Nguyễn Vĩnh Tiến
sinh năm 1974 tại Phú Thọ.
Năm 1994: Giải nhất
Giải thưởng Sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC; Giải nhất Nghiên cứu khoa học của Bộ
giáo dục và Đào tạo; Huy chương Tuổi trẻ sáng tạo.
Năm 1996: Tốt
nghiệp trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
Năm 2005: Là một
trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Việt Nam.
Đầu năm 2007: Phát
hành album VOL1 : “Giọt sương bay lên” với tiếng hát Ngọc Khuê
Tháng 8/2008 : Phát
hành album VOL2 : “Ngồi Trên Vách Nắng”
với tiếng hát Tùng Dương – Anh Thơ - Trọng Tấn và Tuấn Anh
Năm 2010: Được bầu
chọn là 1 trong 20 thanh niên Việt Nam tiêu biểu hoạt động trong lĩnh vực Văn
Hoá Nghệ Thuật trong 5 năm 2005-2010
Hiện là Chủ
tịch HĐQT Công ty cổ phần Kiến trúc
& Thương mại Việt - Pháp T&T (T-group)
Tác phẩm Văn học đã
in:
1. Những Bình Minh
Khác : Tập Thơ
2. Những Giấc mộng
kín : Tập truyện ngắn (in chung)
+ Chào anh Nguyễn Vĩnh Tiến.
Gần đây nhắc đến anh, người ta thường nghĩ ngay tới một Nguyễn Vĩnh Tiến nhạc
sĩ với hàng loạt các ca khúc mang phong cách dân gian hiện đại mà hầu như
“quên” mất một Nguyễn Vĩnh Tiến nhà thơ. Tôi hỏi thật nhé, anh có buồn vì điều
này không? Từ trong sâu thẳm, anh muốn được gọi là nhà thơ hơn hay nhạc sĩ hơn?
Thực ra, tôi lại là một Kiến
trúc sư được đào tạo bài bản tại Việt nam và Cộng hoà Pháp. Hiện tôi vẫn đang
tiếp tục luận án tiến sỹ của mình về Quy hoạch và Thiết kế Đô thị tại Đại học
Kiến trúc Quốc gia Toulouse.
Việc viết văn, làm thơ và viết ca khúc luôn là một niềm đam mê song hành, nó
dường như không thể tách rời trong việc nhìn nhận về tổng thể cá tính và sáng
tạo trong con người tôi. Vậy thì hãy cứ gọi tôi theo cách của chính bạn.
+ Việc Nguyễn Vĩnh Tiến xuất
hiện khá đường đột và gần như thành công ngay lập tức với vai trò nhạc sĩ
đã khiến nhiều bạn viết (trong đó có
tôi) khá bất ngờ. Anh có thể nói kĩ hơn một chút về bước ngoặt này?
Năm 2005, lần đầu tiên tại
Việt nam xuất hiện một chương trình trên VTV3 với tên gọi : “Bài hát Việt”. Đây
là một chương trình tìm kiếm và giới thiệu những ca khúc đương đại của các nhạc
sỹ và người viết ca khúc ở Việt nam. Tôi đã tham gia chương trình này với 2 ca
khúc : “Bà tôi” và “Giọt sương bay lên”. Cả hai ca khúc này đều được giải nhất
tháng 7 và tháng 11, và sau đó, “Giọt sương bay lên” trở thành ca khúc xuất sắc
nhất trong phong cách Dân Gian Đương Đại năm 2005. Gia đình, bạn bè và chính cả
tôi cũng bất ngờ. Thực ra, tôi đã sáng tác ca khúc từ năm 12 tuổi với cây đàn
ghi-ta Văn Châu ở Thị Xã Phú Thọ. Nhưng với giải thưởng này, tôi tự tin hơn và
quyết định cho ra đời 2 album ca khúc của mình vào 2 năm tiếp theo 2006 và 2008
với 15 bài hát tuyển chọn theo phong cách mà người ta gọi là : “Dân gian đương
đại “ đó.
