Vũ Cao - văn phẩm và cuộc đời

Thứ Hai, 07/09/2026 10:58

. NGÔ VĨNH BÌNH
(trích đoạn)

 

Vũ Cao có ba tập thơ: Sớm nay (NXB Văn học, 1962), Đèo trúc (NXB Quân đội Nhân dân, 1973, in lại 1976) và Núi Đôi (NXB Hà Nội, 1990), chưa kể tập kể chuyện chiến đấu bằng thơ Chúng ta giải phóng Hòa Bình (NXB Quân đội Nhân dân, 1952). Nói đến Vũ Cao là nói tới Núi Đôi - một bài thơ tình không chỉ được nhiều thế hệ bạn yêu thơ thuộc lòng mà còn làm sống mãi được một địa danh.

Tiên đoán về sức sống của Núi Đôi trong tương lai, nhà phê bình văn học Hồng Diệu bảo: "Cho dù rồi đây, dù thơ có "hiện đại", có "trần trụi" và có "tân kỳ" đến đâu, một bài thơ giản dị như Núi Đôi vẫn còn được người ta nhớ người ta thuộc" (Bài Nhà thơ Vũ Cao, trong tập Nhà văn - trang sách, NXB Quân đội Nhân dân, 1993).

 

Nhà thơ Vũ Cao (1922-2007)

 

Còn bản thân tác giả Núi Đôi, nhà thơ Vũ Cao thì kể về trường hợp viết bài thơ một cách thật giản dị: "Thường chiều nào tôi cũng lững thững lên núi, ngồi nhìn về phía Hà Nội hoặc phía Tam Đảo, mặt trời lặn hẳn mới về đơn vị ăn cơm. Mỗi lần như vậy khi bước vào nhà, tôi thường quay lại nhìn hai ngọn núi, cứ như lưu luyến một điều gì đó mà chính tôi cũng không hiểu. Một buổi chiều mùa thu, hơi lạnh, có nắng tà và sương màu lam, bỗng từ nơi nào đó trong tiềm thức tôi nảy ra một hình ảnh: hai ngọn núi là hai con người, núi cao là nam, núi thấp là nữ... Có lẽ đối với tôi thơ tự nó đến, chứ tôi không tìm vì có tìm cũng chẳng ra? Cho nên lần này tôi phải "tóm" lấy, kẻo nó đi mất" (Vũ Cao: Về bài Núi Đôi, trong tập Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, 1994).

Và đêm đó Vũ Cao đã "tóm gọn" được Núi Đôi. Ông kẹp bản thảo bài thơ vào tập bài bút ký nộp cho Văn nghệ Quân đội. Rồi Núi Đôi được in ngay, in trước cả bài bút ký mà ông đã được phân công viết. Từ đó ông coi vùng Núi Đôi như một quê hương thứ hai của mình. Thật đúng như câu thơ của nhà thơ Xuân Sách năm nào viết tặng ông:

Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là Núi Đôi?

Với thơ, Vũ Cao không chỉ có Núi Đôi mặc dù "Núi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi". Ông còn có nhiều bài thơ hay khác. Ví như bài Đèo trúc với những câu:

Đi ta đi.
Ta đứng ngang trời
Mây dưới chân ta, ta vượt mây rồi
Núi đã xuống với đồi nương làm bạn

Vũ Cao không chỉ là nhà thơ, ông còn là một nhà văn. Ngay từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp ông đã nổi tiếng là một cây bút viết phóng sự chiến tranh, "nóng bỏng hơi thở của chiến trường". Những năm chống Mỹ cứu nước, mặc dù bận việc làm báo, ông vẫn tranh thủ đi thực tế ở các đơn vị bộ đội và tuyến lửa khu IV để viết ký, viết truyện ngắn, trong đó có các truyện ngắn xuất sắc Từ một trận địa, Những quả ổi chín, Một đoạn thơ sông Đà...

Một đoạn thơ sông Đà viết năm 1965 là truyện ngắn hay nhất của ông, một trong không nhiều truyện ngắn viết về chiến tranh với phong cách trữ tình, giàu chất thơ nhất. "Đoạn thơ" ấy cùng với thiên tình sử Núi Đôi đã làm nên một Vũ Cao, đủ để ông để lại dấu ấn trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX. Với các tập Đèo trúc, Núi Đôi, Từ một trận địa… ông đã được vinh dự nhận giải thưởng cao quý - Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật (2001).

