. HỒ TẤN VŨ
Hôm cha anh kí giấy bán mảnh vườn ở quê, anh có cảm giác như tự đào huyệt chôn tim mình vào xứ sở. Anh thấy mình như
gửi lại hơi ấm, máu xương, nhịp đập, và linh hồn vào đất chứ không chỉ là nơi chôn nhau. Anh tưởng tượng mình vừa nhặt hòn đá cuội ánh màu thép cứng lạnh nhét vào lồng ngực thay con tim rồi ngược ra phố.
Vậy mà thoắt cái đã mười năm. Mười năm ấy, mỗi lần vô tình hay cố ý có ai đó hỏi về quê nhà, người anh lại cứng đanh như thép. Không cảm xúc, không một ánh nhìn, không một cử chỉ gì lộ ra trong anh một niềm thiết tha quê cũ. Nhưng sâu thẳm trong anh, dòng sông xanh biếc đó vẫn chở nặng ân tình thao thiết chảy xuôi. Những bãi bờ xanh mượt in dấu chân người dặm cỏ, xới đất, tỉa hạt cứ mãi xoay vần qua từng mùa, qua năm tháng…
Ngày ấy cha anh từ miền xuôi lên khai khẩn mảnh vườn hoang bên dòng sông đầy lau lách. Ông già dựng căn nhà mặt hướng ra cánh đồng, xa tít là dòng sông và phía sau là những rặng núi trập trùng mây phủ. Anh lớn lên bằng hạt lúa trên đồng xanh ấy, uống thứ nước thơm ngọt mát lành chảy róc rách từ những con suối đó, thứ nước mà anh tưởng tượng nó đã chảy ra từ đám mây kia, và anh ngủ trên dòng sông như dải lụa quấn quanh mình.
Có bữa anh ngồi thừ, mặc li cà phê nguội lạnh bên góc đường, ngửa bàn tay, anh cứ ngắm mãi, không phải để nghĩ nó đẹp xấu, cứng đơ hay thô ráp, mà anh nghĩ trong những tế bào cấu thành thân thể này còn bao nhiêu chất đất quê nhà? Rồi anh hỏi mình tại sao cha anh lại chọn mảnh đất hùng vĩ này sinh anh ra? Là định mệnh gieo vào anh hay ai đó trao anh vào cha mẹ. Cả mẹ anh nữa, người phụ nữ xinh đẹp bước qua tất cả nhọc nhằn trên cõi đời để theo cha. Tạ ơn nơi chốn ấy, mái nhà cùng khu vườn, sườn đồi với rừng cây, nơi cha mẹ và năm người anh em của anh lớn lên trong những tháng ngày thiếu thốn nhưng sum vầy, hạnh phúc.
Bây giờ tất cả đã đề huề giữa phố. Anh có mẹ bên cạnh các cháu mỗi chiều. Có cha pha trà trước hiên sáng sớm. Anh bằng lòng với hiện tại về sự thuận hòa, hiếu thảo, nhưng sâu trong anh tuổi thơ như mất đi vì một phần quê hương không còn nữa. Có nhiều đêm anh đã khóc cho quê nhà. Giọt nước mắt rơi trên chiếu chăn không ai biết. Anh cũng không hiểu mình khóc cho điều gì, chỉ thấy một nỗi cô đơn trôi tụt, như dòng nước tận đầu nguồn miệt mài chảy qua tuổi thơ, qua năm tháng, và cuốn đi những mất mát không làm sao níu được.
Như nay, sáng cuối đông lạnh buốt, từng mảng sương đọng lại trên khung cửa kính, trên những cành mai vừa tỉa lá, trong căn nhà bề thế. Cha dậy sớm pha trà. Ông cụ ngồi im trước hàng hiên. Đôi mắt nhìn vào vô tận, không rõ ông nhìn gì, chỉ thấy hàng lông mi hấp háy chậm rãi, hồn như gửi chốn xa.
- Cha không lạnh à! Mặc thêm áo ấm đi - Anh nói.
