. NGUYỄN ĐỨC HÀ
Trên chiếc ca-nô quân sự rẽ sóng, chúng tôi theo đoàn công tác do thượng tá Nguyễn Chí Thanh - Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa thăm Đồn Biên phòng Bích Đầm. Buổi sáng, mặt biển xanh phẳng lặng như tấm lụa trải dài vô tận. Ca-nô lướt trên những con sóng bạc lấp lánh để lại phía sau chuỗi bọt trắng kéo dài như một dải khăn voan khổng lồ. Gió biển ùa vào mặt, mằn mặn, mát lạnh, đánh thức mọi giác quan. Tiếng động cơ hòa cùng tiếng sóng vỗ lanh lảnh bên mạn ca-nô, vọng vào không gian thanh khiết mùi muối, mùi nắng, mùi xa xăm của biển.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bích Đầm trên đường tuần tra ven biển
Vịnh Nha Trang mở ra bốn phía, rộng đến mức mắt nhìn xa mỏi mệt, chỉ thấy đường chân trời nối biển với trời thành một đường mỏng manh màu bạc. Xa xa, đảo Hòn Tre hiện lên, sẫm màu dưới nắng như bức tường xanh neo chặt giữa mênh mông nước. Những bè nuôi thủy sản lốm đốm trên mặt biển, nhỏ nhoi nhưng đầy sức sống. Đoàn công tác có người trẻ, người lớn tuổi, có chiến sĩ lần đầu ra đảo, có nhà văn đã quen biển từ lâu. Nhưng trong khoảnh khắc ca-nô cưỡi lên lưng sóng, ánh mắt ai cũng lấp lánh, ngỡ ngàng.
Gần một giờ lênh đênh trên biển, Bích Đầm bắt đầu hiện ra phía trước. Những mái nhà thấp nhỏ áp mình bên sườn núi, những rặng dừa nghiêng mình soi bóng xuống nước, những con đường uốn vòng như dòng chỉ trắng giữa nền xanh. Và đặc biệt nhất là tiếng cười của trẻ con vang lên từ bãi cát. Chúng chạy ào ra cầu cảng như đón người thân lâu ngày xa cách. Từng tiếng gọi ríu rít vang lên, trong trẻo và nhẹ như gió. Mái tóc của chúng thổi tung theo sóng gió; hai má ánh hồng dưới nắng. Chỉ nhìn thấy thế thôi cũng đủ để lòng người chợt mềm đi, mọi mệt mỏi tan biến.
Trung tá Phùng Văn Thành - Chính trị viên Đồn Biên phòng Bích Đầm đón đoàn ngay cầu cảng. Anh bắt tay từng người, hiền hậu và gần gũi. Điểm đến đầu tiên của đoàn là Nghĩa trang liệt sĩ đảo Bích Đầm. Con đường dẫn lên nghĩa trang đã được đổ bê tông bằng phẳng, một bên là rặng cây xanh êm đềm, một bên là biển xanh dịu dàng. Người dẫn đường là bác Võ Ngọc Anh - Chi hội phó Hội Cựu chiến binh tổ dân phố Bích Đầm. Bác chậm rãi chỉ từng điểm trên đảo, kể những câu chuyện mà nếu không có người già ở đây, có lẽ sẽ trôi theo sóng nước mà biến mất. Bác Võ Ngọc Anh kể ngày xưa, vào mỗi mùa đánh bắt, ngư dân từ Phú Yên, Bình Định xuôi vào vùng biển này. Ban đầu, họ chỉ dựng tạm những túp lều tranh để trú ngụ qua mùa nam, đánh được bao nhiêu cá lại chở về đất liền bán. Nhưng rồi, vẻ êm dịu của đầm nước xanh, sự yên lành của sóng gió và nguồn cá dồi dào đã giữ chân họ. Lâu dần, những người đi biển mang theo vợ con đến ở hẳn, lập nên làng xóm, biến vùng biển hoang sơ thành mái nhà cố định.