II

Tên tuổi Vũ Cao không chỉ gắn với Núi Đôi mà còn gắn liền với báo chí cách mạng, kháng chiến Việt Nam ngay từ những ngày đầu. Ông viết báo trước khi viết văn. Cuộc đời ông chủ yếu là viết báo, làm báo. Ông thường bảo, ông chỉ là một anh nhà văn, nhà thơ nghiệp dư. Còn chúng tôi thì nói, ông là một nhà báo lão thành, một nhà quản lý báo chí, xuất bản trưởng thành từ một phóng viên mặt trận.

Cách mạng tháng Tám vừa thành công ít tháng thì toàn quốc kháng chiến. Vũ Cao "xếp bút nghiên" tòng quân và trở thành anh Vệ quốc quân. Gần 40 năm trong bộ đội, công việc chủ yếu của ông là viết báo. Năm 1947, ông làm phóng viên mặt trận của tờ Chiến sĩ quân khu IV, sau đó, từ tháng 4-1949 ông về công tác tại tờ Vệ quốc quân Trung ương cùng với những Thâm Tâm, Thôi Hữu, Trần Đăng, Từ Bích Hoàng, Mai Văn Hiến, Dương Bích Liên... Báo Vệ quốc quân đổi thành báo Quân đội nhân dân (10-1950), ông vẫn là một phóng viên chủ lực. Không chỉ viết phóng sự, đưa tin chiến sự, ông còn làm thơ, viết truyện ngắn và cùng với Từ Bích Hoàng dịch tác phẩm của các nhà văn Pháp, Nga và Trung Quốc (A. Phađêep, I. Erenbua...). Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cuối, Vũ Cao lại cùng một số nhà văn quân đội làm tờ Sinh hoạt văn nghệ - tờ báo tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội hiện nay. Hòa bình lập lại, ông cùng các nhà văn Thanh Tịnh, Hữu Mai, Nguyễn Thi, Văn Phác, Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Hải Hồ, Doãn Trung, Trần Dần... tham gia sáng lập tờ Văn nghệ Quân đội. Ông gắn bó với tờ tạp chí này, gắn bó với "ngôi nhà số 4", "phố nhà binh" (4 - Lý Nam Đế - Hà Nội) suốt 23 năm trên cương vị biên tập viên, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm (Tổng biên tập) với quân hàm đại tá.

Quãng thời gian Vũ Cao công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội là những năm tháng vàng son nhất của "nhà số 4". Hàng loạt các nhà văn thay nối nhau đi tuyến lửa, đi B vậy mà Tạp chí vẫn phát hành tới 120 - 150.000 bản mỗi tháng; các cuộc thi truyện ngắn, thi thơ vẫn thu hút cả ngàn người. Các nhà văn trong Ban phụ trách tờ tạp chí được xem những "ông Phật sống". Nhà thơ Thanh Tịnh được ví như một thượng tọa, nhà văn Từ Bích Hoàng được gọi bằng tên thân yêu "Từ Bi Hoàng", còn Vũ Cao là "vị Đại lai Lạt ma chịu chơi nhưng kín đáo" - theo cách nói của nhà thơ Thu Bồn. Cả ba ông đều cùng anh em đi thực tế, đi tăng gia sản xuất, đi sơ tán và còng lưng bê đất đào vét sông Tô Lịch...

Nhà văn Xuân Thiều kể: "Anh Vũ Cao thường nói đùa rằng, lãnh đạo văn nghệ nghĩa là không lãnh đạo gì cả, có lẽ anh muốn diễn đạt cái phức tạp trong việc tiếp xúc với các tài năng... Nói là không lãnh đạo gì chỉ là một cách nói chứ thực ra suốt mấy chục năm phụ trách một lớp nhà văn tài hoa với nhiều tính cách khác nhau: Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Hải Hồ, Thu Bồn... đâu phải dễ dàng. Vậy mà anh em chúng tôi hầu như ai cũng cho rằng, người lãnh đạo văn nghệ như Vũ Cao quả là hiếm" (Đôi nét Vũ Cao - trong tập Tiếng nói cảm xúc, NXB Lao động, 1996).

Vũ Cao là vậy, ông không giận ai bao giờ và mọi người cũng chẳng ai giận ông lâu. Ông sống giản dị đến tuềnh toàng nhưng luôn vui vẻ và chu đáo trong giao tiếp nên rất dễ gần. Mấy năm trước khi nghỉ hưu, Vũ Cao sang làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội nhưng vẫn thường xuyên hỏi han, qua lại Tạp chí.

