. NAM GIANH
Trong giấc mơ dài của thi ca Việt Nam hiện đại, ngựa vừa mang dáng sử thi, vừa thấm hơi thở nhân sinh. Vào thơ, nó không còn là con vật thuần túy của hành trình, mà thành mã thẩm mĩ, kí hiệu lịch sử, nhạc cụ của thời gian và khả thể của tưởng tượng. Ở Nhà số 4 - nơi những người mặc áo lính cầm bút - hình tượng ấy đặc biệt bền bỉ và linh hoạt. Gần bảy thập kỉ, ngựa đi qua các thế hệ thi sĩ, từ vó chiến trường đến giấc mộng thảo nguyên, từ huy hoàng chiến thắng đến lặng lẽ suy tưởng. Mỗi thi sĩ Văn nghệ Quân đội, ở những thời điểm khác nhau, đều để lại dấu vó riêng trên miền thơ của mình; nơi đó, ngựa vừa là thi liệu, thi hứng, vừa là bóng soi của bản ngã sáng tạo.
Ngựa - thế đứng thi sĩ và đồng hồ sinh mệnh
Phùng Quán đưa vào Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe một hình ảnh đặc biệt liên quan đến ngựa - “ngựa xe” - nhằm tạo ra một đối lập về thế đứng, lương tri của người cầm bút: em ơi, nếu Thiếu Lăng…/ một bước là ngựa xe/ đứng đi quân hầu chật/ đời nào ông lắng nghe/ tiếng gào và tiếng nấc. Ở đây, “ngựa xe” là biểu tượng của đặc quyền, xa hoa, đối lập hoàn toàn với thân phận Thiếu Lăng, tức Đỗ Phủ. Từ sự đối lập này, Phùng Quán khẳng định một chân lí: thi sĩ chỉ có thể viết ra những câu thơ đẫm máu và lệ của nhân dân khi họ đồng cam cộng khổ, “cùng xương thịt” với nhân dân.
Nếu với Phùng Quán, “ngựa xe” là đối cực của lương tri, thì với Xuân Sách, “ngựa hí” trở thành đồng hồ sinh mệnh, đo độ hữu hạn của kiếp người: vừa nghe ngựa hí ngoài song cửa/ đã thấy trên đầu tóc trắng phơ (Cõi người). Cái “trắng phơ” của thời gian phủ lên sự phù du của nhân gian.
Từ lập trường đạo đức ấy, từ cảm quan thời gian ấy, hình tượng ngựa khi đi vào thơ các thế hệ nhà thơ Nhà số 4 lại mở ra những hành trình khác, chiều kích khác, đa tầng, đa giác hơn.

Tác phẩm Ngựa xuân 2026 của hoạ sĩ Vũ Đình Tuấn.
Ngựa - hào khí lịch sử và kí ức sử thi
Như một tất yếu của lịch sử cũng như của nghề nghiệp, các nhà thơ mặc áo lính gắn liền ngựa với bụi đường trường chinh đánh giặc. Trong Bài ca Trường Sơn, Gia Dũng viết: miền Nam, miền Nam lửa đốt lòng ta/ hỡi Trường Sơn hãy thành con ngựa sắt/ và rừng xanh thành vạn khóm tre ngà/ cho con cháu Bác Hồ làm Thiên Vương đuổi giặc. Ở đây, hình tượng “ngựa sắt” đã được đưa vào giữa cảm hứng sử thi của thời chống Mĩ cứu nước: ngựa như hóa thân của non sông trỗi dậy, của khát vọng giải phóng bùng cháy trong lồng ngực cả một thế hệ. “Ngựa sắt Trường Sơn” vừa mang hơi thở Phù Đổng Thiên Vương, vừa là nhịp chiến mã của con đường mòn thời đại, nơi mà thiên nhiên cũng được huy động thành khí giới.
Đoàn Văn Mật - ở Đất nước bè trầm - viết: đất nước ngàn năm vó ngựa dập dồn/…/ những câu thơ chiến thắng bạo tàn/ làm nên ngày non sông thống nhất. “Vó ngựa dập dồn” trở thành nhịp trống lịch sử, đưa hình tượng ngựa hòa vào linh hồn đất nước, gắn với Bình Ngô đại cáo, với những “câu thơ thay trời hành đạo”. Ở đây, ngựa trở thành cột mốc của ý thức cộng đồng.
