Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề

Thứ Tư, 13/05/2026 00:27

. ĐỖ VIẾT NGHIỆM
 

Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỉ, so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sống làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.

Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ sáng tác văn học, ông còn viết kịch bản phim truyện điện ảnh, kịch bản phim video, kịch bản phim truyền hình và cả kịch bản sân khấu. Các tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn trở thành hiện tượng, nói hơi hình ảnh một chút, cái mẹ vừa ra đời không lâu đã đẻ ngay ra cái con, nó nhanh và nhiều đến mức không còn gọi là nở rộ nữa, mà là bùng nổ trên nhiều phương diện, chiếm sóng truyền thông ở nhiều loại hình khi đó. Ở đây tiểu thuyết được xem như là chất xúc tác đầu tiên, xuất bản liên tục, dựa vào đấy để điện ảnh ăn theo, đặc biệt thể loại phim truyền hình gần như rất đắt sô. Điều này có vẻ đúng với quẻ tử vi của nhà văn Lê Phương, tác giả nổi tiếng với tiểu thuyết Thung lũng Cô Tan lúc bấy giờ phán câu chắc nịch: “Số ông chỉ có hành phương Nam mới là đất dụng võ”. Vậy câu hỏi đặt ra: Tại sao nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn làm được điều đó? Vào giai đoạn phần nhiều nhà văn chúng ta vẫn viết theo lối mòn, thiếu bứt phá, trong khi hiện thực đã thay đổi, môi trường thay đổi, thậm chí cảm xúc cũng đang dần thay đổi từng ngày, Nguyễn Mạnh Tuấn đã mạnh dạn đổi mới, nhìn thẳng, nói thật. Tôi cho rằng đấy là sự khác biệt.

Hơn nửa thế kỉ sau, năm 2025, trong cuốn Chua ngọt đời văn, Nguyễn Mạnh Tuấn mới bộc bạch mọi vui buồn của đời viết văn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm. Tôi có cảm giác viết văn chưa hẳn là ánh hào quang như ta tưởng, đôi khi nó là một canh bạc, cho những ai đam mê theo đuổi nghiệp văn chương.

Và đây, xin bắt đầu từ một câu hỏi: Nhà văn có thể sống bằng nghề?

Câu hỏi này không mới. Ngay cả các nhà văn tên tuổi gạo cội, dù ngày đó số lượng chưa nhiều, cũng phải thốt lên chua chát: Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/ Cơm áo không đùa với khách thơ (Xuân Diệu). Với cụ Tản Đà lại còn thảm hại hơn một bậc: Văn chương hạ giới rẻ như bèo. Nhìn rộng ra, thế giới có như mình hay không? Có đấy, người sống được bằng nghề viết văn cũng rất hiếm hoi, như J.K.Rowling sinh năm 1965, người Anh, nổi tiếng với bộ truyện giả tưởng Harry Potter; Stephen King sinh năm 1947, người Mĩ, với văn phong lôi cuốn, sức viết kinh khủng có tới hơn 60 tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm kinh điển như It, Shining, Carrie và được chuyển thành phim cực hot; châu Á có Haruki Murakami sinh năm 1949, người Nhật, nhận nhiều giải thưởng nhưng giải Nobel văn học từng nhiều lần được đề cử vẫn chưa thành công, đáng chú ý ông có hẳn một tác phẩm về nghề viết tiểu thuyết.

Nhìn chung, đại đa số nhà văn để sống được phải nhờ vào nguồn thu nhập bên ngoài việc bán sách hoặc được sự hỗ trợ từ giải thưởng. David Foenkinos - nhà văn đương đại nổi tiếng Pháp cho biết: “Ở Pháp có tới 99% người viết văn không sống bằng nghề của mình được” (Tần Tần, phỏng vấn David Foenkinos, 99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn, znews.vn).

Bàn về tuổi thọ của mỗi tác phẩm, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng: “Đa số các tác phẩm - cả văn học, sân khấu lẫn điện ảnh - đã sống được lâu hơn ba năm, chắc nhờ may mắn. Còn viết được tác phẩm để đời và lưu danh muôn thuở, tôi tin không ít người cầm bút cũng biết điều sơ đẳng là: hàng triệu nhà văn trên thế giới mới có một người đạt được cái đích ấy. Rồi trong vạn người ở cái đích ấy, chỉ có chừng 30% là chân tài; còn 70% nhờ cơ hội và ăn theo môi trường”. Một người như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, đời viết dài như thế, kinh nghiệm trường văn trận bút dày như thế, vẫn chỉ đoán mình “chắc nhờ may mắn”. Nói như vậy tôi cho là khá chính xác như trường hợp J.K.Rowling đã nói ở trên. Để đạt được đỉnh cao lưu danh muôn thuở, bà từng bầm dập khi bản thảo đầu tay gửi qua 12 nhà xuất bản đều bị từ chối. Thật tuyệt vời, hiện nay chẳng những hơn ba năm, Harry Potter gần như được cả thế giới đọc và xem trên phim, đặc biệt với trẻ em là vô cùng hấp dẫn.

