. Đ.H
Bên sườn núi Con Khế, nơi dòng nước trong lành từ Bàu Ganh uốn lượn chảy qua làng Đông Sơn, xã Giai Lạc, tỉnh Nghệ An, có một người lính già vẫn lặng lẽ sống giản dị, nhưng tấm lòng luôn rực sáng như ngọn lửa không tắt. Ông là Phan Quốc Khôi, thương binh thời chống Mĩ - biểu tượng của tinh thần tàn mà không phế.
Sinh năm 1956 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Thượng Thọ, xã Hậu Thành cũ (nay là xã Giai Lạc), ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông, tháng 10 năm 1974, chàng trai Phan Quốc Khôi đã hăng hái lên đường nhập ngũ. Ông được biên chế vào C2 - H4 - E70 - F341 (Sư đoàn 341, Quân đoàn 4) - đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam thời điểm ấy.

Thương binh Phan Quốc Khôi
Sau ba tháng huấn luyện tại Hương Sơn (Hà Tĩnh), đầu năm 1975, ông cùng đồng đội hành quân thần tốc theo tuyến đường Trường Sơn huyền thoại tiến vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Trận đánh đầu tiên của đơn vị ông diễn ra tại Động Chuối - La Ngà (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay). Đó là nơi ông lần đầu tiên nếm mùi khói lửa chiến trường, chứng kiến bom đạn cày xới đất đai, đồng đội ngã xuống ngay bên mình.
Sau đó, đơn vị ông được lệnh hành quân về Xuân Lộc - nơi được xem là “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn. Ngày 22/4/1975, Xuân Lộc hoàn toàn giải phóng. Chỉ bốn ngày sau, 26/4/1975, ông lại cùng đồng đội tấn công Trảng Bom - tuyến phòng thủ cuối cùng của địch trước khi tiến vào Sài Gòn.
Trong trận chiến khốc liệt ấy, ông bị thương nặng ở chân phải, nhiều mảnh đạn pháo găm vào cơ thể. Ông được chuyển ra phía sau, đưa về Bệnh viện 175, rồi Bệnh viện 109, và sau đó là Đoàn an dưỡng 200.
Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông Khôi vẫn phải nằm điều trị trong bệnh viện. Cơ thể ông mang hàng chục mảnh đạn, nhiều mảnh không thể lấy ra hết. Nhưng trong lòng, ông luôn tâm niệm: “Mình còn sống là nhờ đồng đội đã ngã xuống. Phải sống sao cho xứng đáng với họ.”
Trong thời gian an dưỡng, ông có cơ duyên được một ông lang già tận tình truyền dạy nhiều bài thuốc dân gian chữa tắc mạch máu, đau nhức xương khớp, trúng phong, bong gân, gãy xương. Những kiến thức ấy sau này giúp ông cứu giúp không ít người dân trong vùng.
Năm 1977, khi sức khỏe dần hồi phục, ông được cử đi học bổ túc văn hóa tại Diễn Đoàn (Diễn Châu), rồi tham gia đội công tác đổi tiền năm 1978. Đến năm 1980, ông thi đậu trường Trung cấp Nông Lâm, nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ già yếu, ông quyết định xin về quê phụng dưỡng.
Tại quê nhà, có người con gái Nguyễn Thị Hải - người yêu năm nào vẫn thủy chung đợi chờ - nay trở thành hậu phương vững chắc, cùng ông gây dựng lại cuộc sống mới nơi làng Đông Sơn hiền hòa.
Dù mang thương tật nặng, chân phải bị tổn thương, đi lại khó khăn, ông vẫn không chịu an phận. Ông được bầu làm thư kí xóm, rồi thư kí Trại Rú Tháp, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bà con trong vùng vẫn quen gọi ông là “ông Khôi thương binh mà giỏi lắm” - bởi việc gì liên quan đến dân, ông đều tận tâm giúp đỡ.
“Là người lính Cụ Hồ, tôi không cho phép mình được nghỉ. Còn sức là còn làm,” ông nói, nụ cười hiền mà ánh mắt vẫn kiên nghị như thuở nào.
Hiện nay, ở tuổi gần bảy mươi, ông Phan Quốc Khôi vẫn phải mang trong mình nhiều mảnh đạn pháo chưa thể lấy ra. Mỗi khi trái gió trở trời, vết thương lại nhức buốt, nhưng ông vẫn đều đặn đi xe ba bánh đưa đón các cháu đến trường hằng ngày.
Những lúc rảnh rỗi, ông lại sắc thuốc cứu người. Ai trong vùng bị tắc mạch máu, trúng gió, đau nhức đều tìm đến nhờ ông bốc thuốc. Ông chưa bao giờ nhận tiền, chỉ cười bảo: “Giúp được ai là tôi vui rồi. Đồng đội mình nằm lại chiến trường, còn mình sống được thì phải sống cho có ích.”
Chiều xuống, khi nắng loang trên triền núi Con Khế, người thương binh già lại ngồi lặng bên hiên, nhìn dòng nước Bàu Ganh lững lờ trôi. Mỗi khi đến ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), ông lại thắp nén hương tưởng niệm, hướng mắt về phương Nam - nơi bao đồng đội năm xưa mãi mãi nằm lại.
“Họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Tôi sống là để nhớ, để kể cho thế hệ sau biết về những hi sinh ấy,” ông Khôi nghẹn ngào.
Giữa cuộc sống yên bình hôm nay, hình ảnh người thương binh Phan Quốc Khôi vẫn là niềm tự hào của nhân dân xã Giai Lạc, tỉnh Nghệ An. Dù mang trên mình thương tật, ông vẫn luôn lạc quan, cần cù, sống nghĩa tình và hết lòng cống hiến cho quê hương.
Ông là minh chứng sống cho tinh thần tàn mà không phế, là ngọn lửa ấm áp của người lính Cụ Hồ - người đã đi qua bom đạn, vẫn kiên cường sống đẹp giữa đời thường.
Đ.H
VNQD