Ở Hai mươi năm điệu múa xoè hoa (kỉ niệm 20 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ), Văn Thảo Nguyên dựng hiện trường nơi mà lễ kỉ niệm và chiến trường đan chồng nhau. Mỗi địa danh trở thành mốc cảm thức. Trong chuỗi hình ảnh ấy, câu thơ ngựa hí vang cửa ngõ Him Lam rộn lên như một tín hiệu thời khắc, khai mở cả một chuỗi âm thanh chiến tranh đã chuyển thành lễ hội. Cặp đối hai mươi năm ngỡ mới hai mươi ngày nén và kéo giãn thời gian cùng lúc: kỉ niệm làm cho thắng lợi vẫn còn nóng rực, trong khi những hi sinh vẫn nằm lại dưới lớp đất. Vì thế bài thơ như là một nghi thức tưởng nhớ, tại đó điệu múa hoà vào tiếng đại pháo, niềm vui gặp gỡ nỗi đau.
Trong Vị tướng già của Anh Ngọc, “bầy ngựa chiến” xuất hiện ở đoạn kết mang dấu ấn uể oải của bước chân lịch sử: bầy ngựa chiến đã chân chồn gối mỏi/ đi về miền cát bụi phía trời xa. Câu thơ vừa mang dáng dấp bi tráng, vừa gợi một chút hư hao của hào quang. "Bầy ngựa chiến” là biểu tượng cho cả một thế hệ đã đi qua hai cuộc kháng chiến, đã từng gieo khủng khiếp xuống đầu thù, nay chỉ còn là kí ức mệt nhoài. Ở đây, Anh Ngọc viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng là viết về những người lính đã tận hiến, vừa kiêu hãnh một thời vang bóng, vừa nghe hoàng hôn chầm chậm xuống quanh mình. Có nghĩa, nhà thơ đã dịch chuyển hình tượng chiến mã thành nhân chứng của thời gian. Hình ảnh này làm rõ một giọng điệu đặc trưng của thế hệ cầm bút chiến trường: trung thực với vinh quang mà vẫn thấm đẫm nỗi cô độc hậu trận.
Ngựa - phế tích hoang vu và chuyển hóa trì bồi
Đến Nguyễn Bình Phương, “con ngựa thần” trong Với người trong cổ tích lại là một bóng mờ siêu thực: đã trắng xương người hùng/ đã gỉ mòn gươm báu/ con ngựa thần sã cánh không về... Thế giới của Nguyễn Bình Phương là thế giới hậu huyền thoại. Ở đó, ngựa không còn chở anh hùng mà lang thang giữa phế tích, giữa nỗi cô đơn ngơ ngác của kẻ mộng mị. Câu hỏi sao người vẫn lẻ loi mãi thế không chỉ dành cho những “người hùng”, mà còn như thể dành cho cả những nhà văn lớn, những người vẫn day dứt đi tìm ý nghĩa của hành trình sáng tạo sau khi huy hoàng đã tắt.
Thét buốt cao xanh/ gươm lùng ngựa/ mây ngang sẫm núi/ vệt cung buông - những câu thơ ngắt quãng, rời rạc trong Biên ải của Phùng Văn Khai như tiếng vó ngựa lạc trong sương. Ngựa ở đây là chiến mã, đồng thời là linh hồn của biên cương, của bóng người phiêu lãng giữa ranh giới sống - chết. Còn trong Trước mộ song thân của cùng tác giả, những câu thơ lấm bụi giang hồ/ kinh giấc mộng/ ngựa xa thành lũy/ cũng hoang tàn gợi cảm giác hư vô: những mộng ảo của vinh hoa phú quý cũng vô nghĩa trước âm dương chập chờn.
