Lò đào tạo “ngôi sao bay”

Thứ Tư, 07/01/2026 06:13

Sau những ngày mưa, sáng chủ nhật, sắc nắng vàng tràn ngập khiến cổng Trường Sĩ quan Công binh nằm bên đường Bạch Đằng ở phường Thủ Dầu Một, TP Hồ Chí Minh, nơi được coi là xứ sở của những cây dầu bừng sáng, lung linh mà uy nghiêm. Bước qua cánh cổng, bỏ lại sau lưng bức tranh sống động ấy, tôi đến với một thế giới khác, thế giới của nơi đào luyện, chắp cánh cho những ước mơ cống hiến. Từ xa, những tán dầu cổ thụ xòe bóng như bàn tay che chở, rì rào trong gió. Dưới khoảng trời xanh ấy, từng quả dầu vàng nhạt như những ngôi sao quay tít, chao nghiêng rồi nhẹ nhàng “hạ cánh” xuống mặt đất. Hình ảnh ấy giúp tôi liên tưởng tới sự trưởng thành của bao thế hệ học viên từng học tập, rèn luyện dưới mái trường này. Họ cũng như những quả dầu kia. Thời gian học tập trong Nhà trường giúp họ tích lũy kiến thức để chắp cánh ước mơ để rồi khi đã đủ lông đủ cánh họ như những “ngôi sao bay” rời mái trường đến mọi nẻo đường Tổ quốc và tỏa sáng.

Từ nhà Truyền thống nhìn ra, Đại tá, Trần Thanh Khôi, Chính ủy Trường Sĩ quan Công binh thường ví khuôn viên rợp bóng dầu như “vườn ươm” của bộ đội công binh. “Quả dầu bay đi đâu cũng có thể nảy mầm thành cây. Học viên công binh tốt nghiệp ở đây, về bất cứ đơn vị nào cũng sẽ vững vàng bám trụ, cống hiến.” Lời anh chậm rãi, như hòa cùng tiếng gió. Chúng tôi hiểu rằng: Chính từ mái trường này, bảy mươi năm qua, biết bao thế hệ sĩ quan công binh đã trưởng thành, để lại dấu chân và chiến công từ rừng sâu Việt Bắc, biên giới Tây Bắc, Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Lật từng trang lịch sử của nhà trường, tôi càng thấm thía những gì mà lớp lớp cha anh đã tạo dựng.

Tháng 7 năm 1947, khi kháng chiến chống Pháp còn ngổn ngang trăm bề, những lớp học công binh đầu tiên được Cục Công binh tổ chức gấp gáp tại rừng chiến khu. Trong lán tranh, trên nền đất gồ ghề, học viên ngày học bộc phá, đêm thực hành đặt mìn. Thầy trò vừa giảng dạy, vừa khắc phục thiếu thốn, vừa đối mặt bom đạn địch. Vậy mà, hơn 120 học viên của bốn khóa đầu tiên đã ra đời, trở thành những cán bộ công binh tiên phong, mở đường cho chiến trường.

Từ năm 1949, Phân khoa Công binh thuộc Trường Lục quân Trung học Trần Quốc Tuấn thành lập ở Thái Nguyên. Những người thầy đầu tiên, như đồng chí Ung Răng, Nguyễn Quang Lanh vừa là cán bộ chỉ huy vừa là giảng viên, miệt mài nghiên cứu soạn giáo án. Học viên được học phá hoại, bắc cầu, vượt sông, xây công sự… Bài học nào cũng gắn chặt với thực tiễn chiến trường. Khi hành quân ra chiến dịch Biên giới, Tây Bắc, Hòa Bình, họ mang theo kiến thức học được, góp phần mở ra những tuyến đường huyết mạch, dựng nên chiến công “Mở đường thắng lợi” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, câu nói của Bộ Chỉ huy chiến dịch “Không có đường, không có chiến dịch này” là triết lí quân sự phù hợp với đặc thù cuộc chiến và nghệ thuật quân sự Việt Nam còn vang vọng. Hình ảnh những đoàn xe thồ, những nhịp cầu phao bằng tre nứa, là dấu ấn trí tuệ và mồ hôi công binh, trong đó có biết bao học viên từ những lớp học sơ khai ấy.

Ngày 26/12/1955, tại Nội Ninh (Bắc Ninh), Trường Sĩ quan Công binh chính thức thành lập và khai giảng khóa bổ túc đầu tiên với 250 học viên. Từ đó, ngày 26/12 trở thành Ngày truyền thống của nhà trường.