Tên gọi “Bích Đầm” bắt nguồn từ màu nước xanh biếc, trong vắt, phẳng lặng quanh năm. Cũng vì vị trí kín gió mà nơi đây trở thành nơi tránh bão lí tưởng của ngư dân qua nhiều thế hệ. Nhưng chiến tranh biến chốn yên bình thành chiến khu. Dưới thời kháng chiến chống Pháp, Bích Đầm trở thành nơi nuôi dưỡng cách mạng. Ngư dân không chỉ đánh cá mà còn chở tài liệu, gửi gạo, giấu cán bộ. Thực dân Pháp sợ dân tiếp sức cho cách mạng nên cưỡng bức dời làng và phá đình. Dân dựng lại đình, chúng lại phá. Và cứ thế, ngôi đình của Bích Đầm ba lần sụp đổ vì giặc nhưng cũng ba lần hồi sinh nhờ lòng dân.

Đoàn công tác dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ đảo Bích Đầm
Nghĩa trang liệt sĩ Bích Đầm có năm phần mộ như năm ngôi sao chiếu rọi phần tâm linh, lịch sử. Những liệt sĩ đa phần là cán bộ xã, thôn, chèo thuyền nhỏ vượt sóng lớn trong đêm tối để liên lạc, tiếp vận, chuyển tin. Có người hi sinh ngay trên biển, thân xác nằm lại dưới tầng nước lạnh. Có người được chôn cất vội vã. Có người mãi nhiều năm sau mới tìm được hài cốt để đưa về quy tập. Mộ ngày xưa nằm sát mép biển, từng bị sóng đánh hư hao, người dân đã chuyển lên sườn đồi cao như hiện nay.
Sau khi thắp hương ở nghĩa trang xong, đoàn trở về Đồn Biên phòng Bích Đầm. Đồn nằm nép mình bên sườn đảo, mái hiên hướng thẳng ra biển. Gió mặn thổi vào, lay nhẹ tách trà xanh còn nghi ngút khói. Giữa tiếng sóng rì rào, giọng trung tá Phùng Văn Thành vang lên ấm áp, chậm rãi. Anh kể, Bích Đầm không chỉ là nơi ở, mà còn là điểm giữ gìn, bảo vệ vùng biển quanh năm. Những người lính nơi đây vừa huấn luyện sẵn sàng chiến đấu vừa tuần tra bảo vệ, quản lí khách du lịch tới lưu trú, hỗ trợ tàu cá gặp nạn, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho bà con.
Nỗi lo lớn nhất của đảo là nước ngọt. Người dân đào giếng, hứng mưa, dùng từng giọt chắt chiu. Mùa khô, có giếng chỉ bơm được vài gàu là cạn, phải chờ mạch ngầm hồi lại. Biên phòng cũng vậy, tích trữ nước trong bể lớn, chia thành từng thùng nhỏ cho nấu ăn, giặt giũ. Không ai dám phung phí.
Điện lưới chưa đến. Cả đảo sống nhờ điện mặt trời và máy phát theo giờ của điện lực. Ngày nắng, điện ổn nhưng chỉ cần mưa dầm vài hôm, thiết bị sạc yếu, sóng điện thoại mất hẳn. Cột sóng Viettel trên đỉnh núi cũng chạy bằng năng lượng mặt trời, nên những ngày âm u, đảo chìm trong khoảng lặng không kết nối.
Bích Đầm ít dân, địa hình phức tạp, chi phí lớn, nên điện lưới vẫn là giấc mơ. Thượng úy Hoàng Duy Minh - Trạm trưởng Trạm kiểm soát Biên phòng Bích Đầm dí dỏm kể: “Nghe em kể đóng quân ở Nha Trang ai cũng khen sướng như tiên. Nhưng rủ ra ngoài này chơi, chỉ cần một đêm không có điện, không có quạt, nóng hầm hập, sáng hôm sau có khách đòi về ngay.”
Còn với đại úy Hoàng Tuấn Anh - Phó Đồn trưởng nghiệp vụ, đã có gia đình nhưng sống xa vợ. Tuấn Anh quê Quảng Trị lấy vợ là người Khánh Hòa. Trước kia, chỗ làm của vợ anh chỉ cách nhà vài cây số nhưng sau khi chuyển công tác, nơi làm việc nằm sâu trong khu khai thác của công ti, cách nhà hơn 50 cây. Hai vợ chồng hiện vẫn ở bên phía gia đình vợ, còn Bích Đầm cách đó gần 90 cây. Có những chuyến đi, cả đường xa lẫn việc riêng, mất tới hơn chục tiếng, mắt cay vì gió và vì thiếu ngủ mà không dám chợp mắt, chỉ sợ ngủ quên giữa đường. Thế nhưng mỗi lần nhớ tới nụ cười của vợ, anh lại có thêm sức mạnh.