Thu Bồn, với ngọn bút ngang tàng mà lãng mạn, lại để ngựa hiện lên trong Qua sông Thu Bồn như một ẩn dụ của sinh - tử và hóa thân: hỡi con ngựa chiến tuôn về biển/ bất kham dừng lại hóa phù sa. Từ “bất kham” đến “phù sa” là một cú chuyển vĩ đại: ngựa - biểu tượng của sức mạnh và nổi loạn - cuối cùng tan hoà vào vòng tuần hoàn tự nhiên, trở thành chất liệu nuôi đất, nuôi người. Đó là cái nhìn triết lí của thi sĩ: mọi sức mạnh rồi cũng hóa nhu mì, mọi phi mã rồi cũng trở về lặng yên. Đó cũng chính là cốt cách tâm hồn Việt Nam: đạp quân thù xuống đất đen/ súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa (Nguyễn Đình Thi).
Ngựa - tình tự đời thường và cội nguồn dân gian
Những nhà thơ mặc áo lính, như đã thấy, vốn “tay mềm mại bút hoa”, nên thú vị là, ngựa đi vào thơ họ ít khi ồn ào chiến trận, mà thường là tĩnh lặng đời tư. Trong Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, giữa cái lạnh cắt da của Mèo Vạc, người lính cô đơn nghe vọng lại một ảo giác diệu kì: bao năm không thấy màu con gái/ vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em. Âm thanh khô khốc nơi biên viễn bỗng vọng thành tiếng đời thường của quê nhà. Hữu Thỉnh đã làm mềm đi biểu tượng ngựa, biểu tượng đá núi, đưa nó vào miền cảm xúc nhân hậu, nhân tình, trữ tình: ước gì có chút hương bồ kết/ cho đá mềm đi núi ấm lên.
Cùng cách hoá giải bạo lực trong thơ như thế, Trần Đăng Khoa, ở Tây Bắc, viết: trong từng vó ngựa tuần tra/ nòng súng chán làm sắt thép/ muốn thành cây để trổ hoa. Ngựa vẫn là phương tiện chiến sự, nhưng mong ước của vũ khí và con người là hòa bình, là hướng thượng. Ở Đánh tam cúc, Trần Đăng Khoa làm giảm khoảng cách giữa chiến tranh và đời thường, giữa “bụi đường” và “văn chương” qua mô thức trò chơi: đây là con ngựa/ chân có bụi đường/ và đây quân sĩ/ thuộc làu văn chương... Sang Tháng ba, Trần Đăng Khoa lại dùng ngựa làm hình ảnh phi mã của lịch sử và tưởng tượng; huyền thoại biến thành sức bật cho ngày mới: nền trời rừng rực ráng treo/ tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay. Ngựa sắt xưa được đặt trong ngôn ngữ hiện đại, trẻ trung, như một cuộc đối thoại giữa truyền thuyết và thực tại.
Cũng “liên văn bản” với huyền tích Thánh Gióng, Nguyễn Hữu Quý, trong Soi gương giếng ngọc, đã soi vào “cõi lắng sâu” và thấy: ráng hồng ngựa sắt bay lên/ áo bào để lại bồi đền phù sa. Qua đó, nhà thơ liên hệ ngựa (cũng như voi, rồng…) với “vật tổ” gắn với sự sinh thành của cộng đồng - một cách đặt biểu tượng vào cấu trúc nguồn cội.
Ở Lí ngựa ô ở hai vùng đất, Phạm Ngọc Cảnh để cho ngựa phi giữa giai điệu dân gian và cảm xúc cộng đồng: ngựa tung bờm bay qua biển lúa/ ngựa ghìm cương nơi sông xòe chín cửa. Ở đây, ngựa là nhịp cầu văn hóa vùng miền. Ngựa mang linh hồn của người Việt hát lên từ đồng ruộng, bến sông, từ chính kí ức sông núi. Phạm Ngọc Cảnh để con ngựa đi từ chiến trận về hội làng, từ “đánh giặc mịt mù cao điểm” đến “hội Gióng tháng tư”, từ tiếng súng đến tiếng trống hội. Đó là sự chuyển hóa mềm mại, nhân hậu của biểu tượng: chiến mã trở lại làm ngựa cưới, ngựa hát, ngựa tình tự. Vó ngựa không còn giục ra trận mà gõ nhịp về quê hương, gõ lên bản thể người Việt bằng thứ nhạc ngũ cung quen thuộc: bền bỉ, nồng hậu, dẻo dai.
