Đại
phàm, đã là con người, chẳng ai tránh được bệnh. Bệnh nặng, bệnh nhẹ,
bệnh lâu, bệnh mau, bệnh cấp thời, bệnh mãn tính, bệnh bám ở ngoài da,
bệnh ăn tận trong xương cốt tạng phủ v.v và v.v... Cả trăm thứ bệnh có
tên và không tên luôn rập rình chực sẵn, chờ cơ hội để đột kích và phát
tác trong những tấm thân tứ đại.
Có bệnh là khổ (thì, trong
“danh mục” bốn cái khổ của kiếp nhân sinh mà nhà Phật đã liệt kê,
“bệnh” chẳng là cái khổ đứng ở hàng thứ ba đó sao). Khổ vì nỗi khó chịu
đau đớn thân xác. Khổ vì sự lo âu dày vò trong tâm tưởng. Khổ vì phải
tốn tiền thuốc men, mất thời gian chạy chữa. Khổ vì phải phiền lụy tới
những người xung quanh. Với vài cái khổ như mới kể sơ sơ ở trên, đủ thấy
rằng chẳng ai dại gì mong mình là người có bệnh. Văn nhân ắt cũng không
ngoại lệ.
Thế nhưng, nhà văn
Dumbadze - tác giả của Quy luật của muôn đời - lại tuyên bố: trong cuộc
đời của một con người, rất cần thiết phải có ít nhất một trận ốm dài,
thật nặng, ốm đến liệt giường liệt chiếu, ốm đến thập tử nhất sinh! Vì
rằng sau trận ốm như vậy, người ta sẽ có cơ hội nhìn thế giới bằng một
cái nhìn khác, với những giá trị khác, mới mẻ hơn. Không phải không có
lý: kinh nghiệm cận kề cái chết, nỗi sợ hãi khủng khiếp khi cảm nhận
được hơi lạnh từ địa phủ chậm chạp vờn trên thân thể mình, điều đó sẽ
khiến người ốm dậy thấy yêu quý cuộc sống gấp bội, anh ta sẽ nâng niu
trân trọng, hân hưởng giá trị của từng giây phút sống. Và nếu là như
vậy, ít nhất, bệnh tật đã có thêm một lý do để biện minh cho sự cần
thiết của nó đối với con người, con người nói chung (ngoài việc nó xuất
hiện để nhắc nhở rằng chúng ta, cho dẫu có ngạo mạn về sức mạnh làm chủ
thế giới của mình đến đâu chăng nữa, rốt cuộc cũng chỉ là một chủng loài
đầy bất toàn do Tạo hóa nặn ra). Với văn nhân thì sao? Người ta có thể
dễ dàng dẫn ra vô số ví dụ sáng choang về việc nhà văn, bằng sức mạnh
của nghị lực và niềm đam mê to lớn, đã vật lộn, đã chạy đua, và đã chiến
thắng bệnh tật ra sao để làm nên các tác phẩm có giá trị. Trong nhiều
trường hợp như vậy, thậm chí cần phải nói rằng bệnh là một thứ kích
thích tố đối với người viết: tiềm năng sáng tạo trong bản thân anh ta,
nhờ có sự đe dọa của bệnh mà được xuất lộ và được đẩy đến mức tới hạn.
Tuy nhiên, ở đây tôi không định bàn sâu về những nhà văn như những “tấm
gương vượt qua số phận”, mà chủ yếu quan tâm đến chuyện: bệnh - cái
chẳng ai muốn - có thể “thấm” vào thế giới nghệ thuật của người sáng tác
văn học và tạo ra hiệu quả như thế nào trên tác phẩm? Ít nhất, có hai
“ca” khá đặc biệt để xem xét.
