VNQĐ kết nối  Nhân vật tuần này

Hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng: Hội họa Việt Nam hoàn toàn có khả năng đối thoại với nghệ thuật thế giới

Thứ Sáu, 09/10/2026 07:29

Hơn nửa thế kỉ gắn bó với nghệ thuật, họa sĩ, nhà báo Đỗ Ngọc Dũng đã đi qua nhiều vai trò: người cầm cọ, viết báo, viết văn và làm công tác quản lí văn học nghệ thuật. Trong hành trình ấy, cảnh sắc trung du, văn hóa Đất Tổ, kí ức chiến tranh và những trải nghiệm qua nhiều miền đất trở thành nguồn chất liệu bền bỉ trong sáng tác của ông. Trò chuyện với Văn nghệ Quân đội, ông chia sẻ về những bước ngoặt trong hành trình nghệ thuật, mối giao hòa giữa hội họa và văn chương, cũng như những trăn trở về việc đưa mỹ thuật Việt Nam đến gần hơn với công chúng và thế giới.

Họa sĩ, nhà báo Đỗ Ngọc Dũng (sinh năm 1960, quê Đoan Hùng, Phú Thọ), tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Việt Nam, là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí như Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Giám đốc Sở Ngoại vụ Phú Thọ và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Phú Thọ. Trong sáng tác, ông chủ yếu theo đuổi hội họa, nổi bật với tranh sơn dầu, đồng thời tham gia thiết kế, minh họa sách báo và nhiều hoạt động mỹ thuật. Ông đã tổ chức 4 triển lãm cá nhân và tham gia nhiều triển lãm trong nước, quốc tế. Tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại một số bảo tàng và các bộ sưu tập trong, ngoài nước.

Đỗ Ngọc Dũng nhận nhiều giải thưởng, bằng khen trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và đối ngoại, trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhì. Năm 2025, tác phẩm Nhịp trống đồng được lựa chọn trong nhóm 10 tác phẩm xuất sắc của các Hội chuyên ngành Trung ương để trao Giải thưởng Văn học nghệ thuật năm 2025. Tháng 8/2026, tác phẩm Thánh Gióng của ông đạt Giải Xuất sắc tại Triển lãm Quốc tế Seoul – Han River Biennale lần thứ 3 ở Seoul, Hàn Quốc. Bên cạnh hội họa và báo chí, ông còn viết văn, đã xuất bản các tập tản văn Những mảnh ghép kỷ niệm (2020) và Ngang qua những miền đất (2022).

- Cảm hứng sáng tác chủ đạo của ông là gì? Có những điều gì thường thôi thúc ông cầm cọ?

+ Nhiều nhà phê bình từng viết về tôi: Tôi đa phong cách, đa đề tài… Tôi tự thấy mình hầu như không định hình rõ nét một cảm hứng chủ đạo nào trong sáng tạo. Có chăng là cảnh sắc quê hương trung du và không gian văn hóa Hùng Vương chiếm ưu tiên nhiều hơn trong các sáng tác của tôi. Bởi tôi cho rằng nghệ sĩ thì cứ khi có cảm xúc là làm việc mà không cần bận tâm nhiều đến vấn đề chủ đề hay đề tài... Chủ đề, đề tài với tôi thường do yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng thời điểm, hay chuẩn bị tác phẩm cho một cuộc triển lãm theo chủ đề nào đó sắp tới sẽ khiến tôi cầm cọ và thả hồn theo mạch cảm xúc ấy.

Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng và tranh sơn dầu Nhịp trống đồng, giải xuất sắc năm 2025 do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trao tại Hà Nội.

- Ông là một họa sĩ, đồng thời cũng là một nhà báo. Vậy tư duy không gian của một họa sĩ và góc nhìn sắc bén, đa chiều của một nhà báo đã ảnh hưởng như thế nào đến cách ông quan sát và thể hiện đời sống trong hội họa?

+ Nói như vậy có vẻ hơi to tát. Nhưng quả thực, đặc tính nghề nghiệp cũng có những ảnh hưởng đến việc cầm cọ. Đó là tính bao quát của một họa sĩ và góc nhìn sắc bén đa chiều của người làm báo. Sự giao thoa này thường giúp tôi quan sát đời sống một cách độc đáo và phát hiện những khoảnh khắc đắt giá. Bởi vì họa sĩ không nhìn sự vật như một mặt phẳng đơn thuần, mà gói chúng thành hình khối, mảng miếng tương tác giữa chúng với không gian xung quanh. Nhà báo thì tiếp cận hiện thực và sự nhạy bén, bóc tách về bối cảnh, nguyên nhân... Điều này đã mang lại cho tôi nắm bắt được những khoảnh khắc mang tính bước ngoặt để có những tác phẩm chứa đựng thông điệp xã hội cùng chiều sâu nội tâm nhân vật.