Như vậy, từ Gia Dũng, Văn Thảo Nguyên, Anh Ngọc, Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh đến Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Bình Phương, Phùng Văn Khai, Đoàn Văn Mật, biểu tượng ngựa đã dịch mã liên tục giữa cõi công (chiến tranh) và cõi tư (tình cảm, khát vọng). Ở “cõi tư”, một số nhà thơ khác còn không ngừng nới giãn bằng cách minh giải những ẩn số của lịch sử, đạo đức, niềm tin, tình yêu, cũng như làm tan chảy những gì đã từng đông cứng.
Ngựa - đảo chiều lịch sử và siêu nghiệm thi ca
Trong Mị Châu của Vương Trọng, hình ảnh ngựa gắn liền với bi kịch cha - con, vua - tôi, tình - lí: khi quay lại chém con sau yên ngựa/ An Dương Vương, người đã nghĩ suy gì? Ngựa trở thành chứng nhân cho một quyết định đau đớn, một cú chém xuyên thời đại. Nếu lịch sử nhìn Mị Châu như kẻ phản bội, thì thơ của Vương Trọng lại biện hộ cho nàng bằng cảm xúc nhân bản: xin đừng trách Mị Châu thêm nữa/ yêu chân thành, thật có tội gì đâu?
Ở Ngựa đá của Nguyễn Đức Mậu, biểu tượng ngựa đạt đến độ trầm tĩnh và siêu nghiệm: ngựa đá - tượng đài bất động - mơ ước được "hóa ngựa”, “hóa gió”, được tự do. Đây là một ý niệm vừa bi tráng vừa đẹp đẽ: đêm qua/ ngựa đá mơ giấc mơ hóa gió/ băng qua núi đồi, qua thảo nguyên xanh. Biểu tượng lịch sử thành lí tưởng giải thoát. Chính cái “mơ” giữ chất sống cho cái đã đóng băng.
Bài thơ Bình luận về một hiện vật của Hữu Thỉnh viết về nơi Thành Cát Tư Hãn vứt chiếc roi cuối cùng/ kết thúc cuộc đời trên lưng ngựa khép lại bằng một phát hiện bất ngờ và kiêu hãnh: riêng những người Việt Nam là khách xem duy nhất/ nhìn rõ gót giày phía sau của đạo quân xâm lược. Một cái nhìn đảo chiều - từ “mũi giày phía trước” sang “gót giày phía sau” - đã biến ngựa từ biểu tượng của xâm lược thành dấu hiệu của thất bại trước ý chí Việt Nam. Chỉ vài câu thơ, Hữu Thỉnh đã đưa biểu tượng ngựa ra khỏi ngữ cảnh chiến tranh cụ thể để biến nó thành nhãn tự lịch sử - văn hoá, nơi nhà thơ kê cao niềm tự tôn dân tộc.
Cũng “nhìn từ xa Tổ quốc”, Lê Thành Nghị, trong Mùa thu ở Roma, viết: đã xa lắc đấu trường chen xe ngựa/ vẫn còn đây chút bụi đá nghìn năm. Dù không tập trung vào “ngựa chiến” Việt Nam, Lê Thành Nghị đặt “xe ngựa” trong bối cảnh văn minh châu Âu, liên hệ vó ngựa với bụi đá của lịch sử. Điều này mở ra chiều liên văn hóa cho biểu tượng: ngựa không chỉ là kí hiệu bản địa, mà còn là một phần trong tâm thức nhân loại, là tiêu điểm để nhà thơ suy ngẫm về thời gian và độ bền của kí ức.
Ngựa - bản thể miền cao và giấc mơ tự do
Song song với các đảo chiều lịch sử là một dải khác: ngựa như hơi thở miền núi, như đồng hành với bản thể tộc người, ở đó, nhạc điệu, màu sắc và nỗi buồn biên viễn được khắc sâu.
