Nhân sự kiện ấn bản tiếng Anh Abandoning A Cat: A Personal Story (bản dịch của Philip Gabriel, NXB Penguin phát hành) vừa chính thức lên kệ ngày 20/10/2026 và lập tức trở thành cuốn sách bán chạy (Best-seller) trên báo The New York Times, Văn nghệ Quân đội xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bản dịch trích đoạn tác phẩm này.
Lời dẫn của Dịch giả:
Abandoning a Cat: What I Talk About When I Talk About My Father (nguyên tác tiếng Nhật: Neko wo suteru: Chichi ni tsuite kataru koto) là mảnh ghép hồi kí cá nhân hiếm hoi và vô cùng sâu lắng của Haruki Murakami.
Khởi đầu từ một ký ức tuổi thơ dịu dàng nhưng đầy trăn trở - chuyến đi xe đạp của hai cha con mang bỏ một con mèo nhỏ bên bờ biển, để rồi ngạc nhiên thấy nó đã chạy về nhà trước cả họ - Murakami dẫn dắt người đọc bước vào hành trình tự sự chân thật về người cha Chiaki Murakami, về những vết thương chiến tranh âm thầm và khoảng cách tinh thần giữa hai thế hệ.
Với Murakami, mỗi chúng ta chỉ như một giọt nước mưa rơi xuống mặt đất - nhỏ bé và ngẫu nhiên. Nhưng chính những mảnh ghép nhỏ bé ấy lại định hình nên lịch sử và bản ngã của mỗi con người.
Mời bạn đọc cùng thưởng thức bản dịch sâu lắng này dưới đây.

Bìa cuốn Abandoning a Cat của NXB Penguin
Bỏ rơi một con mèo
.HARUKI MURAKAMI
Tất nhiên tôi có rất nhiều kỉ niệm về cha. Đó là lẽ thường bởi vì chúng tôi đã chung sống dưới một mái nhà trong ngôi nhà không mấy rộng rãi từ khi tôi sinh ra cho đến khi rời nhà năm 18 tuổi. Và như hầu hết trường hợp cha mẹ và con trẻ, trong hình dung của tôi, một số kí ức về cha là hạnh phúc, một số khác lại không vui lắm. Nhưng những ký ức còn đọng lại rõ nét nhất trong tâm trí tôi giờ đây không thuộc loại nào cả, chúng liên quan đến những sự kiện bình thường hơn.
Câu chuyện này chẳng hạn.
Khi sống ở Shukugawa (một phần của thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo), một ngày nọ, hai cha con tôi đi đến bãi biển để đuổi một con mèo. Không phải mèo con mà là một con mèo cái đã lớn tuổi. Tại sao phải đuổi nó đi thì tôi không nhớ nổi. Ngôi nhà chúng tôi ở là một ngôi nhà dành cho một gia đình có vườn và nhiều chỗ cho một con mèo. Có lẽ con mèo hoang đi lạc được chúng tôi nhận nuôi giờ đang mang thai và cha mẹ tôi cảm thấy họ không thể chăm sóc nó thêm nữa. Trí nhớ của tôi khá mơ hồ về điểm này. Hồi đó đuổi mèo đi là bình thường chứ không phải là chuyện gì ghê gớm đáng bị chỉ trích. Ý tưởng thiến mèo chưa từng xuất hiện trong đầu bất kì ai. Tôi nghĩ lúc đó mình đang học một trong những lớp bậc nhỏ trong trường tiểu học, nên có lẽ vào khoảng năm 1955 hoặc muộn hơn một chút. Gần nhà chúng tôi là tàn tích của một tòa nhà ngân hàng đã bị máy bay Mỹ ném bom - một trong vài vết sẹo còn lại vẫn còn thấy được của chiến tranh.
Hai cha con khởi hành vào buổi chiều mùa hè năm ấy để bỏ lại con mèo bên bờ biển. Ông đạp xe, tôi ngồi phía sau ôm chiếc hộp có con mèo bên trong. Chúng tôi đi dọc theo sông Shukugawa, đến bãi biển ở Koroen, đặt chiếc hộp xuống giữa những cái cây ở đó, rồi đi thẳng về nhà mà chẳng hề ngoảnh lại lần nào. Bãi biển chắc phải cách nhà khoảng hai cây số.