- Lạnh nhưng không khó chịu như quê mình lúc xưa. Chắc trên núi khói đá, cây rừng khiến buốt da thịt hơn - Cha thì thầm rồi nhấm ngụm trà xanh.
- Cha nhớ quê lắm không? - Anh chợt hỏi.
- Không! - Ông cụ trả lời dứt khoát, không suy nghĩ một giây nào làm anh hết sức ngạc nhiên.
- Con thì nhớ lắm, dù con đi ra khỏi làng mình cũng hơn ba mươi năm rồi. Nhanh thật!

Minh họa: Trương Đình Dung
Ông già rít thêm hơi thuốc, bắt chéo cái chân lên gối, ngồi hơi ngửa người ra sau, thì thầm: - Tháng ngày đầu tắt mặt tối. Để có cái cho anh hai con đi học cha đi vay chỉ vàng của bà Bốn. Tới phần con vào đại học cha phải đốt cánh rừng. Rồi hai ba đứa em gái con nữa, cha nghĩ thương mẹ mi. Ngày ấy, bả quần quật khắp làng vay mượn…
*
* *
Chuyện cánh rừng cháy ngùn ngụt trong một chiều hè anh nhớ rất rõ, nhưng giờ mới biết cha anh là người châm lửa. Anh chỉ nhớ, sau cái chiều ngọn lửa thiêu rụi mọi cây cối, thực bì, lửa nuốt cả màn đêm khiến cả làng hoảng loạn. Cánh rừng như bị nung đỏ và chỉ còn một màu tro xám xịt, nham nhở buồn thiu vào sáng hôm sau. Vậy mà trời chưa sáng cha đã giục anh dậy.
- Đi! Dậy đi con. Vào rừng cháy lượm nhôm.
Anh mắt nhắm mắt mở theo cha leo lên các sườn núi nơi ngọn lửa vừa quét qua. Cây cối còn đầy thương tích, cháy sém, nhiều cây xì nhựa như máu nhỏ giọt trên đất, nhiều cây cháy khô. Vài vạt khói vẫn đọng lại sau một đống than còn đỏ hỏn của một cây khô lớn nằm vắt ngang. Những mảnh nhôm từ chiến tranh sót lại lộ dần ra. Anh nhặt lấy có mảnh còn nóng hỏn. Mấy cái ống đèn pháo sáng mà người quê anh gọi là ánh hỏa châu giờ anh mới thấy. Lớp nhôm dày cuộm còn in rõ mấy dòng chữ USA bên hông. Cha anh bảo mấy cái ống đèn pháo sáng này rất được giá. Người ta sẽ cắt nó ra gò lại thành những vật dụng gia đình như thùng gánh nước, nồi niêu, tất cả đều có giá trị. Một vài mảnh bom bằng sắt rất dày, nặng, nó không có giá trị gì ngoài việc cân kí sắt vụn nhưng anh vẫn nhặt lấy.
Hai cha con hì hục một tuần trên cánh rừng cháy và anh vào đại học bằng hai chỉ vàng từ những mảnh nhôm phế liệu ấy. Câu chuyện đó làm sao anh quên được, nhưng dường như trong tâm khảm cha anh, những nhọc nhằn cứ chồng chất lên nhau nên ông chẳng nhớ. Hoặc giả, chỉ nhớ mang máng sự kiện đó như bao nhiêu câu chuyện khác trong hành trình nuôi đàn con của ông. Đôi lúc, anh ngồi một mình nghĩ lại cái ý tưởng châm ngọn lửa đốt cả cánh rừng chỉ để lượm nhôm phế liệu của cha mà không khỏi giật mình. Vì các con, cha có thể đốt cả cánh rừng để vạch con đường cho chúng đi xa. Rồi ba cô em gái của anh nữa. Anh không hiểu cha mình đã làm cách nào để các em lần lượt rời khỏi cánh rừng ra phố học. Những nghịch lí cứ bám riết lấy anh không câu trả lời nhưng cũng không làm sao hỏi cha cặn kẽ điều ấy. Có lẽ, cha chẳng nhớ gì, mà cũng không cần nhớ gì nữa…
Ngày anh ra trường, cánh rừng đã chớm lên xanh. Những con suối bắt đầu róc rách dòng nước ngọt sau bao mùa khô kiệt, trơ đáy. Những con chim đã quay về làm tổ, cuộc sống ít nhiều đã hồi sinh. Ngày cô em gái út nhà anh ra trường và có ý định ở quê sống cùng cha mẹ. Cô ấy sẽ là cô giáo dạy ở trường làng rồi lấy chồng và như vậy cha mẹ anh lại có người hôm sớm trông nom. Nhưng cha anh lại cự tuyệt.