Nói tới Vũ Cao, người ta nghĩ ngay tới cái dáng cao lêu đêu và mái đầu húi cua với mái tóc bạc tựa hoa lau. Ông tên thật là Vũ Hữu Chỉnh, khi viết báo lấy bút danh Vũ Cao. Bút danh tự đặt cũng thật giản dị, người cao đặt là Cao có vậy thôi. Người ta cũng nghĩ ngay về tiếng cười của ông. Nhà văn Xuân Thiều viết: "Hễ gặp anh là gặp tiếng cười dễ lây lan, nó làm vợi đi nỗi niềm chất chứa".

Với những đóng góp to lớn trong lĩnh vực báo chí xuất bản, Vũ Cao đã được vinh dự nhận Huy chương Vì sự nghiệp báo chí Việt NamKỷ niệm chương của ngành xuất bản Việt Nam.

III

Vũ Cao sinh ngày 18 tháng 2 năm 1922 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình có truyền thống văn học. Từ buổi thiếu niên, ông đã chịu ảnh hưởng rất nhiều ở người chú ruột của ông là nhà thơ Vũ Văn Tộ, bút danh Côi Vị (non Côi, sông Vị - hai địa danh được xem là biểu tượng của đất Nam Định xưa). Hai chú cháu thường trao đổi với nhau chuyện chữ nghĩa, văn chương. Thư họ viết cho nhau có khi cũng bằng thơ.

Chuyện kể rằng, lúc còn đi học Vũ Cao vì ham thơ phú mà sao nhãng đèn sách, trong một kỳ thi bậc thành chung ông bị "trật vỏ chuối". Biết cháu buồn, Côi Vị gửi động viên một bài thơ, rằng nếu chẳng may có trượt nữa thì chắc hẳn ông giời đã để cho Chỉnh được tự do:

Vẽ cả túi thơ và bút vẽ
Lang thang cho thỏa chí giang hồ

Cụ thân sinh ra ông cũng là một trí thức rất yêu thơ và đã từng làm thơ. Năm 1997, dịp mừng thọ Vũ Cao 75 tuổi, có người bạn trẻ "khen" rằng ông vẫn rất "phong độ". Sau một tràng cười khà khà quen thuộc, Vũ Cao bỗng nhiên lặng đi. Ông tâm sự, ông đang nhớ những câu thơ của cụ thân sinh, những năm cuối đời phải "theo" các con hết nơi này đến nơi khác:

Thân già lẽo đẽo theo chân trẻ
Việc nước lo toan trước việc nhà

Ông thêm rằng, khi ấy ông thấy câu thơ của cụ thật bình thường. Nay đã vào tuổi "xưa nay hiếm", những lúc được theo chân con cháu đi đây đi đó ông mới thấm thía. Riêng gia đình Vũ Cao, có người nói có thể thành lập được một chi hội nhà văn bởi hiện vẫn còn tới bốn nhà văn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, trong đó có những người thuộc lớp hội viên sáng lập (1975) như ông, như nhà văn Vũ Tú Nam.

Quê hương, gia đình, nhà trường và quân đội đã là nơi khởi nguồn khai mạch văn chương cho Vũ Cao. Ông đến với văn chương thật tự nhiên. Lúc nào thấy cần phải viết thì ông viết. Chưa bao giờ thấy ông tất bật, thấy ông phải gồng mình lên để viết. Ông có lần "tự bạch": "Tham gia cách mạng, vào bộ đội, làm báo, lấy công tác biên tập, phóng viên là công việc chính của mình. Rồi bắt đầu học làm văn, làm thơ, mục đích cũng là để phục vụ bộ đội... Người viết còn phải có trách nhiệm với câu chữ của mình và cần nhất là sự giản dị, trong sáng..." (Tự bạch của Vũ Cao trong Tổng tập Nhà văn Quân đội - Kỷ yếu và tác phẩm, tập 1, NXB Quân đội Nhân dân, 2000).

Sự giản dị và trong sáng là cái cần nhất. Vũ Cao đã tâm niệm như thế và đã làm được như thế không chỉ trong lao động nghệ thuật mà còn ở ngay chính đời thường của ông. Năm này, 2002, ông đã thượng thọ bát tuần. Vậy mà ông vẫn là nhà thơ Vũ Cao của những năm trai trẻ, những năm trận mạc, bao cấp khó nghèo xa xưa: giản dị và vui vẻ, chu đáo và đàng hoàng. Ước chi ông mãi mãi như đôi ngọn núi trong thơ ông: Núi Đôi mãi mãi vẫn là Núi Đôi.

 

Phố nhà binh, mùa xuân 2002
N.V.B

VNQD
Thống kê