Về nhà, chúng tôi xuống xe khi vẫn mãi trò chuyện về cảm giác tiếc nuối cho con mèo như thế nào, nhưng chúng tôi có thể làm gì đây? Tuy nhiên ngay khi chúng tôi mở cửa trước, con mèo bị bỏ rơi đã ở đó, chào đón chúng tôi bằng tiếng meo meo thân thiện với cái đuôi dựng đứng. Nó khiến chúng tôi vô cùng kinh ngạc. Cả đời tôi cũng chẳng thể hiểu nổi con mèo đã làm điều đó như thế nào. Chúng tôi đã đi bằng xe đạp cơ mà. Cha tôi cũng bối rối. Hai cha con đứng đó một lúc, không thốt được lời nào. Dần dần, vẻ mặt sửng sốt của cha dần chuyển sang vẻ ngưỡng mộ và sau cùng là nhẹ nhõm. Thế là con mèo lại trở thành thú cưng của chúng tôi.
Chúng tôi luôn nuôi mèo trong nhà và rất yêu mến chúng. Tôi không có anh chị em, mèo và sách là những người bạn thân thiết nhất khi tôi lớn lên. Tôi thích ngồi phơi nắng bên hiên nhà cùng một con mèo. Vậy tại sao chúng tôi lại đem con mèo đó ra bãi biển rồi bỏ rơi nó? Tại sao tôi không phản đối? Những câu hỏi này cùng với câu hỏi làm thế nào con mèo khiến chúng tôi sửng sốt khi về nhà - chưa bao giờ được trả lời.

Ảnh minh họa bài viết của Emiliano Ponzi.
Một kỉ niệm khác về cha tôi là thế này.
Mỗi buổi sáng trước giờ ăn sáng, cha thường ngồi rất lâu trước điện thờ Butsudan trong nhà, chăm chú đọc kinh với đôi mắt nhắm. Chính xác thì đó không phải là một ngôi đền Phật giáo thông thường, mà là một chiếc tủ kính hình trụ nhỏ với một bức tượng bồ tát được chạm trổ tinh xảo bên trong. Tại sao cha lại tụng kinh mỗi sáng trước tủ kính đó thay vì trước một Butsudan thông thường? Đó là một câu hỏi nữa trong danh sách những câu hỏi chưa có lời đáp của tôi.
Dù sao đi nữa, đây rõ ràng là một nghi lễ quan trọng đối với ông, một nghi lễ đánh dấu thời khắc bình minh. Theo những gì tôi biết, ông chưa bao giờ bê trễ trong việc thực hiện điều mà ông gọi “bổn phận” và không một ai được phép can thiệp vào việc đó. Có một sự tập trung cao độ vào toàn bộ hành động. Chỉ đơn giản dán nhãn đó là “thói quen hàng ngày” là không công bằng.
Có lần, hồi còn nhỏ, tôi hỏi cha đang cầu nguyện cho ai. Ông đáp rằng ông cầu nguyện cho những người đã qua đời trong chiến tranh. Đồng đội của ông, những người lính Nhật Bản, cũng như những người Trung Quốc từng là kẻ thù của họ. Ông không đi sâu vào chi tiết, tôi cũng không ép. Tôi ngờ rằng nếu làm thế có lẽ cha sẽ cởi mở hơn. Nhưng tôi đã dừng lại. Chắc hẳn có điều gì đó bên trong đã ngăn cản tôi theo đuổi chủ đề này.
Tôi nên giải thích một chút về lai lịch của cha. Ông nội, Benshiki Murakami, sinh ra trong một gia đình nông dân ở tỉnh Aichi. Theo thông lệ của những người con trai thứ, ông nội được gửi đến một ngôi chùa gần đó để đào tạo thành thầy tu. Là một học trò giỏi, sau khi học nghề ở nhiều ngôi chùa khác nhau, ông được bổ nhiệm làm trụ trì chùa Anyoji, ở Kyoto. Có đến bốn hay năm trăm gia đình trong khuôn viên ngôi chùa, vì vậy đây quả là một sự thăng tiến lớn đối với ông.