- Đi! Các con đừng lo cho ba mẹ. Các anh chị đã đi ra được thì tại sao con gái út lại buộc ở bên đây. Rồi thêm một thế hệ nữa lầm lũi khăn gói ra phố hay sao? - Ông nói một cách cương quyết!
Và cô út lại ra đi.
Có một khoảng trống mênh mông hiện ra giữa ngôi nhà, khu vườn, cánh đồng, ngọn núi, dòng sông khi đàn con líu ríu ngày nào giờ đi biệt. Cha anh không còn lam lũ nhưng thói quen của người quê xưa nay khiến ông bà cứ mãi quần quật. Ngày rảnh ông lang thang dưới những cội chò để nhìn bầy ong mật. Mẹ anh thì chăm chút vườn rau và mấy khóm hoa mọc quanh bờ rào. Hoa trái quanh năm ông bà đóng thành bao tải đợi cuối tuần mấy đứa về bà gởi ra phố. Đứa ngọn rau, đứa quả bưởi, nải chuối cứ thế bà gửi đi.
Năm lần bảy lượt anh năn nỉ cha mẹ ra ở với mình nhưng ông bà tìm hết lí do này đến kế hoạch kia từ chối. Cuối cùng, anh quyết định họp năm anh em lại và đưa ra một quyết định lạnh lùng: bán ngôi nhà. Bởi theo anh, con đường duy nhất để ba mẹ ở gần con cái là cắt hẳn sợi dây liên kết cuối cùng là mảnh vườn và ngôi nhà ấy. Nhưng để thuyết phục được cha mẹ chịu kí giấy bán đi ngôi nhà tận tay ông bà xây đắp đâu có dễ. Hết anh hai đến các cô em gái thuyết phục. Cứ mỗi cuối tuần từng gia đình chia nhau về với ông bà để tâm sự, nài nỉ, đôi lúc như van lơn.
Có lần anh cúi mặt, mạnh dạn nói thẳng:
- Cha mẹ có thương mấy con không? Nếu thương con thì gia đình mình nên ở gần nhau. Cứ mỗi tuần con đều băng bộ chở con cháu về với ông bà, cha mẹ, con sợ lắm. Sợ đi sớm về khuya đường sá chật chội lo lắng đã đành, cha mẹ ở một mình khuya sớm trở trời ai lo. Phải chi nhà mình có bà con thân thuộc ở đây thì các con còn an tâm. Đằng này cha mẹ ở xa xôi như này con lo đến không ngủ được.
- Nhưng cha mẹ bỏ ngôi nhà này sao đành. Nhìn đâu cũng thấy kỉ niệm. Đây là nơi cha mẹ gắn một đời tuổi trẻ. Nơi chứng kiến mấy đứa con lớn lên, tập nói, tập đi, đứng, ngồi nằm… - Mẹ anh nói, đôi mắt mỏi mòn nhìn đỉnh núi xa.
- Thì mấy đứa cứ về ít lại. Chứ ra ngoài ồn ào lắm. Tuổi già rất mệt! - Cha anh nói thêm, tay vân vê điếu thuốc lá cháy dở.