Phạm Duy Nghĩa, với Mùa thảo quả, đã để ngựa hiện lên trong không gian vùng cao, nơi hương thảo quả quyện vào tóc người H’Mông. Bước theo ngựa vội vàng/ em ngoái nhìn, e ấp/ hương quả hay hương đất/ hồn cây hay hồn người - những câu thơ vừa sinh động cụ thể vừa bảng lảng mơ hồ, như phủ một lớp sương mỏng lên nhịp sống miền sơn cước. Ngựa ở đây là hơi thở của bản làng, mang theo sự gấp gáp của đường núi và cả nỗi e lệ của những ánh nhìn vừa thoảng qua đã thành day dứt.
Cũng trong không gian đá - núi, Trung Trung Đỉnh, ở Đá và em, để lại hai câu thơ như một vết hằn của phận người miền núi: ta hóa đá cùng em giữa chợ/ con ngựa gầy tiếng hí cũng gầy theo. Giữa phiên chợ Hà Giang, nơi đá dựng đứng và đời sống mỏng như sợi khói, con ngựa trở thành tấm gương của nỗi buồn người. Hình tượng ngựa, nhìn từ miền đá, vì vậy mang thêm một lớp nghĩa: là bạn đường của núi rừng, cũng là sinh thể cùng chịu nỗi run rẩy của kiếp phận nhân sinh.
Từ vó ngựa chiến trường đến vó ngựa đời thường, từ đất nước đến tộc người… là một hành trình dài của biểu tượng, cũng là hành trình mở rộng biên độ cảm xúc thơ của các nhà thơ Nhà số 4. Lý Hữu Lương trong Chiến mã viết: trên lưng chiến mã rùng rùng/ như là một lãng quên/…/ lũ chiến mã quên cung kiếm/ nhìn đất mà hí vang/ đi suốt hai ngàn năm/ chân chưa tới đồng bằng/ ngủ suốt hai ngàn năm/ vẫn một mộng thiên di… Ngựa trong đây là ẩn dụ của kí ức và căn tính, vừa bi thương vừa kiêu hãnh. Bài thơ là bản “hí ca” buồn, ở đó lịch sử và linh hồn dân tộc Dao cùng cất tiếng trong giấc mộng thiên di vô tận.
Ngựa trắng của Nguyễn Thị Kim Nhung như một điệu khúc lặng lẽ mà day dứt: đêm nay ngựa trắng không ngủ/ phi mãi trong rừng mưa/ tiếng hí buồn hơn điệu sáo. Biểu tượng ngựa đã được chuyển hóa thành nỗi hoang vu thất lạc, nơi mà con người đi tìm nhau giữa mưa và tro tàn.
Đến lượt, Hoàng Đăng Khoa đưa biểu tượng ngựa vào không gian suy tưởng cá nhân và triết học. Trong Ý nghĩ có đoạn: ý nghĩ như đại ngàn/ ngựa tung vó đi hoang/ rừng thăm thẳm chân trời tít tắp/ đường tự do có là đường cũ bao giờ. Ngựa là hóa thân của tư tưởng dấn thân, của tự do trí tuệ: người sáng tạo phải dám đi hoang, dám phá lối cũ. Ngựa phi trong ý niệm, “ý nghĩ”, trong suy tư miên man về cái sống, cái viết.
* *
*
Đã hơn lục thập hoa giáp, Văn nghệ Quân đội chứng kiến nhiều thế hệ nhà thơ nối và gối nhau viết về ngựa. Từ ngựa chiến của trường chinh bi tráng, đến ngựa của hóa giải và tình tự đời thường, đến ngựa của siêu nghiệm và căn tính…, tất cả tạo thành một trường biểu tượng phong phú và nhất quán.
Một cái nhìn lướt vào thơ có hình ảnh ngựa của các thế hệ nhà thơ Nhà số 4, vài phát hiện đáng chú ý hiện ra: biểu tượng có tính năng động linh hoạt; không ngừng được cấp thêm nghĩa; luôn đi về phía thi tính và nhân tính; va động liên tục giữa cảm quan đương đại với dân gian, truyền thống…
Ngựa - trong giấc mơ thi sĩ Nhà số 4 - là bạn đồng hành của người lính trên đường trường chinh, và là linh hồn của sự sáng tạo, là biểu tượng cho khát vọng được phi mã về phía ánh sáng và tự do. Nơi đó, giấc mơ và lịch sử gặp nhau trong tiếng vó bất tận của thời gian và thi ca.
N.G
VNQD