Năm tháng qua đi, bóng người còn lại

Thứ Ba, 20/10/2026 21:12

.LÊ THÀNH NGHỊ

Ấn tượng sâu sắc trong tôi là Tạp chí Văn nghệ Quân đội có nhiều gương mặt đẹp. Nhưng thế hệ tôi có một nhà văn đặc biệt, mà mỗi khi nghĩ đến, là đâu đó trong tâm tưởng chúng tôi lại vang lên tiếng cười rất đặc trưng từ ông. Đó là Nguyễn Khắc Trường, một cây bút văn xuôi đặc sắc trưởng thành từ cuộc chiến tranh chống Mĩ. Ông đã từ biệt chúng ta vào hồi 11 giờ 40 phút ngày mùng 2 tháng 10 năm 2024.

Đã 2 năm Nguyễn Khắc Trường đi xa, và khi viết những dòng này, tôi ngồi ở một nơi khá xa Tạp chí Văn nghệ Quân đội, đang bị vây bủa bởi những quán cà phê thời thượng chong đèn và bật nhạc gần như suốt đêm. Vậy mà không hiểu tại sao kí ức cứ dẫn tôi về số 4 phố Lý Nam Đế dưới mái nhà có những “đầu đao” cong như mũi thuyền chiến, từ trên cao lao thẳng ra như muốn che chắn cho những chùm hoa đại, mà mỗi cánh hoa mảnh mai, trắng muốt kia như đang giấu một nỗi niềm. Nỗi niềm ấy trong tôi lúc này là tiếng cười của Nguyễn Khắc Trường!

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường

Tôi đã từng quen với tiếng cười của Nguyễn Khắc Trường, đến nỗi cứ mỗi sáng sớm đến cơ quan, vừa bước lên cầu thang là từ cuối hành lang tầng hai, từ căn phòng (vừa là phòng ở vừa là phòng làm việc của ông) lại vang lên tiếng cười rổn rảng, đặc trưng, mang “thương hiệu” Nguyễn Khắc Trường, và biết ông đang tiếp một bạn văn nào đó. Tất cả thần thái, gan ruột, kể cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều toát ra từ tiếng cười đó. Thần thái của một người ung dung tự tại, gan ruột của một người trung thực, quá khứ của một người đang nén chặt, hiện tại như đang đắc chí và tương lai có vẻ như đang bất định! Tôi nghiệm ra một điều sau rất nhiều cảm nhận, là Nguyễn Khắc Trường ít khi phải “vận dụng” một lời chiều nịnh nào đó với cộng tác viên. Nếu một nhà văn cộng tác viên mẫn cảm nào đó ngồi trước ông, bên ấm chè Thái cắm tăm, nghe tiếng cười từ ông, có thể nhận biết được “thông điệp” về cái truyện ngắn họ nhờ ông đọc duyệt, đang ở trong “tình trạng” nào, và yên tâm ra về, không cần hỏi đến cũng biết “số phận” của nó. Tôi từng quen với tiếng cười đó, như quen mỗi buổi sáng sớm nhặt lên một cánh hoa đại nhỏ xíu đem về phòng làm việc của mình!

Những năm trước khi mất, vào viện rồi ra viện, rồi đến lúc không còn đi viện được nữa, không gian còn lại của ông là căn gác tầng hai của ngôi nhà ở ngõ phố Ngụy Như Kon Tum, nơi ông tập tễnh, nặng nhọc nhấc từng bước với sự hỗ trợ của chiếc xe lăn, không còn bước ra khỏi căn phòng, không còn đi xuống tầng 1 được nữa. Một con người từng đi khắp “thiên hạ” khi còn là một anh lính phòng không không quân, khi còn là một nhà văn Quân đội… đến lúc phải quanh quẩn bên bốn bức tường, bức bí, tù túng biết chừng nào. Ngày còn tương đối khỏe mạnh, đến thăm ông, vẫn rất tỉnh táo, chuyện trò không dứt về cuộc đời, về văn chương, thỉnh thoảng lại phá lên cười làm căn phòng nhỏ với những khung cửa kính như cũng muốn rung lên. Chủ đề nào cũng làm ông háo hức! Rất dễ nhận ra ở ông, trước mỗi sự việc đều có một chính kiến không chút mập mờ đến mức như định kiến, một ý chí không thể lay chuyển đến mức tưởng như nếu phải tranh luận với ông, tức là biết sẽ tranh luận với một hòn đá tảng, rất khó lay chuyển. Nhưng bù lại là sự rộng mở, bao dung mỗi khi ông cất tiếng cười. Căn phòng nhỏ có thể đang giữ chân ông, nhưng tiếng cười thì đang muốn vượt thoát!