Buổi chiều, các nhà văn có nhã ý đi thăm xóm dân cư. Đường làng nhỏ, lát bê tông, hai bên là những ngôi nhà đơn sơ có mái ngói đỏ. Mùi cá vừa phơi sớm còn vương trong gió. Cánh cửa nhiều nhà mở rộng là dấu hiệu quen thuộc của đảo nhỏ: Ai cũng biết nhau, cũng thương nhau, chẳng cần khóa cửa.
Mấy đứa trẻ đạp xe tới, bánh xe lăn lạo xạo trên nền bê tông, bụi cát bám lên ống quần rồi tung bay trong gió. Chúng dừng lại ngay trước sân Trạm kiểm soát, miệng nở những nụ cười rạng rỡ như nắng sớm, rồi cất tiếng gọi vang rộn: “Chú Minh ơi! Nghỉ tay ra chơi với bọn cháu!” Tiếng gọi ấy trong veo, bật lên giòn tan giữa khoảng không yên ả, rồi lan vào gió biển, ngân dài như tiếng sóng vỗ bờ. Giữa nhóm nhỏ ấy, cháu Lê Ngọc Thư, học sinh lớp 3 trên đảo, đứng bên khung cửa gỗ. Mái tóc lòa xòa nhẹ bay theo gió; đôi mắt đen láy, long lanh như phản chiếu cả một khoảng trời biển xanh thẳm phía sau. Trẻ con ở đây không có đồ chơi công nghệ, điện thoại cũng chẳng có, ánh mắt chúng long lanh, giọng nói trong trẻo, chân tay chạy nhảy suốt ngày. Chúng cười rạng rỡ đến mức người lớn nhìn vào cũng thấy ấm áp lạ thường.
Cuộc trò chuyện về văn chương nhen lên giữa tiếng sóng vỗ mạn, xoay quanh những trang viết về biển đảo, về người lính nơi đầu sóng, về kí ức và cả tương lai rộng mở. Những nhà văn từ đất liền nói rằng họ muốn quay trở lại nơi này nhưng không phải đi theo đoàn hay theo lộ trình sẵn có mà để tự mình gặp từng người dân, ngồi bên những mái nhà nhìn ra biển, lắng nghe những câu chuyện mà chỉ Bích Đầm mới có. Họ muốn viết về vùng đất này như một không gian sống đang mở ra từng trang mới, vừa hiện đại vừa nguyên sơ, vừa bình dị vừa sâu lắng.
Đoàn công tác đứng trên cầu cảng, hướng ánh mắt về đảo lần cuối trước khi rời bờ. Mỗi người giữ trong lòng một sự trầm ngâm riêng, như muốn thu vào mắt từng gam màu của Bích Đầm. Bất chợt, nhà văn Hồ Kiên Giang cất câu vọng cổ. Âm sắc ấm và mềm, nhịp ngân chậm rãi: Lời riêng này anh gởi cho em. Từ thành phố thân yêu anh gởi về nơi đó. Nhớ biển Nha Trang đêm hè lộng gió. Mặt nước xanh rờn con sóng khẽ lời ru… Giọng hát hòa vào tiếng sóng, tiếng gió, tiếng lá dừa xào xạc trên cao. Tất cả quyện vào nhau, thành một lớp âm thanh trầm sâu và dịu ngọt.
Rồi đến lúc ra về, ca-nô khẽ rung lên, động cơ bật tiếng rì rầm quen thuộc như lời chào bịn rịn với đảo. Bích Đầm lùi dần phía sau, mái nhà thu bé lại, bờ cát nhạt đi, hàng dừa mờ trong nắng chiều. Con sóng khẽ lời ru, tiếng gió thổi, bóng núi Cơ Bà xanh thẳm, nụ cười trẻ thơ sáng như nắng và những người lính lặng lẽ giữ đảo… vẫn vẹn nguyên hình bóng trong tim.
N.Đ.H
VNQD