- Đi qua nhiều chặng đường sáng tác, đâu là khoảnh khắc hoặc trải nghiệm mang tính bước ngoặt, góp phần định hình phong cách nghệ thuật của Đỗ Ngọc Dũng hôm nay?

+ Tôi đã đi qua khá nhiều chặng đường sáng tác: từ vẽ tranh cổ động, pano, áp phích phục vụ nhiệm vụ chính trị; thiết kế mô hình, sa bàn, trang trí các gian hàng hội chợ, triển lãm; vẽ tranh tuyên truyền cho các nhà máy, công ty, đến sáng tác bìa sách, báo cho các tác giả và cơ quan báo chí, xuất bản. Mỗi công việc đều cho tôi một vốn sống, một cách nhìn và những kinh nghiệm nghề nghiệp riêng.

Tuy nhiên, bước ngoặt thực sự đến sau triển lãm cá nhân lần thứ ba tại Hải Phòng năm 2012. Sau những cuộc giao lưu với các họa sĩ thành phố cảng, tôi bắt đầu nhìn lại nghiêm túc con đường sáng tác của mình và nhận ra rằng, nhiều tác phẩm chưa chắc đã là thành công; điều quan trọng hơn là chất lượng của mỗi tác phẩm. Tôi nhớ lời các cụ: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Từ đó, tôi dành nhiều thời gian, công sức hơn cho từng tác phẩm, cố gắng làm hết khả năng của mình. Tôi xem đây là một bước ngoặt quan trọng trong tư duy sáng tác.

Một bước ngoặt khác đến vào năm 2021, khi tôi nghỉ công tác và có điều kiện dành toàn tâm, toàn ý cho nghệ thuật. Có thể nói, đó là lúc tôi được trở về với con người nghệ sĩ đích thực của mình, được tự do hơn trong sáng tạo và cũng cảm thấy mình “lớn” lên nhiều trên hành trình nghệ thuật.

- Tranh của ông vừa có hơi thở hiện đại, vừa đậm bản sắc dân tộc, thể hiện qua nhiều khuynh hướng như hiện thực, ấn tượng và biểu hiện. Đặc biệt, Phú Thọ với không gian văn hóa Đất Tổ, cảnh sắc trung du, miền núi và đời sống các dân tộc đã cung cấp cho ông những chất liệu về màu sắc, hình khối và cảm xúc như thế nào để tạo nên dấu ấn riêng trong hội họa?

+ Đúng là cảnh sắc trung du và không gian văn hóa Đất Tổ chiếm một vị trí khá quan trọng trong sáng tác của tôi. Tôi sinh ra, gắn bó và trải nghiệm nhiều năm trên mảnh đất này nên cảnh sắc, con người và những lớp trầm tích văn hóa của quê hương dần trở thành một phần trong cách tôi nhìn và cảm nhận hội họa.

Tôi đặc biệt bị cuốn hút bởi những đồi chè, nương cọ, làng quê, sông núi, ánh sáng vùng trung du, cùng đời sống văn hóa, lễ hội và những câu chuyện về cội nguồn. Những chất liệu ấy cho tôi cảm hứng về màu sắc, đường nét và hình khối... Nhưng tôi không muốn chỉ sao chép hay minh họa hiện thực. Từ những gì quan sát được, tôi luôn cố gắng chắt lọc qua kí ức, cảm xúc và liên tưởng để tìm ra một cách diễn đạt riêng.

Thực tế, chính những sáng tác về cảnh sắc trung du và văn hóa Đất Tổ đã mang đến cho tôi một số thành công, từ việc có tác phẩm tham dự Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc đến các giải thưởng mỹ thuật. Nét xưa, sơn dầu, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nhịp trống đồng, sơn dầu, đạt Giải thưởng Tác phẩm Xuất sắc của các Hội chuyên ngành Trung ương năm 2025. Gần đây, Thánh Gióng, acrylic, cũng được trao Giải thưởng Tác phẩm Xuất sắc tại Triển lãm Quốc tế Seoul-Han River Biennale lần thứ 3, tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc.

Hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng cùng các nghệ sĩ chụp ảnh bên tác phẩm Thánh Gióng của ông tại triễn lãm quốc tế Seoul - Hanriver Biennale lần thứ 3 tại Hàn Quốc.
Hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng được trao Giải thưởng Tác phẩm Xuất sắc tại Triển lãm Quốc tế Seoul-Han River Biennale lần thứ 3.

- Ông dành khá nhiều tâm huyết cho đề tài chiến tranh cách mạng, trong đó có những tác phẩm về lãnh tụ và người lính. Khi trở lại với những đề tài này, điều ông muốn tìm kiếm và truyền tải là gì: sự khốc liệt của chiến tranh, vẻ đẹp của người lính, tình đồng chí, hay khát vọng hòa bình?

+ Với đề tài chiến tranh cách mạng, điều tôi quan tâm có lẽ không phải chỉ là sự khốc liệt của chiến tranh, vẻ đẹp người lính hay khát vọng hòa bình, mà là tất cả những điều đó trong một cái nhìn nhân văn. Chiến tranh đã đi qua nhưng những mất mát, hi sinh thì không thể quên. Tôi vẽ Nỗi đau da cam, Ký ức Đồng Lộc cũng từ suy nghĩ ấy: không phải để khơi lại đau thương, mà để nhắc mình và người xem hiểu hơn cái giá của độc lập, tự do và hòa bình hôm nay.

Hình ảnh người lính thì luôn cho tôi nhiều cảm xúc. Ở Trở lại chiến trường xưa, tôi muốn nói về sự kiên cường, những hy sinh thầm lặng, tình đồng chí và tình cảm gắn bó của những con người từng cùng nhau đi qua chiến tranh. Đó là những vẻ đẹp rất giản dị nhưng càng nghĩ càng thấy xúc động.

Còn với những bức tranh về Bác Hồ, tôi thường tìm đến sự giản dị, gần gũi của Người, nhưng phía sau sự giản dị ấy là một tư tưởng lớn, một tình yêu rất sâu nặng với con người và dân tộc. Vì thế, điều tôi muốn giữ lại trong những tác phẩm này trước hết là lòng tri ân. Tôi mong những kí ức ấy không chỉ nằm lại trong tranh, mà còn đến được với thế hệ trẻ, để các em hiểu hơn về lịch sử và càng trân trọng giá trị của hòa bình hôm nay.

Tác giả tại phòng tranh của hoạ sĩ Đỗ Dũng.

- Trên cương vị lãnh đạo Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ trong nhiều năm, ông đã làm gì để tạo dựng môi trường sáng tác, phát hiện và hỗ trợ tài năng, đồng thời đưa văn học nghệ thuật tỉnh nhà đến gần hơn với đời sống nghệ thuật cả nước?

+ Đúng là tôi từng có hơn 13 năm làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ (2000 – 2013). Những năm ấy, Hội luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ của lãnh đạo tỉnh, nên có điều kiện xây dựng một môi trường sáng tác khá sôi động. Chúng tôi tổ chức các trại sáng tác, đi thực tế, tọa đàm, hội thảo, ra mắt sách, triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, các chương trình thơ, nhạc, sân khấu và đặc biệt duy trì các lớp bồi dưỡng năng khiếu sáng tác hằng năm. Tôi mong Hội thực sự là một mái nhà chung, nơi văn nghệ sĩ được gặp gỡ, chia sẻ và có thêm điều kiện để sáng tạo.

Cùng với đó, chúng tôi chú trọng đổi mới Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ, tạo một không gian công bố tác phẩm có uy tín, đồng thời phát huy vai trò của các văn nghệ sĩ thế hệ trước trong việc truyền nghề, truyền cảm hứng cho lớp trẻ. Một hướng chúng tôi rất quan tâm là đưa văn học nghệ thuật Phú Thọ hòa vào đời sống nghệ thuật cả nước và mở rộng giao lưu quốc tế. Hội đã tổ chức nhiều hoạt động giao lưu mỹ thuật, nhiếp ảnh với Nhật Bản, Hàn Quốc; phối hợp tổ chức các trại sáng tác điêu khắc quốc tế.

Quan trọng hơn, chúng tôi luôn khuyến khích văn nghệ sĩ khai thác những giá trị văn hóa cội nguồn như Hát Xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại. Tôi nghĩ, khi truyền thống được tiếp nối bằng một cách thể hiện mới, văn học nghệ thuật Đất Tổ sẽ vừa giữ được bản sắc, vừa có khả năng bước ra rộng hơn. Với tôi, điều đáng quý nhất sau những năm làm công tác Hội không phải là những bằng khen hay thành tích, mà là nhìn thấy đội ngũ văn nghệ sĩ trưởng thành, có những tác phẩm được công chúng đón nhận và đóng góp được một phần cho đời sống văn học nghệ thuật của đất nước.

