Từ Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo, chúng tôi về Sơn Thủy dọc theo tuyến đường vành đai biên giới. Đón chúng tôi, đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy xã, Trung tá Lương Văn Khăm, được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa cử về làm cán bộ tăng cường xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn đưa đoàn đi nắm tình hình thực tế địa bàn. Trên đường đi hỏi chuyện, mới biết anh người dân tộc Thái, quê ở xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân. Trước khi về với Sơn Thủy nhận trọng trách và vai trò là một cán bộ tham mưu, Khăm là Đội trưởng Đội Kiểm soát hành chính Đồn Biên phòng Tam Chung (Mường Lát).

Trung tá Lương Văn Khăm (thứ tư từ trái sang) trong một lần tuần tra biên giới
Nhớ lại ngày đầu đi tìm hiểu địa bàn ở Sơn Thủy, Khăm mướt mồ hôi nửa ngày trời cuốc bộ mới lên đến Mùa Xuân và Xía Nọi. Ngày đấy hai bản này vẫn tồn tại ba không là không điện, không đường, không sóng điện thoại. Một năm sau thì điện về đến bản, sóng điện thoại cũng về theo, chỉ còn con đường lên với hai bản vẫn là đường cấp phối đang thi công dang dở, ngày nắng thì bụi mịt mù, đất đá lởm chởm, ngày mưa thì lầy lội, sạt lở, đá chắn, suối cắt. Có những khi cả nửa quả đồi sạt xuống thế là nội bất xuất ngoại bất nhập.
Chưa kể, Khăm được đào tạo ra làm lính biên phòng, đấu tranh với các loại tội phạm, kĩ chiến thuật trong chiến đấu bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới… là chủ yếu, còn nghiệp vụ công tác đảng, nghiệp vụ quản lí nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng biên, rồi soạn thảo các Quy định, Nghị quyết, Chỉ thị… anh đã được đào tạo ngày nào đâu. Đành phải vừa làm vừa học, vừa trưởng thành qua thực tiễn công tác.
Cũng may, ở đó anh vẫn còn những người đồng chí, những người anh em sẵn sàng trải lòng với anh trong công việc, giúp anh vượt qua những bỡ ngỡ buổi đầu. Đó là người anh Vi Thanh Gión, Bí thư Đảng ủy xã; Lương Văn Duyên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; cùng Hà Văn Tân nguyên là Chủ tịch xã Sơn Thủy. Những người đã chia sẻ với anh bằng cả lòng cảm phục và quý mến đối với một người lính biên phòng về tham gia gánh vác, san sẻ việc “nhà”.
Từ họ, anh dần hiểu bà con trên này vẫn mang nặng tư tưởng làm ăn kiểu cũ, được mất nhờ trời, thích thì đi làm không thích thì nghỉ ở nhà rong chơi, nhiều người vẫn làm theo kiểu tự phát, không theo lịch thời vụ của xã, trong đó có cả cán bộ thôn bản, cán bộ ủy ban cũng mang tư tưởng dễ dãi ấy. Từ thực tế đó, anh cho rằng cần phải tập trung vào việc tìm ra các giải pháp phát triển kinh tế, sử dụng các nguồn hỗ trợ từ các dự án của nhà nước làm sao cho hiệu quả, chấm dứt tình trạng hỗ trợ đến đâu hết đến đó, hỗ trợ bao nhiêu hết bấy nhiêu. Đồng thời phải tìm cách tăng thêm nguồn thu cho người dân chứ không dừng lại ở mấy cây măng theo mùa. Khi đã nắm được tình hình địa bàn, anh tham mưu cho Đảng ủy, chính quyền, lập dự án, chỉ đạo ban quản lí của hai bản, tổ chức cho bà con trồng cây vầu, trên những diện tích nương rẫy cũ, thường xuyên bị chuột khuy phá hoại. Tập trung chăm sóc, nhân rộng diện tích cây đào, cây mận theo hướng chuyên môn hóa, chỉ đạo cán bộ khuyến nông thực hiện bồi dưỡng kiến thức chăm sóc cây trồng vật nuôi cho bà con. Tranh thủ mọi nguồn lực hỗ trợ từ trung ương, tỉnh, huyện về giống cây giống con, về phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc phòng chữa bệnh cho gia súc gia cầm để giúp bà con đỡ chi phí…

Cán bộ xã Sơn THủy hướng dẫn bà con chăm sóc cây
Đồng thời, nhận thấy ở đây có thể trồng được lúa hai vụ nhưng tập quán người Mông trên này chỉ làm một vụ thời gian còn lại thích lối sống lang thang vào rừng kiếm ăn, anh đã tham mưu cho lãnh đạo xã vào cuộc vận động, hỗ trợ, hướng dẫn đồng bào cấy hai vụ lúa, cải tạo lại hệ thống thủy lợi của bản, đảm bảo nguồn nước cho cây lúa, đặc biệt là vụ đông xuân. Sau khi tranh thủ ý kiến tham mưu của cán bộ nông nghiệp xã trong việc đối phó với điều kiện thời tiết khắc nghiệt vào mùa đông, Khăm chủ động bàn với Thường vụ xã triển khai cấy lúa hai vụ. Khi còn làm ở Tam Chung, Khăm biết không hẳn là bà con người Mông ngại việc mà lí do chủ yếu là họ chưa tin vào tính khả thi của việc cấy lúa mùa đông mang lại hiệu quả nên mới có chuyện để đất trống một vụ. Người Mông vốn không ưa mạo hiểm, họ thích sự chắc ăn, đó là lí do vì sao họ thà đeo gùi vào rừng đào củ mài còn hơn xuống ruộng cấy lúa. Để thay đổi nhận thức này cần phải có người tiên phong làm trước để bà con thấy hiệu quả mà làm theo.
