thiếu tình yêu nghệ thuật sẽ không tồn tại. Tình yêu luôn tìm đến tình yêu. Người nghệ sĩ có yêu nghệ thuật hết lòng, có đam mê phục vụ công chúng hết lòng thì “hữu xạ tự nhiên hương”, sẽ được tình yêu của công chúng đáp lại. Một nghệ sĩ đã hết tình yêu thì cũng đồng thời tự đánh mất tài năng. Tình yêu không tự nhiên có mà do giáo dục, do rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Đang có một nguy cơ là chúng ta quan tâm tới đào tạo tài năng mà ít chú ý tới giáo dục đạo đức về ý thức công dân. Một thực tế: các môn triết học, mĩ học, đạo đức học, giáo dục học… trong các trường nghệ thuật gần như bị thả nổi.
Tài năng nghệ thuật luôn là hiếm hoi, bởi không chỉ có cần cù mà phải có năng khiếu mới tạo tiền đề để có một con người nghệ sĩ. Hiếm cho nên quý. Do vậy rất cần tạo ra một cơ chế riêng ưu đãi cho giới nghệ sĩ. Nghệ sĩ luôn sống bằng cái tôi, tôn trọng, coi trọng cái tôi. Rất cần tạo ra một môi trường cái tôi đặc thù của nghệ sĩ phát triển lành mạnh. Nhưng họ cũng là một công dân, dù có tự do trong cái tôi thì vẫn phải ý thức được trách nhiệm công dân của mình bằng cách sáng tạo ra những tác phẩm phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân.
N.T.T
* Hồ Chủ tịch với một vài vấn đề văn hoá, văn nghệ, Nxb Sự thật, 1965, tr.107-108.
VNQD