Tranh Mùa vàng của Đỗ Dũng.

- Với thế hệ văn nghệ sĩ trẻ hôm nay, theo ông, làm thế nào để vừa tiếp thu tinh hoa nghệ thuật đương đại, vừa giữ được “mã gen” văn hóa Đất Tổ trong sáng tác?

+ Tôi nghĩ mỗi người, dù đi đâu, làm gì, đều có một quê hương để nhớ và một chốn để trở về. Với thế hệ văn nghệ sĩ trẻ hôm nay, các bạn có nhiều thuận lợi hơn các thế hệ trước: được đào tạo bài bản, được tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ và tinh hoa nghệ thuật của thế giới. Đó là điều rất tốt cho sáng tạo. Tôi tin rằng, dù đi đến đâu, thì văn hóa quê hương, nhất là những giá trị của vùng đất cội nguồn Đất Tổ, sẽ tự nhiên trở thành một phần trong cách nhìn, cảm xúc và sáng tác của các bạn. Giữ “mã gen” văn hóa không có nghĩa là lặp lại những gì đã có, mà là biết làm mới những giá trị ấy bằng ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại. Khi đó, tác phẩm vừa có hơi thở đương đại, vừa mang được dấu ấn riêng của quê hương. Với tôi, đó cũng là một cách tri ân nguồn cội và Tổ tiên.

- Ông từng đưa tranh đi triển lãm ở nhiều quốc gia và có những giải thưởng quốc tế. Từ trải nghiệm của mình, ông cho rằng nghệ thuật Việt Nam cần làm gì để tác phẩm có thể đối thoại bình đẳng với công chúng, giới chuyên môn và thị trường nghệ thuật quốc tế?

+ Tôi từng có dịp đến nhiều quốc gia, và mỗi khi có thời gian, tôi đều tìm đến các gallery, bảo tàng, phòng triển lãm để xem tranh, tìm hiểu cách nhìn, gu thẩm mỹ và sức sáng tạo của nghệ sĩ ở đó. Với tôi, đi như vậy là một cách để “biết người, biết mình”, để thấy nghệ thuật Việt Nam đang đứng ở đâu và cần làm gì để đi xa hơn.

Tôi nghĩ hội họa Việt Nam hoàn toàn có khả năng đối thoại với nghệ thuật thế giới. Chúng ta có những chất liệu rất riêng như sơn mài, lụa; có nền tảng từ thế hệ họa sĩ Trường Mỹ thuật Đông Dương và một lớp họa sĩ đương đại đã được quốc tế biết đến. Vấn đề là phải biết phát huy những giá trị ấy bằng tư duy sáng tạo mới, để tác phẩm vừa giữ được bản sắc Việt Nam, vừa có ngôn ngữ mà công chúng quốc tế có thể cảm nhận và chia sẻ.

Một điều nữa rất đáng lưu ý là phải giữ gìn uy tín của thị trường mỹ thuật. Tình trạng tranh giả, tranh nhái nếu không được kiểm soát sẽ làm ảnh hưởng đến niềm tin của người sưu tầm và vị thế của mỹ thuật Việt Nam. Muốn đi xa, ngoài tài năng của nghệ sĩ, chúng ta cũng cần một môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp, minh bạch và có khả năng tạo dựng niềm tin quốc tế.

Hai cuốn tạp văn của hoạ sĩ Đỗ Ngọc Dũng.

- Vừa miệt mài trên giá vẽ, vừa đảm đương công việc quản lý, viết văn, làm báo và chăm lo gia đình, ông làm thế nào để cân bằng những điều đó? Gia đình có vai trò như thế nào trong hành trình sáng tác của ông?

+ Tôi có hơn hai mươi năm làm công tác quản lí. Thời gian ấy, tôi thường tranh thủ những ngày nghỉ để vẽ và tự đặt cho mình một “kỉ luật”: không điện thoại, không tiếp khách, không tụ tập. Nói vui là phải “trốn khách” để có thời gian làm việc. Hằng tuần, hằng tháng, tôi đều tự lập kế hoạch và cố gắng hoàn thành, nếu ban ngày bận họp hành thì tranh thủ làm đêm. Nhờ vậy, ngay trong thời gian làm quản lí, tôi vẫn tổ chức được bốn triển lãm cá nhân tại Hà Nội và Hải Phòng

Hiện nay, dù sức khỏe không còn như trước, tôi vẫn lấy công việc và niềm vui sáng tạo để vượt qua những phiền muộn. Tôi thường dành một, hai tháng để viết, rồi vài tháng để vẽ, xen kẽ những chuyến đi để trải nghiệm, tích lũy tư liệu và vốn sống.