Thống nhất với đề xuất của Khăm, Thường vụ Đảng ủy xã mời Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã là Thao Văn Công (người bản Mùa Xuân) cùng với trưởng hai bản là Sung Văn Cấu (Mùa Xuân) và Tráng A Súa (Xia Nọi) lên triển khai kế hoạch. Thường trực kêu gọi những người này với vai trò là đảng viên cần thể hiện tinh thần tiên phong, đi trước, gương mẫu, đồng thời kêu gọi thêm anh em, người thân trong gia đình tham gia làm thí điểm mô hình lúa vụ đông xuân dưới sự hướng dẫn và giám sát chặt chẽ của Phó Bí thư Lương Văn Khăm và cán bộ nông nghiệp xã.
Nhưng đúng năm đó mùa đông nhiệt độ xuống thấp kỉ lục, nước đóng băng bề mặt, nhiều khả năng cây lúa sẽ chết nếu không can thiệp kịp thời. Cần phải tìm thêm được mạch suối ở các ngọn núi đất nước sẽ ấm hơn mạch suối đá, dẫn nước về để cứu lúa. Để tiện cho việc theo dõi, chăm sóc Khăm đã đề nghị các hộ làm thí điểm ngay từ đầu tổ chức dồn thửa lại thành một khu tập trung ngay gần bản. Những ngày đội gió đội rét, băng rừng vượt núi Khăm và cán bộ nông nghiệp xã cùng với hai trưởng bản quyết tâm tìm bằng được mạch nước ấm. Gái có công thì chồng không phụ, những đường ống dẫn từ mó nước sâu trong núi đất đưa nước về tận ruộng. Giải quyết xong khâu “nhất nước” tiếp tục đến “nhì phân” dưới sự hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp các hộ lấy tro bếp trộn với phân lân vãi cho lúa để ủ ấm gốc và tạo sức đề kháng cho cây, chờ khi thời tiết ấm lên cây có sức để sinh trưởng và phát triển bình thường.
Vụ chiêm xuân thí điểm của chục hộ với hơn 2 hecta lúa đã cho kết quả ngoài sức mong đợi. Trời vào tiết lập xuân cây lúa vươn lên mơn mởn, ngăn ngắt xanh và cho mùa bội thu. Mọi hoài nghi, mọi xôn xao trù ẻo trước đó tan biến, người dân trong bản đã tận mắt được thấy, tận tay ôm từng bó lúa nặng trĩu hạt, họ không còn lí do gì để nghi hoặc nữa.
Hiện nay việc trồng lúa hai vụ của hai bản vẫn được duy trì và năng xuất ngày một cao nhờ một phần bà con đã nắm vững kĩ thuật chăm sóc thêm vào đó Khăm luôn yêu cầu cán bộ nông nghiệp xã mang đến cho bà con giống lúa mới tốt nhất, phù hợp nhất, cho năng xuất cao nhất. Không dừng lại ở các cánh đồng ven suối, những năm qua việc khai hoang, phục hóa, diện tích trồng lúa ngày càng được mở rộng, đến nay tổng cả hai bản Mùa Xuân và Xía Nọi đã có hơn 26ha lúa nước hai vụ. Hơn sáu cây số đường ống dẫn nước đảm bảo nước tưới cho cả hai vụ lúa chiêm và mùa. Nhìn cánh đồng lúa trải một màu xanh mơn mởn, bao trùm lên những thửa ruộng bậc thang, cái màu xanh no ấm ấy làm đoàn công tác chúng tôi vừa ngỡ ngàng vừa vui sướng. Ngỡ ngàng trước quyết tâm lớn lao của cán bộ, đảng viên và nhân dân hai bản Xia Nọi, Mùa Xuân đã biến sỏi đá thành cơm nơi rừng núi khắc nghiệt này; vui sướng vì từ sắc xanh của lúa, của ngô, của vầu, của mận, tiếng cười của các cô trò giữa điểm trường Mùa Xuân, Xía Nọi.
“Hiện tại đồng chí Phó Bí thư đang trăn trở, ấp ủ điều gì?”
“Đường lên Mùa Xuân, Xía Nọi làm bao năm rồi vẫn chưa xong. Mỗi khi lên với bà con hay bà con xuống trung tâm xã, huyện vẫn còn khó khăn, vất vả lắm. Đường đi còn khó khăn thì kéo theo nhiều thứ khó khăn. Chỉ mong sao con đường thi công xong sớm để đồng bào đi lại thuận tiện hơn, hàng hóa cũng nhờ đó mà thông thương hơn, khi đó cơ hội phát triển cho Mùa Xuân và Xía Nọi sẽ rõ ràng hơn.”
Hai chữ mong sao của Khăm tôi nghe như một tiếng thở dài khe khẽ, có phải vì đã chờ đợi quá lâu? Cuộc đời của người lính là đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi đất nước yêu cầu. Trong câu chuyện với anh, chúng tôi được biết anh lại được cấp trên điều động đi công tác ở một đồn khác trong tỉnh. Nhưng anh vẫn tin tưởng đồng chí khác đến kế nhiệm sẽ tiếp tục công việc của anh, cùng địa phương xã Sơn Thuỷ xây dựng quê hương bản làng ngày càng no ấm, hạnh phúc…
Tháng 4/2025
NGUYỄN HUY MIÊN
VNQD