“Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” là một bộ phim huyền sử, cổ trang của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình vừa ra mắt khán giả. Sau những phản hồi ban đầu của khán giả về chất lượng phim, nhà sản xuất đã đưa ra một phiên bản rút gọn hơn, từ 155 phút còn 135 phút để thay thế bản trình chiếu ban đầu, nhịp phim được đẩy nhanh và cô đọng hơn nhiều, giúp cho khán giả có một bữa tiệc điện ảnh mãn nhãn hơn.. Trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam lâu nay thường né tránh làm phim cổ trang, huyền sử vì tốn tiền, thiếu phim trường, thiếu tư liệu và rủi ro thương mại lớn, bản thân việc một dự án có quy mô lớn với mức đầu tư được cho là lên tới 100 tỉ hình thành và đưa ra công chiếu đáng được ghi nhận.

Poster phim "Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh".
Ấn tượng đẹp về mặt thị giác điện ảnh
Bộ phim có chủ đề đậm chất huyền sử, phiêu lưu. Sau khi Đinh Tiên Hoàng qua đời, bảy tráng sĩ nhận mật lệnh đưa 99 quan tài đi theo bảy hướng nhằm đánh lạc hướng những thế lực muốn tìm và phá lăng mộ nhà vua, vì liên quan đến linh thổ, long mạch và vận khí của nước Đại Cồ Việt.
Các cảnh quay được thực hiện chủ yếu ở tỉnh Ninh Bình. Dưới ống kính của đạo diễn hình ảnh Nguyễn K’Linh, cảnh quan không chỉ làm nền mà còn thực sự tạo được không gian huyền sử. Núi đá, thung lũng, sông nước, hang động và những con đường xuyên qua vùng cố đô Hoa Lư hiện lên trên màn ảnh vừa cổ kính vừa trầm mặc.
Các đại cảnh của Hộ linh tráng sĩ tạo những ấn tượng thị giác mạnh cho khán giả. Con người nhỏ bé đi giữa núi non, đoàn quân và quan tài len qua những thung lũng, những khoảng sáng tối trong hang động gợi về một thế giới xa xưa rộng lớn hơn số phận từng nhân vật. Nhà quay phim để địa hình tham gia vào hành động và biết tận dụng vẻ đẹp nguyên sơ của Ninh Bình thay vì biến cảnh đẹp thành một video quảng bá du lịch kéo dài.
Phần phục trang trong phim cũng rất ấn tượng. Tư liệu vật chất nguyên vẹn từ thời Đinh cực kỳ ít, đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cho biết, ê kíp làm phim phải tham khảo thêm tạo hình của những triều đại sau. Trước khi phim được thực hiện, nhà sản xuất thậm chí còn tổ chức một hội thảo chuyên đề về cổ phục thời Đinh tại Ninh Bình, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, chuyên gia và nhiều nhóm thực hành cổ phục...
Theo tư liệu của đoàn phim, hàng trăm bộ trang phục được thực hiện, từ quần áo thường nhật, lễ phục cung đình đến chiến bào và giáp trụ. Trang phục của các tầng lớp nhân vật tương đối dễ phân biệt bằng màu sắc, vật liệu, độ cầu kì và hình khối. Người thuộc hoàng tộc mặc nhiều lớp áo, tiết chế chuyển động nhưng nhấn vào chất liệu và hoa văn; trang phục võ tướng nặng về da, kim khí, giáp phiến, các tráng sĩ được cá thể hóa hơn theo xuất thân; Thầy Mo được đẩy sang một hệ tạo hình mang màu sắc tín ngưỡng dân gian. Vì thế, ngay cả khi chưa nhớ hết tên nhân vật, người xem vẫn tương đối nhận ra họ thuộc tầng lớp nào và giữ vị trí nào trong câu chuyện. Đó là điều mà phục trang điện ảnh cần làm trước khi bàn đến chuyện “đúng sử” hay “sai sử” và ở đây bộ phim làm khá tốt điều này. Chi tiết sử dụng hình ảnh bông lau trong tạo hình mũ chiến tướng là một ý tưởng thú vị, có chiều sâu, gợi liên tưởng đến Đinh Bộ Lĩnh và sự tích cờ lau tập trận.
Điểm đáng khen nhất ở phần phục trang là phim cố gắng thể hiện một “chất Việt”. Những chất liệu thổ cẩm, màu gụ của Thầy Mo, các họa tiết dân gian, cách sử dụng bông lau, hoa văn lấy từ gốm và kiến trúc Việt... đều là những nỗ lực đáng ghi nhận. Phần phục trang thuộc nhóm công việc thành công nhất của “Hộ linh tráng sĩ”. Ê kíp làm phim có ý thức tìm bản sắc và có tham vọng tạo ra một thế giới trang phục của riêng phim.

Một cảnh võ thuật trong phim.