+ Trở lai với văn chương một
chút. Trong những người cùng thế hệ, tôi rất ấn tượng với một Nguyễn Vĩnh Tiến
rời trung du ra đi nhưng luôn đau đáu nỗi niềm dành cho nó. Anh, tôi và một số
bạn viết khác nữa, đều có một vùng đất của riêng mình. Anh nghĩ sao khi có
người nói, chúng ta đang tự bào mòn mình khi cứ loanh quanh mãi ở không gian
ấy?
Từ một “cánh đồng bất tận” mới
có Nguyễn Ngọc Tư, một dải núi xanh thẳm phía bắc, mới có Đỗ Bích Thuý. Còn với
trung du, nơi tiếp nối giữa vùng cao với đồng bằng, nơi những ngọ đồi bát úp,
cọ xoè ô che nắng, có tuổi thơ tôi. Đó dường như là điểm xuất phát. Nhưng nếu
chúng ta cứ mãi loanh quanh trong những hoài niệm, rất có thể chúng ta sẽ đánh
mất thế giới trước mặt. Trong thời đại mới này, chúng ta đã là công dân của một
thế giới phẳng, vì vậy, việc tiếp nhận những kiến thức mới và những vấn đề nhân
loại cũng trở thành một mục tiêu, để sau đó, chuyển hoá vào bút lực cho ta
những tầm vóc văn chương vạm vỡ hơn.
+ Hỏi điều này e hơi khập
khiễng, nhưng thực sự là tôi vẫn thường băn khoăn, âm nhạc và văn chương, thứ
nào khiến sự ham muốn bộc lộ cảm xúc của người nghệ sĩ được đáp ứng dễ dàng
hơn, trong khi dường như đối với người hưởng thụ thì con đường âm nhạc luôn
ngắn hơn, nhanh hơn với văn chương?
Một bản nhạc hoặc một tác phẩm
văn học dở thì có lẽ không có cách nào vang lên hoặc sống trong lòng công chúng
được. Nhanh hay chậm nổi tiếng chẳng có ý nghĩa gì nếu chúng ta xem xét hàm
lượng nghệ thuật của tác phẩm, vấn đề là nó phải hay, phải thấm sâu vào cảm xúc
và thuyết phục về mặt trí tuệ đối với độc giả. Tôi thường nghĩ, âm nhạc thường đến
nhanh hơn, nhưng văn chương mới là thứ ở lại lâu hơn trong ta, thậm chí ngấm
sâu vào ta để trở thành văn hoá và nhân cách của ta...
+ Anh là người đã tuyên bố: “Sẽ đóng gói và
làm “lễ đưa tiễn” những bài hát, bài thơ, bài viết mà tôi đã lao động trong 10
năm để sáng tạo ra chúng”. Tuyên bố này khiến nhiều người giật mình. Chắc hẳn
đó không phải là một thông tin gây “sốc” chứ? Anh có thể lý giải dễ hiểu hơn về
điều này?
Đó là một cách nói hình ảnh mà
thôi. Tác phẩm khi chúng ta đã hoàn thành, chúng ta đều mong muốn những đứa con tinh thần đó sẽ
được ra “ở riêng”, để chúng ta không còn lưu luyến với chúng nưã. Để chúng ta
tiếp tục sinh ra những tác phẩm mới. Sự ra “ở riêng” đó, cùng với sự tiếp nhận
của công chúng sẽ quyết định sức sống của tác phẩm. Các yếu tố đó trở nên khách
quan và thoát khỏi tầm kiểm soát của chính tác giả. “Lễ Đưa Tiễn”, có lẽ được
định nghĩa là bữa tiệc chia tay cuối cùng giữa Cha Mẹ (Tác giả) và các con (tác
phẩm).