- Nhưng cha mẹ già thì cần gần bệnh viện. Gần các bác sĩ và các con cháu cuối tuần muốn thăm cha mẹ thì khỏi phải chạy cả trăm cây số. Cha mẹ đừng để các con phải ân hận thêm lần nữa. Ba mẹ cứ bám trụ mảnh vườn thì được rồi nhưng nếu có việc gì quãng đời còn lại các con sống ra sao? Ân hận sẽ giày vò các con… - Anh nói gần như khóc.
- Ừ, thôi được rồi để ba mẹ tính! - Cha anh nói, miệng vẫn rít thuốc, mắt nhìn về cánh rừng vươn nắng.
Mùa thu năm đó cha mẹ anh và các anh em của anh đồng loạt kí giấy bán mảnh vườn. Cha anh thẫn thờ đi ra ngõ không dám ngoái nhìn lại. Mẹ ôm túi xách cầm tay cha khóc như ngày mẹ theo cha về làm dâu. Anh hai và các em gái đều sụt sùi. Cô út ngồi nán lại bên chiếc bàn đá, vuốt ve cái mặt bàn lạnh và trơn tuột như âu yếm lần cuối. Cô bứt chiếc lá cây vú sữa non trước sân nhai nhai ngấm vị đắng chát đó rồi kéo áo lau giọt nước mắt bước ra ngõ.
Anh là người khép cánh cửa sau cùng. Trước khi trao chìa khóa cho người chủ mới, anh thắp nén nhang cúi lạy mảnh vườn, lạy tứ hướng. Anh đứng nhìn cánh đồng, xa tít là dòng sông với những đám mây trắng đang bay phất phơ vô định. Sau lưng là cánh rừng khẽ rung rinh trong cơn gió cuối thu mang chút se lạnh.
Chiếc xe chậm rãi xuôi dốc, chạy qua cánh đồng. Chiếc cầu bắt qua sông mùa này cạn nước nên anh nhìn rõ những tảng đá lô nhô quen thuộc. Hôm nay đất trời cũng vậy nhưng sao mọi thứ bỗng trở nên lạnh lùng và dửng dưng. Trong xe không ai nói với nhau lời nào. Mẹ cúi đầu vào giỏ xách ôm trước ngực. Cha chống cằm trên thành xe nhìn ra cửa sổ. Mấy cô em gái mắt đỏ hoe.
Bất chợt anh phải lên tiếng để pha loãng cái không khí nặng nề đó.
- Từ nay nhà mình được gần nhau rồi. Ba mẹ phải vui lên. Quê thì nhớ đã đành nhưng quê thì còn đó chứ cha mẹ hay con cái có còn mãi đâu. Khi nào nhớ quá mấy đứa con chở cha mẹ về lại.
- Không! Đừng mất công vô ích. Ta sẽ không về đâu - Cha anh gằn giọng như có một chút dỗi hờn sâu thẳm. Anh lại lặng im không nói gì thêm.
- Về làm gì? Có còn gì của mình đâu mà về. Đi là hết… - Mẹ anh tiếp lời.
- Thôi mà cha mẹ! Còn có các con đây. Không phải cha mẹ vất vả cả đời cũng vì mấy con hay sao? - Cô út thì thầm.
Chiếc xe khật khừ chạy và khuất dần sau bóng núi. Khu rừng phía sau chìm vào nỗi nhớ. Anh choàng tay ôm lấy vai mẹ. Bà tựa đầu vào vai anh lặng thinh không nói. Mấy sợi tóc bạc phất phơ bay trong gió tạt ngang mặt anh. Mẹ đã già thật rồi. Anh thấy sự cứng rắn của mình không sai cho dù ba mẹ có giận anh hơn thế nữa. Anh nghĩ mình sẽ tìm mọi cách cho cha mẹ có niềm vui mới khi về ở với anh. Anh cảm nhận được sự hi sinh thêm lần nữa từ cha mẹ. Không phải ai cũng gác niềm vui thú tuổi già với mảnh vườn để ở cùng các con. Nhưng rồi có lẽ, cha mẹ anh thấy rằng máu mủ khác nhựa cây của khu vườn.