Một thành công đặc biệt khác của phim là những màn võ thuật đặc sắc. Phim có 12 trường đoạn giao đấu. Dàn diễn viên chính tập luyện nhiều tháng trước khi quay; riêng đại cảnh cuối được thực hiện trong nhiều đêm và kéo dài khoảng 10 phút trên phim. Đòn đánh của diễn viên có lực, diễn viên dùng cơ thể chứ không chỉ dùng kĩ xảo. Kiếm, đao, quyền cước và địa hình được phối hợp tương đối linh hoạt. Nhân vật An Nhiên thiên về tốc độ và sự uyển chuyển; Nguyên Phong có lối đánh phóng khoáng; còn Johnny Trí Nguyễn chỉ cần bước vào trận là lập tức cho thấy khoảng cách giữa một diễn viên đã tập võ để đóng phim với một người mà võ thuật đã trở thành ngôn ngữ cơ thể. Nhìn chung phần võ thuật đẹp, tạo ấn tượng thị giác trực quan, mỗi nhân vật có phong cách chiến đấu riêng và đây là một trong những nỗ lực dựng cảnh hành động đáng ghi nhận của điện ảnh Việt.
Những khoảng trống trong tự sự và diễn xuất
Điểm yếu lớn nhất của “Hộ linh tráng sĩ” nằm ở cấu trúc tự sự kịch bản và từ đó có những lỗi logic về chi tiết, tình tiết. Một phim phiêu lưu cổ trang huyền sử kiểu này cần mục tiêu rõ, luật chơi rõ và trở ngại tăng dần. Ai đang mang quan tài thật? Kẻ thù biết gì? Các đoàn liên lạc với nhau thế nào? Nếu một đoàn bị lộ thì kế hoạch thay đổi ra sao? Mỗi sự hi sinh giúp nhiệm vụ tiến thêm một bước như thế nào? Phim có đủ vật liệu để đặt ra những câu hỏi đó nhưng lại dành quá nhiều thời gian cho những nhánh chuyện khác. Bởi vậy, cuộc hộ linh vốn có thể trở thành những cuộc phiêu lưu đầy căng thẳng thì lại nhiều lúc giống những đoàn người cứ đi, gặp việc, xử lí việc rồi tiếp tục đi. Hành trình của các đoàn tráng sĩ hộ linh thiếu một kế hoạch được trình bày đủ thuyết phục, các quyết định thường thay đổi theo tình hình; trường hợp đoàn quan văn và sĩ tử không biết võ bị cuốn vào cuộc chiến cũng khiến sự hi sinh trở nên thiếu sức nặng về logic.
Ngoài kịch bản, phim “Hộ linh tráng sĩ” còn bộc lộ điểm yếu ở khâu biên tập, dựng phim. Phim liên tục chuyển giữa các nhóm nhân vật và không gian. Điều này hoàn toàn hợp lí với một phim nhiều tuyến, nhưng muốn dựng song song hiệu quả, mỗi lần cắt phim phải tạo thêm căng thẳng hoặc bổ sung thông tin cho tuyến kia. Ở đây, không ít lần phim đơn giản chỉ chuyển sang chuyện khác. Chỉ trong chưa đầy vài phút, phim có thể đi từ đêm sang ngày, lại đêm rồi hoàng hôn, đồng thời nhảy qua nhiều tuyến nhân vật khi hành động trước đó còn chưa kết thúc trọn vẹn. Đáng tiếc hơn, cách cắt gấp ảnh hưởng trực tiếp đến cảm xúc khán giả. Vì thế bản phim ban đầu dài 155 phút nhưng nhiều nhân vật lại có cảm giác chưa từng được ở lại trên màn ảnh đủ lâu.
Điều đáng ghi nhận nhất ở các diễn viên là mức độ lăn xả nhập vai. Thiên Tú bắt đầu gần như từ con số 0 về võ thuật và trải qua nhiều tháng tập luyện để vào vai An Nhiên. Thành quả hiện lên khá rõ là An Nhiên cầm vũ khí có tư thế, di chuyển có sự chủ động và không mang cảm giác nhân vật được đưa vào trận đánh chỉ để tạo dáng. Nhưng phần tâm lí diễn xuất của nữ diễn viên chưa đồng đều với phần hành động. Trong khi đó Tuấn Trần trong vai Nguyên Phong dường như mang gần như nguyên vẹn một phần phong cách của Út Lục Lâm trong phim “Đất rừng phương Nam” sang “Hộ linh tráng sĩ”. Trong bộ phim năm 2023, cái vẻ lấc cấc, láu cá, ngông nghênh, nói năng tưng tửng ấy hợp với một tay giang hồ phương Nam sống bằng nghề móc túi. Nhưng đến “Hộ linh tráng sĩ”, Tuấn Trần vẫn giữ kiểu nhướng mày, cười nửa miệng, nhả thoại tếu táo, kéo dài phản ứng và cái chất “nhây” rất đặc trưng ấy. Cách diễn ấy đặc biệt gây lệch tông khi đặt cạnh không khí huyền sử mà bộ phim đang kiến tạo với vua Đinh, linh thổ, vận nước, cái chết, lời thề, những đoàn người hộ tống quan tài giữa núi rừng.