+ Anh có cách nhìn thế nào về
văn chương 7X? Liệu 20, 30 năm nữa, các thế hệ đàn em có thể nhìn chúng ta như
một điểm nhấn trong dòng chảy của lịch sử văn học Việt Nam như chúng
ta hiện đang nhìn các cây bút trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ không?
Thế hệ 7x, những nhà văn đầu
tiên được sinh ra trên Đất nước Việt Nam thống nhất. Chúng ta có một
tuổi thơ vẫn còn mùi bom đạn, mùi bao cấp và cả mùi Đổi mới. Trong những trang
viết của 7x, tôi thường nhận thấy cả 3 thứ mùi vị ấy. Nó đậm đà nhưng cũng đầy
hoang mang và hoài nghi. Nó lãng mạn, nhưng cũng đầy buị trần của công trường
đổi mới. Nó cô đơn như một dấu gạch nối. Và tất nhiên, việc nhìn nhận vai trò
trong dòng chảy văn học sử Việt Nam,
do những thế hệ sau đánh giá, lại tuỳ thuộc vào sức sáng tạo của nhà văn 7x hôm
nay. Tôi đã rất vui và tự hào với thành quả văn học của những người bạn như :
Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thuý, Đặng Thiều
Quang, Lưu Sơn Minh ...
+ Văn chương của ta nói chung,
thơ nói riêng, xét về mặt số lượng tác phẩm ra đời mỗi năm thì chắc cũng ngang
ngửa với các ca khúc mà thôi, vậy sao các ca khúc thì được “tiêu thụ” mạnh còn
văn chương thì ì ạch vậy? Phải chăng người làm văn chương vẫn chưa có được một
sách lược đúng đắn trong việc tiếp thị?
Sự bùng nổ ca khúc “dễ chịu”
hơn so với sự bùng nổ văn học. Bởi văn học thường mang theo tư tưởng và lối
sống. Một ca khúc hay, có lợi thế là được phát đi phát lại rất nhiều lần và
trên nhiều phương tiện truyền thông khiến người ta dễ nhớ. Một tác phẩm văn
học, thường chỉ được giới thiệu một vài lần, lại thường nằm im trong những cuốn
sách văn học, nó lặng lẽ chờ đợi những tâm hồn văn chương tìm kiếm, cơ hội của
nó ít hơn một ca khúc. Thế nhưng, sức mạnh ngôn ngữ của một tác phẩm văn học sẽ
mạnh mẽ và sâu xa hơn rất nhiều. Trong khi âm nhạc chảy như một dòng sông thì
Văn chương lại như những bến bờ neo giữ tâm hồn và ký ức chúng ta.
+ Một câu hỏi nữa nhé, tôi
thấy rõ ràng là anh đang có một dự định gì đó, qua những lần trả lời phỏng vấn
báo chí, qua một vài câu chuyện tưởng như bâng quơ. Anh có thể nói trước với
bạn đọc về dự định cho văn chương đó không?
Tôi vẫn ước mơ sẽ tiếp tục
xuất bản một Tập Thơ dày dặn và đầy đủ những sáng tác từ 1990 – 2010. Hai mươi
năm viết thơ đấy. Và thêm một tập truyện ngắn nữa. Về tiểu thuyết, tôi chưa bắt
đầu, tôi nghĩ có lẽ khoảng hai mươi năm nữa mới đủ độ. Còn về Âm nhạc, sau Vol2
sẽ là Vol3- tiếp tục một Album Dân gian đương đại Việt Nam pha trộn với nhạc Jazz và Blues
để có thể giới thiệu với bạn bè quốc tế.
+ Cảm ơn anh đã dành thời gian ghé thăm Quán
văn. Chúng tôi sẽ cùng chờ tới khi những ước mơ của anh trở thành hiện thực để
có thể nói lời chúc mừng.
ĐỖ BÍCH THÚY (thực hiện)