“Ca” 1: F. Dostoyevsky
(1821 - 1881). Trong một tiểu luận tuyệt vời về văn hào người Nga,
Stefan Zweig khẳng định: “Chúng ta đừng quên rằng Dostoyevsky là một con
bệnh: tác phẩm bất hủ của ông sinh ra từ tứ chi tàn tạ, từ những dây
thần kinh co quắp và run rẩy; cơ thể ông mang vết tích của cơn bệnh trầm
trọng nhất, của hình ảnh tồi tệ nhất của cái chết là bệnh động kinh.
Dostoyevsky bị động kinh trong suốt ba mươi năm nghề viết văn của mình”
(Sách Ba bậc thầy, NXB Giáo Dục, Nguyễn Dương Khư dịch). Điều kỳ lạ là,
không giống với nhiều con bệnh - nghệ sỹ thiên tài khác, mặc dù bị bệnh
động kinh quật cho tơi tả, chưa bao giờ Dostoyevsky lên tiếng than phiền
về nỗi thống khổ của mình. Trái lại là đằng khác, ông ca tụng nó bằng
những lời nồng nhiệt nhất: “Hỡi người khỏe mạnh, các người không hay
biết cái cảm giác mê ly thấm vào người động kinh một giây trước khi lên
cơn. Trong kinh Koran, Mahomet kể lại rằng ông đã ở thiên đường trong
khoảng thời gian ngắn ngủi khi mà cái hũ bị dốc ngược và nước thoát ra,
và tất cả những người hiền minh điên loạn cho rằng ông là một kẻ nói dối
và một người lừa đảo. Như thế là không đúng. Ông không nói dối. Chắc
chắn là ông đã ở thiên đường trong một cơn động kinh, căn bệnh mà ông đã
mắc như tôi. Tôi không biết là giây lát mê ly đó kéo dài bao lâu, nhưng
hãy tin tôi, tôi sẽ không nhường nó để có tất cả những niềm vui của
cuộc đời” (Sđd). Dostoyevsky thuyết phục người đời tin vào cái cảm giác
“mê ly” đặc hữu mà ông - con bệnh động kinh - thường xuyên được trải
qua. Nhưng nếu chỉ như vậy, không chắc đã có mấy người tin vào điều đó,
vì rất có thể, nó chỉ là sự tự an ủi của nhà văn, sự mỹ hóa nỗi bất
hạnh, một kiểu thắng lợi tinh thần nào đó mà thôi. Thế nhưng, hãy nhìn
vào thế giới nhân vật của ông: hình như đúng là Dos đã thành thực khi
bộc lộ niềm biết ơn sâu sắc trước bệnh động kinh. Một nhà văn Pháp đã
gọi tiểu thuyết của Dos là nhà thương của những người bị bệnh thần kinh.
Những Kirilov, Satov, rồi Raskolnikov, Ivan Karamazov v.v... những nhân
vật được Dos đóng dấu ấn bất tử vào lịch sử văn chương nhân loại, những
nhân vật ấy, không gì khác, sẽ cho ta hình ảnh rõ rệt của người bị bệnh
động kinh trước, trong, và sau khi cơn bệnh “thăm viếng”. Họ đột ngột
lao mình từ thái cực này sang thái cực khác, không có giai đoạn chuyển
tiếp, không thèm biết đến tính mức độ: từ tội ác sang thú tội, từ coi
sinh mạng con người như rơm rác đến trân trọng sự sống của từng mầm cây,
từ ác quỷ thoắt cái thành đấng cứu thế nhân từ, từ kẻ tăm tối trở thành
triết gia. Họ luôn sống, tư duy và hành động, nếu không trong những cơn
sốt, thì cũng như trong những trận co giật cuồng nộ. Một cách uyên bác,
đầy tinh tế - sự uyên bác và tinh tế ở đỉnh cao trí tuệ châu Âu đương
thời - Stefan Zweig đã lý giải những nhân vật của Dos từ việc xem xét