Với tôi, gia đình là điều thiêng liêng và có ý nghĩa đặc biệt đối với người làm nghệ thuật. Gia đình hòa thuận thì mình mới có một tâm thế nhẹ nhõm để sáng tạo. Tôi từng chứng kiến một người bạn nghệ sĩ chỉ vì vợ chồng giận nhau mà nhiều ngày không thể làm được gì. Điều đó cho thấy sự bình yên của gia đình, nhất là sự đồng hành của người vợ, có vai trò rất quan trọng đối với hành trình sáng tạo.

- Nhìn từ thực tế hoạt động mỹ thuật hiện nay, theo ông, đâu là những vấn đề cần được giải quyết để mỹ thuật Việt Nam vừa nâng cao giá trị nghệ thuật, vừa hình thành được thị trường và vị thế bền vững trên trường quốc tế?

+ Theo tôi, muốn mỹ thuật Việt Nam phát triển bền vững, trước hết phải xây dựng một thị trường minh bạch, chuyên nghiệp, có sự phối hợp giữa Hội Mỹ thuật Việt Nam, cơ quan quản lí và khu vực tư nhân. Cần làm tốt việc định giá, giám định, đấu giá, bảo vệ bản quyền, từng bước hạn chế tranh giả, tranh chép. Bên cạnh đó, cần đổi mới cách tổ chức triển lãm, tăng cường các Art Fair, Biennale, không gian mở và ứng dụng công nghệ để đưa nghệ thuật đến gần công chúng, nhất là người trẻ. Đồng thời, xây dựng đội ngũ giám tuyển nghệ thuật chuyên nghiệp để kết nối nghệ sĩ, nhà sưu tập và công chúng. Có tác phẩm tốt là điều kiện cần, nhưng một hệ sinh thái mỹ thuật chuyên nghiệp mới là nền tảng để nghệ thuật Việt Nam có chỗ đứng vững chắc trong nước và quốc tế.

- Không chỉ cầm cọ, ông còn làm báo, viết văn và cho ra đời những trang viết giàu chất kí ức, trải nghiệm. Văn chương đã giúp gì cho hội họa của ông, và ngược lại, hội họa đã thay đổi cách ông viết như thế nào?

+ Với tôi, nghiệp vẽ vẫn là chính. Nhưng đôi khi có những điều hội họa không thể nói hết thì tôi tìm đến văn chương, và ngược lại, có những điều ngôn từ khó diễn tả, tôi lại muốn dùng màu sắc, đường nét để nói. Tôi cũng thích viết chân dung những văn nghệ sĩ mà mình yêu quý, trân trọng. Tôi nghĩ hội họa và văn chương chưa bao giờ là hai con đường tách biệt, mà cùng gặp nhau ở sự thấu cảm với cuộc đời và khát vọng lưu giữ cái đẹp. Văn chương giúp tranh của tôi có thêm chiều sâu, câu chuyện và cảm xúc; còn tư duy hội họa giúp tôi quan sát kĩ hơn, chú ý đến ánh sáng, màu sắc, không gian và thần thái con người.

Khi còn làm quản lí, tôi vẫn tranh thủ viết. Sau khi nghỉ quản lí, tôi có thêm thời gian cho sáng tác và đã xuất bản hai cuốn sách. Những mảnh ghép kỷ niệm gần 600 trang, khái quát chặng đường hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật của tôi. Ngang qua những miền đất hơn 300 trang, gồm 45 bài viết về những chuyến công tác, mang tranh đi triển lãm tại gần 30 quốc gia trong thời gian tôi làm công tác đối ngoại. Với tôi, đó không chỉ là những cuốn sách, mà còn là cách lưu giữ những trải nghiệm, kí ức và những con người đã gặp trên hành trình hoạt động nghệ thuật. Tôi vui khi nhận được những cuộc gọi, tin nhắn của độc giả nói rằng qua sách, họ hiểu thêm về tôi và những miền đất tôi từng đi qua.

NGỌC HIÊN thực hiện

 

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong văn của tôi ít được hư cấu vì tôi không có tài hư cấu. Vì thế đọc lên là biết ngay đó là ai. Hơn nữa tôi cũng hay để tên nhân vật là tên nguyên mẫu...(NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)