Thời chống Mĩ, mái trường anh hùng này nhiều lần sơ tán về Yên Thế, Lục Ngạn, Quế Võ… để tránh bom đạn, vừa dạy, vừa chiến đấu. Giảng đường khi là căn nhà tre lợp tranh, khi là hầm đất dưới rừng. Các thế hệ học viên chưa kịp học xong đã khoác ba lô lên đường vào Nam. Họ đem theo hành trang là kiến thức công binh vừa học được, tinh thần gan dạ và tình yêu Tổ quốc. Nhiều người đã hóa thân vào đất, như: Hiệu trưởng Dương Quang Chương hi sinh năm 1967, giáo viên Lê Văn Sự ngã xuống trên đường Trường Sơn, hay Anh hùng liệt sĩ Bùi Ngọc Dương vốn được ví “La Văn Cầu của Bộ đội Công binh”. Câu chuyện về những người thầy, người trò ngã xuống trong khói lửa như những trang sử viết bằng máu, hun đúc nên phẩm chất của một ngôi trường anh hùng. Đó không chỉ là nơi giảng dạy mà còn là chiến trường, nơi mỗi tấc đất thấm mồ hôi và cả máu xương của thầy trò.

Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 3/1977, Trường Sĩ quan Công binh chuyển vào Thủ Dầu Một (Bình Dương). Bên bờ sông Sài Gòn, mái trường dần ổn định, khang trang, nhưng vẫn giữ nguyên chất lửa của truyền thống “mở đường thắng lợi”.

Trải qua các chặng đường đổi tên, nâng cấp, từ Trường Sĩ quan Chỉ huy Kĩ thuật Công binh đến Trường Đại học Ngô Quyền, nhà trường hôm nay đã trở thành trung tâm đào tạo sĩ quan công binh bậc đại học, tham gia đào tạo nguồn nhân lực dân sự, hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học.

Dẫu trong thời bình, gian nan vẫn còn đó. Lũ lụt ở Yên Phong năm 1970, hàng trăm cán bộ, học viên lao vào cứu đê, để lại dấu ấn “Trường sĩ quan trong lòng dân”. Những năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia, biết bao thầy trò đã đổ mồ hôi, máu, dựng cầu, mở đường, gieo hạt giống tình hữu nghị.

Với những thành tích nổi bật, bảy mươi năm qua, nhà trường đã được tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Quân công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng trên hết, phần thưởng lớn nhất chính là những lớp sĩ quan công binh trẻ trung, kiên cường, tỏa đi muôn nơi.

Trở lại giảng đường trong buổi trưa nắng, tôi bắt gặp hình ảnh quen thuộc: dưới gốc dầu rợp mát, nhóm học viên say sưa ôn thi. Hình ảnh ấy khiến chúng tôi nhớ lại hình ảnh của Thượng sĩ Phạm Minh Phúc cách đây mấy năm. Lúc ấy, trong phút giải lao ôn thi tốt nghiệp, Phúc gảy đàn ghi-ta, cất lên khúc hát: Từ giảng đường tiến bước ra thao trường… Ngày lại ngày dưới nắng lửa, mồ hôi rơi… Tiếng hát hồn nhiên, căng tràn nhiệt huyết tuổi đôi mươi, hòa cùng tiếng gió, tiếng chim, tạo nên một bản hòa âm rất riêng của mái trường bên sông. Phúc là một trong những “ngôi sao chiến thắng” của khóa học, hai năm liền Chiến sĩ thi đua cơ sở. Câu chuyện của em là minh chứng cho sức bật từ các mô hình “Đôi bạn cùng tiến”, “Thanh niên tiến quân vào khoa học công nghệ”, hay “Tuần học kiểu mẫu” mà nhà trường phát động. Giờ đây, ở một đơn vị nào đó, Phúc đã là chỉ huy phân đội và phát huy những gì được các thầy truyền dạy trong thực tiễn.

Đại tá, tiến sĩ Nguyễn Duy Cảnh - Hiệu trưởng nhà trường tâm tình với chúng tôi, ở mỗi tiểu đoàn, hình ảnh ấy không hiếm. Học viên miệt mài nghiên cứu bản đồ, sơ đồ cầu phà; giảng viên tận tình hướng dẫn vẽ tay văn kiện tác chiến ngoài thực địa, không cho phép chuẩn bị trước, buộc trò phải nắm chắc nguyên lí, sáng tạo ứng biến. Ở thao trường, những buổi diễn tập thời chiến được tổ chức, từ chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu đến xây dựng khu trú quân, vượt sông, bắc cầu… tất cả như đưa học viên đến gần hơn với thực tiễn chiến trường.