Vài tháng trước khi ông mất, tôi đến thăm ông, không còn nghe thấy tiếng cười rổn rảng kia nữa. Ông nằm đó, yên lặng, thiếp đi, lay mãi đôi mắt mệt mỏi kia mới từ từ hé mở, từ từ nhận biết. Rồi ông bật khóc, khóc giàn giụa khi nhận ra người đang ngồi trước mặt, hoặc khi nghe tin một ai trong số bạn bè ốm bệnh. Những ngày cuối cùng, khi bị liệt hẳn một bên người, ông không còn chuyện trò được nữa, chỉ chìa bàn tay không liệt còn lại, vừa nắm chặt tay bạn bè, vừa khóc nấc lên. Khóc như là một sự “bù trừ” cho những trận cười ngày xưa, như một cử chỉ bất lực, để từ biệt thế gian trước một chuyến đi xa. Đến thăm ông, không cầm được lòng.

Nguyễn Khắc Trường sinh ngày mùng 6 tháng 7 năm 1946 tại xã Bình Sơn, huyện Đồng Hỷ cũ, tỉnh Thái Nguyên. Như bao thanh niên hồi ấy, từ rất sớm, năm 1965, Nguyễn Khắc Trường trở thành anh lính phòng không không quân chiến đấu bảo vệ vùng trời Tổ quốc. Sẵn tình yêu văn chương và có năng khiếu từ sớm (truyện ngắn đầu tiên của ông được in trên tập san Văn nghệ Việt Bắc khi còn trên ghế nhà trường), tại Binh chủng Phòng không Không quân, Nguyễn Khắc Trường vừa chiến đấu, vừa tập viết văn, dưới bút danh Thao Trường. Những truyện ngắn, bút kí về chiến tranh, về người lính của Thao Trường được tập hợp trong các tập truyện Cửa khẩu (1972), Thác rừng (1978), Miền đất mặt trời (1982)… Nội dung những tập sách này, và ngay cả bút danh Thao Trường cũng cho thấy ông là nhà văn gắn bó sâu sắc với đề tài chiến tranh và người lính. Trong những tập truyện và bút kí vừa nêu, có thể thấy “thiên hướng” của ngòi bút Thao Trường là mô tả hiện thực đời sống trong chiều sâu của những suy nghĩ, những gạn lọc từ những gì ông chứng kiến để đem đến cho người đọc bức tranh về cuộc chiến đấu đang diễn ra ở những đơn vị quân đội mà ông tham gia!

Với những sáng tác đầu tay có chất lượng ấy, Nguyễn Khắc Trường được Quân đội lựa chọn vào Khóa I Trường viết văn Nguyễn Du. Tốt nghiệp, ông được điều về Ban Văn xuôi của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Đây là thời kì quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Khắc Trường. Vừa làm biên tập văn xuôi, vừa đi thâm nhập thực tế tại nhiều địa phương miền Bắc, trong đó có Thái Nguyên, Thanh Hóa, Bắc Ninh…, vừa nung nấu những sáng tác tâm huyết. Đầu năm 1989, Nguyễn Khắc Trường tham gia trại viết của Tạp chí Văn nghệ Quân đội tại Bãi Cháy, Hạ Long. Trại viết có nhiều nhà văn trại viên như Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Đào Thắng… Tại đây, trong gần một tháng từ sáng đến tối “bám bàn”, Nguyễn Khắc Trường hoàn thành tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Trí Huân hoàn thành tiểu thuyết Chim én bay.

Mảnh đất lắm người nhiều ma là tác phẩm quan trọng nhất, tâm huyết nhất, là một “bước ngoặt” trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Trường, là một sự “thông tắc” cho văn học Việt Nam trước một hiện thực xã hội hết sức phức tạp, là tác phẩm mà ông quyết định đổi tên mình từ Thao Trường thành Nguyễn Khắc Trường, tên khai sinh của ông, như một “tuyên bố ngầm” từ bỏ lối viết cũ. Và kể từ đó, cái tên Nguyễn Khắc Trường và tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma đóng một dấu son rất đậm trên trang văn học Việt Nam hiện đại. Mảnh đất lắm người nhiều ma đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, được chuyển thành phim truyện Đất và người, được dịch sang tiếng Pháp, được chuyển thành kịch bản sân khấu, được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2007…