*
* *
Lên phố, mẹ anh cải tạo cái sân thượng trên tầng ba thành khu vườn rợp hoa và cơ man nào rau dưa. Thi thoảng bà khăn gói ở nhà con gái vài hôm rồi qua nhà con trai lớn một tuần. Nhưng phần lớn thời gian bà đều ở với vợ chồng anh. Không niềm hạnh phúc ngập tràn nào bằng có mẹ bên cạnh. Không chỉ những đứa con của anh mà chính anh cũng thấy mình bé dại, nhỏ lại như cậu bé chân trần ngày nào khi mẹ hay rầy la. Mẹ la anh uống nhiều bia rượu, mắng anh mặc chiếc áo phong phanh khi cơn gió trở mùa, nhắc anh hay ăn, lười thể dục.
Cha anh vẫn vậy, lui cui với ấm trà mỗi sáng và cuộc sống rất đỗi bình yên mỗi ngày. Ông cụ còn có hẳn một nhóm bạn riêng với bàn cờ tướng ở quán cóc nơi góc đường quanh năm. Anh thở phào với cuộc sống hiện tại và những lo toan thường nhật gần như lấp đầy mọi suy nghĩ. Bóng quê xưa cứ thế lùi dần.
Nhưng rồi một đêm nọ anh bàng hoàng bật dậy lúc nửa đêm. Người anh ướt đầm mồ hôi. Anh mơ thấy mình đang bơi mệt lừ dưới dòng sông cứu thằng Bình bạn học đang đuối nước. Anh lặn hụp. Bơi. Tay anh quạt nước, tay kia anh kéo nhưng cả hai đều chìm xuống. Anh la lên. Kêu cứu. Tiếng kêu sặc nước. Tim anh thắt lại. Phổi bị bóp chặt. Chẳng ai nghe anh cả. Anh và Bình đang bị dòng sông nuốt chửng. Một cột nước đen ngòm đang dìm anh xuống đáy.
Anh giật mình bật dậy ngồi hít thở trong bóng đêm như một con cá vừa đưa lên mặt nước. Anh ngáp lấy ngáp để như phổi vừa bị thủng. Và anh nằm đó chờ trời sáng. Trong thoáng chốc anh nghĩ dòng sông đã gọi tên mình. Chính xác là vùng đất ấy đang gọi, vùng đất mà luống cày cũng ngậy thơm mùi đất khô trong nỗi nhớ. Quê hương hay linh hồn anh đang tìm lại chính mình.
Khoảng bốn giờ hơn, anh nghe tiếng cha bật điện nấu nước pha trà ở tầng dưới. Anh bước xuống cầu thang và uống li nước ấm.
- Hôm nay cha rảnh không? Hai cha con mình về quê nhé! Con chở cha đi…
Ông cụ đặt li trà xuống bàn, tiếng sứ va vào đĩa lách cách khô khốc giữa thinh không. Đôi mắt ông hấp háy, rồi khẽ gật đầu:
- Ừ, thì về. Để xem vườn xưa, nơi tính đào cái huyệt ngày xưa giờ cỏ mọc thế nào.
Chuyến xe lăn bánh khi phố phường còn ngái ngủ. Suốt chặng đường dài, cha anh không nói một lời, chỉ chăm chăm nhìn những vệt nắng nhảy múa trên gương chiếu hậu. Càng gần về đến chốn cũ, tim anh càng đập dồn dập, vừa háo hức vừa sợ hãi một sự đổ nát hay đổi thay xa lạ nào đó sẽ bóp nghẹt lấy kí ức.
Đến khi chiếc xe dừng lại trước con ngõ cũ. Anh sững sờ.
Không có biệt thự bê tông, không có tường rào kẽm gai hay những khu quy hoạch như anh từng lo sợ. Cánh cổng gỗ cũ kĩ đã được thay bằng hàng rào chè tàu được cắt tỉa phẳng phiu, xanh mướt mát. Ngôi nhà ngói ba gian vẫn còn đó, nhưng được lợp lại đỏ tươi, ấm áp. Và lạ lùng thay, khu vườn không hề bị san phẳng để trồng cây công nghiệp, mà bạt ngàn những vòm cây bản địa đang vươn mình đón nắng.