Như vậy có thể nói, người viết văn rất khó sống bằng nghề. Đấy là cái “chua” thứ nhất, như Nguyễn Mạnh Tuấn chia sẻ trong tác phẩm Chua ngọt đời văn. Những phần tiếp theo, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn muốn bạn đọc biết thêm chi tiết về cái sự “chua”, cái sự “ngọt” mà thôi. Chuyện làm phim triệu USD với Hollywood - Mĩ, là vị ngọt đáng nhớ khi ông được đặt hàng kịch bản phim điện ảnh. Nhưng không phải như mộng tưởng triệu đô ban đầu, đồng tiền của một đại đế quốc giàu bậc nhất thế giới cũng không dễ xơi của nó. Lối viết hài hước, hấp dẫn: một thằng con Mĩ tuềnh toàng thích ăn cà pháo mắm tôm, còn rành hơn cả chủ nhà bản địa, xuất hiện như trên trời rơi xuống.

Ở đây vấn đề đặt ra không còn là chuyện kịch bản phim nữa, mà là câu hỏi làm sao một gã lạ hoắc người Mĩ lại tìm tới Nguyễn Mạnh Tuấn. Thế mới biết những kẻ làm nghề chuyên nghiệp rất tinh, do vậy cũng chẳng bất ngờ với Nguyễn Mạnh Tuấn và cả chúng ta là vì thế! Vào giai đoạn này những kẻ “săn đầu người” rất hiểu nhà văn viết cái gì, vì tên tuổi Nguyễn Mạnh Tuấn đang gây chú ý tại Việt Nam với phim Biển sáng, chuyển thể từ tiểu thuyết Đứng trước biển và sau đó là Cù lao Tràm. Ông cũng có ba cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Anh, nên cũng là nguồn để họ nắm bắt. Nhân đây cũng xin trích lại một đoạn, lời nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thổ lộ để làm rõ thêm: “Ở nước ta, nhà văn muốn sống bằng nghề, đừng bận tâm về sự thật giả lẫn lộn, từ mọi nguồn thông tin các giá trị tác phẩm. Nhiều nhà văn ta, hễ có bài thơ, truyện ngắn dịch ra tiếng một nước có nền văn học rất khiêm tốn, là lập tức cả nước biết. Thực tình, tác phẩm nào của mình trúng số xuất ngoại cũng đáng được chúc mừng. Nếu có, điều không đáng mừng chỉ ở chỗ phần nhiều các tác giả này lại lấy đó làm thước đo, coi mình hơn hẳn những tác giả, tác phẩm chưa ra ngoài biên giới. Rồi khi sách được dịch sang một nước tư bản giàu mạnh nào đó, các nhà văn này lập tức tin mình thuộc tầm cỡ thế giới”. Vậy ở đây thông điệp với các người viết văn là gì? Nếu mình có tài, thì dù xa mấy, chân trời góc bể nào, họ cũng sẽ nhận ra! Thú vị thật, cú này dù không đúng như giấc mơ đầu tiên, chỉ vài ngàn đô thôi, nhưng lại là mở màn cho hàng loạt trái ngọt, trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Mạnh Tuấn.

Chuyện bảy năm đi hầu tòa, là cú chua thứ hai mới khiếp. Tôi vốn là một người cực nhát, nên khi đọc xong tập sách cũng rờn rợn nổi hết cả da gà. Chuyện gặp phải một tên lưu manh đúng nghĩa, vu cho Nguyễn Mạnh Tuấn ăn cắp bản quyền vở cải lương Tướng cướp Bạch Hải Đường. Cái đáng trách nhất đứng đằng sau kẻ lưu manh ấy, có cả những nhân vật có máu mặt trong làng nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giờ giật dây, chỉ lối. Bảy năm đi hầu tòa lao tâm khổ tứ đầy chua chát. Nhưng mừng, cuối cùng lẽ phải đã thắng! Và đúng như ông cụ thân sinh Nguyễn Mạnh Tuấn từng nói: “Viết văn là một nghề bất an”.

Từ Chua ngọt đời văn tôi nhận ra, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là một người có cá tính mạnh. Rất có thể là vậy, ngày Nguyễn Mạnh Tuấn viết Những khoảnh khắc còn lại, Đứng trước biển, Cù lao Tràm còn khá trẻ, nếu không nhầm ngày ấy ông mới chừng ba mươi, hay già vài ba năm tuổi gì đó. Những năm 80 của thế kỉ trước, các nhà văn chúng ta phần nhiều vẫn viết theo lối cũ, như đã nói ở trên. Theo tôi, bước ngoặt đột phá đối với Nguyễn Mạnh Tuấn đều đến từ những đơn đặt hàng, mà “đặt hàng” người ta thường vẫn hay định kiến đó là một loại sản phẩm có kế hoạch, phải viết theo nhà đầu tư nêu ra, nên không có gì vẻ vang cả. Sòng phẳng mà nói, viết như vậy là viết vì tiền! Nguyễn Mạnh Tuấn thì khác, vẫn nhận đặt hàng, xem đấy là cơ hội, nhưng khi thực hiện thì ông viết hoàn toàn khác. Nguyễn Mạnh Tuấn viết với thái độ tôn trọng sự thực, rồi sáng tạo, biến hóa, tung tẩy… Có lẽ vậy, ông nhanh chóng định danh được tên tuổi mình. Đấy là điều cũng không giống ai, bầm dập ban đầu, nhưng chói sáng về sau. Vậy gợi ý ở đây là gì? Nhà văn phải luôn làm mới chính mình trước, nếu không muốn bị tụt lại phía sau.