căn cước dân tộc của họ: họ là người Nga, khởi phát từ một dân tộc bị
đẩy từ sự vô thức man rợ ngàn năm vào nền văn minh châu Âu. Ông viết:
“Người Nga của thế kỷ XIX, của thời đại Dostoyevsky, đã đốt cháy cái lều
bằng gỗ của quá khứ man rợ của mình và chưa xây được nhà mới... Những
vấn đề, mà câu giải đáp đã từ lâu được kết tinh nơi chúng ta (tức người
châu Âu - HN) làm rực cháy các giác quan của họ... Họ là những người của
sự bắt đầu lại... Họ không có mức độ, họ vượt các giới hạn... Họ tìm
kiếm những cảm giác nóng bỏng làm tan tất cả những hợp kim tình cờ gặp
phải và ở đó không gì tồn tại trừ sự thông cảm mãnh liệt với vũ trụ”
(Stefan Zweig, Sđd). Có thể nói, Dos là nhà văn sống và nắm bắt hoàn hảo
cái sống của dân tộc mình, “những người của sự bắt đầu lại” của thế
giới. Nhưng như thế chưa đủ. Với sự trải nghiệm đau đớn và siêu việt của
con bệnh động kinh, người luôn phải chịu những cái chết giữa lòng cái
sống, Dos còn là nhà văn chứng minh cho/với chúng ta về sự tồn tại của
những trạng thái không ngờ giữa sự sống và cái chết, những đối cực không
có làn ranh giới. Đây có lẽ là những yếu tố không hề nhẹ cân trong sự
hình thành tính chất kỳ lạ của các nhân vật trong tiểu thuyết
Dostoyevsky. Nói như Stefan Zweig: “Nhờ bệnh tật, ông đã đạt tới tuyệt
đỉnh của nghệ thuật, mà theo cách diễn đạt của Stendhal, là tạo ra những
cảm xúc chưa từng xuất bản” (Stefan Zweig, Sđd).
“Ca” 2: Hàn Mặc Tử (1912 -
1940). Cho đến nay, không thể đếm xuể có bao nhiêu giọt nước mắt khóc
thương cho cuộc đời tài hoa nhưng vắn số của Hàn Mặc Tử, bao nhiêu tiếng
oán than trước định mệnh phũ phàng đã giáng xuống Hàn bệnh cùi tai ác.
Trong số đó, có lẽ Trần Thanh Mại là người đầu tiên nói đến - và cũng là
người nhấn mạnh nhất đến - tầm ảnh hưởng của bệnh cùi trên thi nghiệp
của Hàn (Sách Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn, 1941). Là một nhà phê
bình văn học theo phương pháp tiểu sử học, chủ trương “lấy đời người để
cắt nghĩa tác phẩm”, Trần Thanh Mại nghiên cứu rất kỹ những chi tiết
tiểu sử của Hàn Mặc Tử. Và ông cho rằng, cùng với đàn bà và tôn giáo,
chính bệnh tật là một nguồn “cảm thụ lực”, là yếu tố góp phần tạo nên
những đặc điểm nghệ thuật trong thơ Hàn. Theo ông, với người bị bệnh
cùi, vào mỗi kỳ trăng sáng, có thể có những tác động bí mật nào đó khiến
vi trùng hoạt động mạnh hơn, người bệnh trở nên đau đớn hơn, và vì thế,
trăng đã trở nên một ám ảnh lớn của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Tỉ mẩn hơn nữa,
Trần Thanh Mại đã “soi kính hiển vi vào thơ” (nhại lại nhan đề một bài
viết của nhà thi pháp học R. Jakovson) Hàn và nhặt ra những câu có nhiều
từ ngữ chỉ dấu hiệu của người mắc bệnh cùi, như: “Người trăng ăn vận
toàn trăng cả/ Gò má riêng thôi lại đỏ hườm” (gò má - đỏ hườm), như:
“Tình đã húp, sao ý vẫn còn sưng/ Sao giấy lại tháo mồ hôi ra thế?” (húp
- sưng - tháo mồ hôi), hay: “Thịt da tôi sượng sần và tê điếng/ Tôi đau
vì rùng rợn đến vô biên” (thịt da - sượng sần - tê điếng - đau rùng
rợn). Cách Trần Thanh Mại tạo sự nối kết giữa bệnh cùi và thơ Hàn Mặc Tử
không khỏi khiến người đọc cảm thấy khiên cưỡng (cho dẫu, dù sao thì
vẫn nên ghi nhận đó là một phát hiện). Quan điểm của nhà nghiên cứu Đỗ
Lai Thúy tỏ ra thỏa đáng hơn: “Bệnh phong, rõ ràng đã đưa Hàn Mặc Tử và
thơ ông rẽ theo một hướng khác. Vốn là một người làm báo, thích hoạt
động, ưa giao tiếp, nhìn đời một cách lãng mạn, nay Hàn Mặc Tử phải trốn
tránh (vì sợ Sở Vệ sinh hốt đi) trong cô độc và trong cảm giác nhục nhã
của kẻ bị Thượng đế trừng phạt. Nhà thơ đã thu toàn bộ thế giới thực
tại vào bản thân mình để có thể từ đó mở ra một thế giới khác, rộng lớn
đến vô biên. Thế giới của mộng mỵ, tiềm thức và xuất thần” (Sách Phê
bình văn học, con vật lưỡng thể ấy, NXB Hội Nhà Văn & Cty Nhã Nam,
2011). Đọc thơ Hàn, không khó để thấy ở thi sỹ một sự phân đôi giữa Xác
và Hồn. Xác: phần vật chất trơ ỳ, tăm tối, tật bệnh, bị nguyền rủa. Hồn:
phần tinh thần nhẹ nhõm, sáng láng, thơm tho, có thể vươn tới muôn vì
tinh tú và toàn thể vũ trụ không cùng. Nỗi mặc cảm về sự tật nguyền bệnh
hoạn của Xác được bù đắp bởi niềm khát khao bay bổng của Hồn. Hồn thoát
khỏi Xác, đó là motif xuất hiện dày đặc trong thơ Hàn. Như: “Anh đã
thoát hồn anh ngoài xác thịt/ Để chập chờn trong ánh sáng mông lung/ Để
tìm em đưa hai tay rằng rịt/ Mảnh tình thiêng ngả ngớn giữa không trung”
(Sáng láng). Và: “Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng/ Cho bay lên hí hửng
với ngàn khơi/ Ở trên kia có một người/ Ngồi bến sông Ngân giặt lụa
chơi/ Nước hóa thành trăng, trăng ra nước/ Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm”
(Say trăng). Hoặc: “Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng/ Chơi vơi
trong khí hậu chín tầng mây/ Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lãng/ Trời linh
thiêng: cao cả gợi nồng say” (Hồn lìa khỏi xác). Một thi giới kỳ lạ như
thế này, quả thực là đã vượt ra ngoài, rất xa, những thứ “tầm thường mực
thước” (chữ của Chế Lan Viên khi viết về thơ Hàn) đang phổ biến trong
Thơ Mới!
“Bệnh trọng thường làm
rạn nứt bề mặt hữu thức cho vô thức trào phun. Mà, hình như mọi sáng tạo
đều bị thúc đẩy bởi những xung lực của vô thức. Bệnh trọng, nếu không
phải là bà đỡ của vô thức như vậy, thì ít nhất cũng là điều kiện để
người sáng tạo có một góc nhìn riêng, một cửa sổ riêng quan sát cuộc
đời” (Đỗ Lai Thúy, Sđd). Dẫn lại và chia sẻ sự đồng tình với quan điểm
này, tôi còn muốn thêm: ít nhất, với người viết văn, bệnh không phải bao
giờ cũng chỉ kéo theo rặt những bi kịch. Nó cũng giống như câu chuyện
Tái ông thất mã mà người Trung Hoa thường hay kể vậy.
Nguồn: Đbnd (Hoài Nam)