Một người đàn ông trạc tuổi anh, dáng vẻ rắn rỏi, từ trong vườn bước ra. Thấy cha anh, người đó vội vàng chạy đến, nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc của ông cụ, giọng run run:
- Bác! Bác đã về. Cháu vẫn đợi bác mãi.
Anh ngơ ngác nhìn cha. Ông cụ lúc này không còn vẻ lạnh lùng, dửng dưng như mười năm qua nữa. Gương mặt ông giãn ra, một nụ cười hiền hậu hiếm hoi nở trên môi.
- Cây sao đen trên đồi cháy năm xưa sống không anh Bảy?
- Sống khỏe bác ạ! Nó cao quá đầu người rồi. Cả vạt rừng bác dặn, cháu phủ xanh không chừa một tấc đất.
Anh Bảy quay sang nhìn sự ngạc nhiên tột độ của anh, rồi chậm rãi kể. Hóa ra mười năm trước, khi quyết định bán nhà, cha anh đã từ chối những tay buôn đất trả giá cao ngất ngưởng. Ông tìm Bảy, một kĩ sư lâm nghiệp trẻ, người con của làng đang loay hoay tìm đất làm dự án bảo tồn giống cây rừng. Ông bán rẻ cơ nghiệp cả đời mình với một điều kiện duy nhất được ghi trong tờ giấy tay kẹp giữa hợp đồng: “Người mua không được phá bỏ ngôi nhà tổ tiên, và phải dùng lợi nhuận từ mảnh vườn để trồng lại rừng trên ngọn đồi năm xưa ông đã đốt”.
Anh chết lặng. Mười năm qua, anh cứ ngỡ cha mình cứng như thép, dứt tình đoạn nghĩa với quê hương để chiều lòng con cái. Anh đâu biết rằng, số tiền bán đất ông cầm ra phố chỉ là một phần nhỏ, phần lớn tài sản tinh thần ông đã gửi lại đất đai. Ông không bán nhà, ông trao truyền sứ mệnh. Ông dùng chính sự ra đi của mình để chữa lành vết thương cho cánh rừng mà vì nghèo đói năm xưa ông buộc phải hủy hoại.
- Vào đây con! - Cha vẫy tay gọi anh.
Ông dẫn anh leo lên con dốc sau nhà, nơi ngày xưa trơ trọi tro than và những mảnh nhôm phế liệu. Trước mắt anh bây giờ là một màu rừng xanh đậm đầy kiêu hãnh. Gió ngàn vi vu thổi, tiếng chim lích chích chuyền cành tìm lũ sâu. Nắng trưa rọi thẳng xuống, không còn gay gắt thiêu đốt như kí ức về vụ cháy rừng, mà chan hòa, lấp lánh trên những tán lá mới.
Cha anh đứng đó, bàn tay chạm vào lớp vỏ xù xì của cây sao đen đang vươn thẳng lên trời xanh. Ông thì thầm, như nói với cây, lại như nói với chính mình:
- Nợ rừng, cha trả xong rồi. Nợ con cháu một chốn đi về, nay cha cũng giữ lại được rồi.
Anh quỳ xuống, úp mặt vào lòng đất ẩm mùi lá mục. Nước mắt anh trào ra, không phải giọt nước mắt cô đơn trong đêm ở phố thị, mà là giọt nước mắt được gột rửa. Hóa ra, không ai có thể chôn được trái tim mình vào đất để rồi bỏ đi. Và cha anh đã gieo vào đó một hạt mầm, kiên nhẫn đợi mười năm để hôm nay, nắng thực sự đã vươn lên, sưởi ấm cả cánh rừng và cả tâm hồn đang lạc lối của anh.
Nắng vươn lên, rực rỡ và hồi sinh.
H.T.V
VNQD