Viết câu chuyện nhuận bút Liên Xô có khủng hay đường đi khoản nhuận bút cuốn sách đầu tiên, thực ra là để Nguyễn Mạnh Tuấn chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu cho chính mình và cho bạn bè mà thôi. Ngày đó, Nguyễn Mạnh Tuấn cùng nhiều nhà văn Việt Nam khác đang theo học tại trường Gorki, Liên Xô, bất ngờ được thông báo tới nhận tiền nhuận bút cho tiểu thuyết Những khoảnh khắc còn lại và truyện ngắn Thanh bình dịch sang tiếng Nga là 4.000 rúp. Mừng quá, nếu đánh quả làm con buôn một chuyến, mua hàng điện tử rẻ như bèo, về Việt Nam bán thu tiền cả đống (nhưng không sao chở nổi và có muốn họ cũng chẳng cho). Đúng như quan niệm rất nhân văn của người Việt “lộc bất tận hưởng”, 4.000 rúp là một số tiền khủng, nhưng sau đó vợ chồng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có cách ứng xử trên cả tuyệt vời, “xả bớt lộc cũng là cơ trời” giúp những người bạn lúc khó khăn mới khiến ta nể phục.

Nhưng hậu Đứng trước biển và hậu Cù lao Tràm lại cho tôi nhiều suy tư trăn trở. Giới văn chương chúng ta vẫn thường mắc phải cái bệnh đố kị và tự mãn kiểu “văn mình vợ người”. Chuyện đồn tiểu thuyết Đứng trước biển không phải của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết, mà của nhà văn Lê Phương, hay ông Y bà Z… khá buồn cười. Có người còn cho rằng tác giả chính là nhà văn Hà Phương, vợ Nguyễn Mạnh Tuấn, anh ta chỉ đứng tên thôi.

Làm sao lại có chuyện ấy? Vì bấy giờ, Cù lao Tràm đang làm dậy sóng Hậu Giang và các tỉnh miền Tây. Rõ ràng họ nghi ngờ tài năng của Nguyễn Mạnh Tuấn, một người siêu rượu, như nhà văn tự bạch. Thời còn ở miền Bắc, những năm chiến tranh ông tham gia thanh niên tình nguyện đi lên vùng Tây Bắc, chủ yếu là công việc cơ bắp, giờ nghỉ việc ban chiều uống rượu suông, mong có được giấc ngủ ngon qua đêm để lấy lại sức cho ngày hôm sau. Nhưng từ khi vào Sài Gòn, Nguyễn Mạnh Tuấn gần như bỏ rượu hẳn. Lạ thật, rượu chẳng bao giờ liên quan tới văn chương, nhưng vẫn bị thiên hạ vu cho cái tội không rượu, không trà, không thuốc, thiếu ba thứ ấy không là nhà văn. Hồi năm 1986, 1987 người ta còn bảo là may, nhờ có các ông ở Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh dàn xếp, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thoát không đi cải tạo. Thế đấy, đừng quá mộng mơ nhiều vào nghề viết văn, nó không bằng phẳng trơn tru, nó cũng chẳng ngon ngọt như đường sữa, ngược lại có khi còn gặp nhiều xui xẻo. Đấy là cái chua thứ ba, rất nên cẩn trọng.

Chua ngọt đời văn viết theo phương pháp hỏi và đáp, dù không phải là thủ pháp tối ưu, nhưng theo tôi đó là một kiểu lựa chọn sắc sảo. Bởi chỉ có thủ pháp này Nguyễn Mạnh Tuấn mới bộc bạch được hết điều độc giả cần biết, nó chua như thế nào, ngọt ra sao trong nghề viết văn. Bản chất của hỏi và đáp là tạo ra được sự tương tác, thu hút và giữ chân người đọc, khơi dậy sự tò mò, khiến họ muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở những trang viết.

Đa số tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có số trang viết khá dài, vậy có đi ngược với xu hướng tối giản trong văn học hiện đại? Chủ nghĩa tối giản (minimalism) nhấn mạnh sự đơn giản hóa, loại bỏ chi tiết thừa, để tập trung vào yếu tố cốt lõi. Gần đây nhất nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có Linh ứng, Kẻ khôn hơn vua đều dày trên bảy trăm trang. Cuốn Chua ngọt đời văn dù không tới mức ấy, nhưng vẫn là dài. Dù vậy, tôi vẫn khẳng định tối giản hay không tối giản, đâu quan trọng. Dài mà hay, hấp dẫn, vẫn là số một. Với Nguyễn Mạnh Tuấn, một nhà văn thuộc lớp “chân tài” trên văn đàn văn chương Việt Nam đương đại, viết dài là đặc điểm của ông.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2025
Đ.V.N

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)