Mảnh đất lắm người nhiều ma là bức tranh đau đớn của nông thôn Việt Nam hiện đại. Những câu chuyện bi thương tác giả chứng kiến từ hiện thực nông thôn xứ Thanh, Thái Nguyên, Bắc Ninh… được dồn nén trên từng trang viết làm chấn động lương tri và lương tâm của người đọc. Từ bao nhiêu đời đến lúc này, sau lũy tre xanh, xã hội của con người, của những kết nối gia đình, họ hàng, làng xóm, của các tổ chức tập thể… đã trở nên ốm o, bi đát, tàn độc, nguy hại… đến dường kia. Một xã hội “lắm người” nhưng cũng “nhiều ma”. Ma quỷ đội lốt người, ma quỷ bên cạnh người và “ma quỷ trong mỗi con người” được bóc trần, phơi bày dưới ánh sáng mặt trời. Cái ác ma quỷ lộng hành như chỗ không người thực sự là lời cảnh báo đau xót cho một xã hội đang phấn đấu vì hạnh phúc của con người.

Vài năm sau Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường có viết thêm một vài chương của một tác phẩm khác (Trang trại), nhưng ông bỏ dở giữa chừng. Hình như ông đã biết giới hạn của cõi người, cõi văn chương! Thế cũng đã là toại nguyện, ra đi được rồi chăng?

Từ năm 1993, với hàm Trung tá, Nguyễn Khắc Trường chuyển sang công tác tại Báo Văn nghệ, rồi Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Một Nguyễn Khắc Trường cẩn trọng với chữ nghĩa, tinh tường và bản lĩnh trong việc đọc và bảo vệ bản thảo để in hoặc để loại bỏ những tác phẩm chưa đạt yêu cầu xuất bản rất phù hợp với lĩnh vực công tác mới. Ông tôn trọng, ân cần với các tác giả. Nhưng ông cũng thẳng thắn trong nhận xét, đánh giá, không sợ mất lòng, xa lạ với mọi sự thớ lợ, nước đôi, giả tạo. Và mỗi khi nhận thấy cần bảo vệ tác phẩm nào đó, ông không kém phần quyết liệt. Những ý kiến của ông thường là chính xác. Nhiều năm làm Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi của Hội Nhà văn Việt Nam, ông để lại ấn tượng về một phong cách làm việc trung thực, tin cậy.

Ảnh: Duy Quang

Những năm cùng công tác với Nguyễn Khắc Trường tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, chúng tôi người trước người sau, nhưng có thể xem là những người cùng trang lứa. Về văn chương, về công việc của tòa soạn hình như ít khi là câu chuyện được bàn luận thường ngày. Mọi việc cứ “trông nhau mà làm”. Phòng làm việc của Nguyễn Khắc Trường hầu như đêm nào cũng sáng đèn tới khuya. Chiếc bàn nhỏ, trên tường là chân dung hai nhà văn mà ông yêu thích: M. Solokhov và Nam Cao. Mỗi lần nhà văn Nguyễn Khải từ Sài Gòn ra, Nguyễn Khắc Trường lại “tháp tùng” Nguyễn Khải “lang bạt” đến những vùng nông thôn nào đó, có khi một đôi ba tuần. Nguyễn Khắc Trường cũng là nhà văn chăm đi. Còn nhớ có lần chúng tôi cùng ông và nhà văn Sương Nguyệt Minh, nhà thơ Lương Hữu Quang bay đến Côn Đảo, rồi lộn về Hà Tiên, Kiên Giang. Nguyễn Khắc Trường chứng kiến sự hi sinh to lớn của những tù nhân Côn Đảo, dọc đường về ông luôn thốt lên như chưa hết kinh ngạc: Ghê quá! Ghê quá! Hình như đi đến đâu, đến miền đất nào ông cũng không giấu được xúc động. Một người chăm đi như vậy mà từ năm 2019 đến khi mất phải nằm một chỗ, với bất cứ ai chắc cũng là một cực hình. Vậy nên, những năm tháng này, ông rất “thèm” bạn. Có bạn, khi nói cười, khi bật khóc, Nguyễn Khắc Trường như một “cậu bé nhiều tuổi”, không hề biết che giấu cảm xúc của mình.

Tôi vẫn chưa hề quen với sự yên nghỉ mãi mãi của một trái tim nồng nhiệt, một đôi chân đã từng đi khắp đó đây, một cây viết đã từng trải qua những cung bậc đau xót với con người, xã hội, một tiếng cười còn đọng mãi trong kí ức sâu sắc nhất của mình!.

L.T.N

VNQD
Thống kê