Đại tá Trần Thanh Khôi, Chính ủy nhà trường, khẳng định: “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.” Bởi thế, mỗi bước đổi mới, mỗi chương trình đào tạo, đều được thiết kế sát với nhu cầu của đơn vị công binh toàn quân. Đó là bốn chương trình sĩ quan phân đội bậc đại học, sĩ quan dự bị, đến cả chương trình dành cho lực lượng công an… tất cả đều nhằm chuẩn hóa, hiện đại hóa.

Trong năm học 2024–2025, nhà trường đào tạo 12 đối tượng với 52 đầu lớp, hơn 60% học viên đạt khá giỏi, gần 100% rèn luyện đạt khá, tốt. Những con số ấy không chỉ khô khan, mà là minh chứng cho một môi trường đào tạo nghiêm túc, đổi mới, gắn lí thuyết với thực hành.

Bước vào Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, tôi gặp Trung tá, tiến sĩ Phạm Văn Duy, Chủ nhiệm Bộ môn Tâm lí - Giáo dục. Anh chia sẻ: “Muốn dạy hay, trước hết phải vượt qua sức ì của chính mình.” Hai năm liền anh là Chiến sĩ thi đua cơ sở, với những bài giảng khô khan được biến thành cuốn hút, giàu sức sống. Anh bảo: “Mỗi người đều có một “bến vượt”. Vượt qua được nó, mới có thể truyền lửa cho học trò.”

Những người thầy như anh, như bao cán bộ giảng viên khác, chính là cột mốc vững chắc giữ cho ngôi trường anh hùng luôn sáng ngời. Họ không chỉ dạy kiến thức mà còn gieo vào tâm hồn học viên tình yêu binh nghiệp, lòng tự hào về truyền thống công binh.

Chiều muộn, từ con phố Bạch Đằng lộng gió, tôi nhìn về phía doanh trại Trường Sĩ quan Công binh. Tiếng hành khúc vang vọng: Qua bao nhiêu năm trên chặng đường chiến thắng…

Trong căn phòng hội trường, tôi từng nghe Hiệu trưởng Nguyễn Duy Cảnh đọc mấy câu thơ của Chế Lan Viên trước đoàn cán bộ, học viên lên đường ra Trường Sa: Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt…/ Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…

Tiếng pháo tay dậy lên, át cả tiếng máy cầu phà ngoài thao trường. Tôi hiểu rằng, với họ - những thầy trò nơi đây - tình yêu Tổ quốc, khát vọng cống hiến luôn là mạch nguồn.

Hướng tới năm 2030, Trường Sĩ quan Công binh đặt mục tiêu trở thành “nhà trường thông minh, hiện đại”, chuẩn hóa mọi mặt, xây dựng đội ngũ giảng viên 95% đạt chuẩn, 25% tiến sĩ, có phó giáo sư, nhà giáo ưu tú. Mỗi năm hàng chục đề tài khoa học, hàng trăm giáo trình mới ra đời. Trên nền tảng ấy, ngôi trường bên sông Sài Gòn tiếp tục khẳng định vị thế trung tâm đào tạo sĩ quan công binh hàng đầu, vươn ra khu vực.

Khi chia tay nhà trường, tôi ngoái lại, thấy những quả dầu vàng xoay tròn trong gió. Mỗi quả dầu là một “ngôi sao bay” - bay đi, gieo mầm, thành cây, thành rừng. Bảy mươi năm qua, Trường Sĩ quan Công binh cũng vậy: Từ những lớp học tranh tre nứa lá đã vươn lên thành một nhà trường anh hùng, sản sinh biết bao thế hệ sĩ quan công binh - những ngôi sao sáng trên bầu trời Tổ quốc.

Hành khúc bên sông Sài Gòn sẽ còn vang mãi, như nhịp bước kiêu hãnh của người lính công binh Việt Nam, những người luôn đi trước, mở đường, làm nên thắng lợi. Và trong âm hưởng ấy, ngôi trường anh hùng vẫn bền bỉ gieo mầm, ươm lửa, để hôm nay và mai sau, những “ngôi sao bay” tiếp tục tỏa sáng trên bầu trời non sông.

NGUYỄN MẠNH THẮNG

VNQD
Thống kê