Diễn viên Lê Vũ Long vào vai vua Đinh Tiên Hoàng.
Đáng bàn hơn nữa là vấn đề giọng nói. Nhiều nhân vật nói giọng Nam Bộ rất hiện đại, trong khi bối cảnh câu chuyện đặt ở Đại Cồ Việt thế kỷ X, với trung tâm chính trị tại Hoa Lư và cương vực phía nam lúc ấy thường được xác định tới vùng Hoành Sơn, kéo đến khoảng khu vực Hà Tĩnh - Quảng Bình ngày nay. Sự bất nhất ấy càng dễ nhận ra khi các nhân vật trong cùng một cộng đồng, thậm chí người cha và con gái trong phim lại mang hai giọng vùng miền khác nhau, mà bộ phim không hề xây dựng một nguyên tắc ngôn ngữ nào để lí giải. Tất nhiên, sẽ rất võ đoán nếu ngày nay khẳng định người thế kỉ X phải nói đúng một thứ “giọng Bắc” nào đó, bởi lịch sử ngữ âm tiếng Việt cách đây hơn một thiên niên kỉ phức tạp hơn rất nhiều. Một tác phẩm huyền sử không nhất thiết phải phục dựng chính xác tiếng Việt thế kỉ X, vốn là chuyện gần như bất khả thi, nhưng nó cần tạo ra một qui ước ngôn ngữ thống nhất để khán giả tin vào thế giới mà bộ phim dựng lên. “Hộ linh tráng sĩ” chưa làm được điều đó.
Đáng tiếc và… đáng mừng
Đây là một dự án phim dám làm những thứ điện ảnh Việt lâu nay thiếu như phim huyền sử quy mô lớn, chiến đấu bằng binh khí, đại cảnh nhiều người, bối cảnh tự nhiên rộng, cổ phục được thiết kế nghiêm túc, diễn viên tập võ nhiều tháng và một sự nỗ lực cố gắng tạo bản sắc Đại Cồ Việt thời xa xưa. Những điều ấy đều khó, nhưng điều đáng tiếc là phim lại vấp ở những vấn đề căn bản nhất của điện ảnh, đó là kể chuyện thế nào, cho nhân vật nói ra sao, cắt cảnh lúc nào và giữ lại điều gì. Đó cũng nguyên nhân khiến cho phản ứng của khán giả có sự phân cực khá thú vị. Người yêu hình ảnh, võ thuật và mong muốn ủng hộ dòng phim cổ trang Việt có nhiều lí do để hào hứng. Người đặt nặng kịch bản, logic và diễn xuất tâm lí lại có phần hụt hẫng.

Diễn viên Johny Trí Nguyễn vào vai Hữu tướng quân.
Bộ phim có những khung hình rất đẹp, những bộ trang phục được làm cầu kì, những diễn viên thực sự đổ mồ hôi và cả máu cho các cảnh hành động, một Johnny Trí Nguyễn vẫn cho thấy điện ảnh hành động Việt Nam đang thiếu diễn viên hành động chuyên nghiệp đến mức nào, một Ninh Bình đẹp đến choáng ngợp và một tiền đề câu chuyện có đủ chất liệu để tạo ra một phim phiêu lưu huyền sử hấp dẫn. “Hộ linh tráng sĩ” chứng minh điện ảnh Việt hoàn toàn có thể làm võ thuật đẹp, cổ phục đẹp, đại cảnh đẹp và những khuôn hình có tầm vóc. Đó là điều đáng mừng.
Nhưng bài học tiếp theo có lẽ còn quan trọng hơn. Đó là phim lịch sử, huyền sử không thể sống chỉ bằng lòng tự hào dân tộc, thiết kế mĩ thuật công phu và những câu thoại mang tính tuyên ngôn. Điện ảnh cuối cùng vẫn phải trở về với những nguyên tắc tưởng chừng đơn giản nhất, đó là kể một câu chuyện rõ ràng, xây dựng nhân vật đủ sâu, để lời thoại phát sinh từ hoàn cảnh và để cho cảm xúc của khán giả được tích lũy từ chính diễn xuất của diễn viên.
Nếu xem “Hộ linh tráng sĩ” như một bước thử sức của điện ảnh Việt với dòng phim huyền sử hành động, thì đây vẫn là một bước thử đáng giá vì nó chỉ ra khá rõ cả khả năng lẫn giới hạn hiện tại của điện ảnh nước nhà. Nhưng từ đây chúng ta có quyền hi vọng về những bộ phim cùng đề tài quy mô và toàn vẹn hơn.
HÀ THANH VÂN
VNQD