Tôi lớn lên ở vùng Osaka-Kobe nên không có nhiều cơ hội về thăm nhà ông nội, ngôi chùa ở Kyoto này, vì thế tôi có rất ít kí ức về ông. Nhưng theo những gì tôi biết được, ông là kiểu người tự do, không bị ràng buộc và rất thích uống rượu. Như tên gọi của ông ngụ ý - kí tự ben trong tên riêng nghĩa là “hùng biện” - ông có tài ăn nói, là một thầy tu có năng lực và dường như rất nổi tiếng. Nhớ lại thì ông trò chuyện vô cùng lôi cuốn với chất giọng âm vang hào sảng.
Ông nội có sáu người con trai (không có một người con gái nào) và là một người khỏe mạnh, tốt bụng, nhưng đáng buồn là ở tuổi 70, vào lúc 8 giờ 50 phút sáng ngày 25 tháng 8 năm 1958, ông bị tàu hỏa đâm khi đang băng qua đường ray của Tuyến Keishin nối Kyoto (Misasagi) và Otsu, và thiệt mạng. Đó là một tuyến đường sắt không có người giám sát ở Yamada-cho, Kitahanayama, Yamashina, thuộc Higashiyama-ku. Một cơn bão lớn đã tấn công vùng Kinki vào ngày đặc biệt đó, trời đang mưa to và ông nội vẫn đang cầm ô, có lẽ ông không nhìn thấy con tàu đang rẽ qua một khúc cua. Ông cũng hơi lãng tai một chút.
Cái đêm gia đình biết tin ông nội qua đời, tôi nhớ cha vội vã chuẩn bị đi Kyoto, mẹ tôi vừa khóc vừa bám lấy ông cầu xin “Dù thế nào, anh cũng đừng nhận lời tiếp quản ngôi chùa nhé”. Hồi đó tôi mới chín tuổi nhưng hình ảnh đó đã khắc sâu vào tâm trí tôi giống như một cảnh khó quên trong một bộ phim đen trắng. Cha không chút cảm xúc, lặng lẽ gật đầu. Tôi nghĩ ông đã quyết định rồi. Tôi có thể cảm nhận được nó.
Cha tôi sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917 tại Awata-guchi, Sakyo-ku, Kyoto. Khi ông còn là một cậu bé, thời kì dân chủ Taisho yên bình sắp kết thúc, tiếp theo là cuộc Đại Suy thoái u ám, kế đến là vũng lầy Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ hai, và sau cùng là thảm kịch của Thế chiến thứ Hai. Sau đó là sự hỗn loạn và nghèo đói vào thời kì hậu chiến, khi thế hệ cha tôi phải vật lộn để tồn tại. Như tôi đã đề cập, cha là một trong sáu anh em. Ba người trong số họ đã phải nhập ngũ và chiến đấu trong Chiến tranh Nhật - Trung lần thứ hai, thật kì diệu họ đã sống sót trở về mà không có thương tích nghiêm trọng. Hầu như tất cả sáu người con trai ít nhiều đều có đủ cư cách để làm thầy tu. Họ thừa hưởng nền giáo dục như thế. Chẳng hạn, cha tôi giữ cấp thầy tu bậc trung, gần tương đương với cấp thiếu úy trong quân đội. Vào mùa hè, trong mùa Obon bận rộn - lễ hội hàng năm để tưởng nhớ tổ tiên - sáu anh em sẽ tập hợp ở Kyoto rồi chia nhau đi thăm phật tử trong chùa. Buổi tối họ tụ tập và uống rượu.
Sau khi ông nội qua đời, có một câu hỏi cấp bách là ai sẽ đảm nhận nhiệm vụ trụ trì ở chùa. Hầu hết con trai đều đã lập gia đình và có công ăn việc làm. Thực sự mà nói, không ai ngờ ông nội lại qua đời sớm và đột ngột như vậy.
Người con trai cả - bác Shimei Murakami - đã muốn trở thành bác sĩ thú y, nhưng sau chiến tranh, ông nhận công việc tại cơ quan thuế ở Osaka và hiện là trưởng tiểu khu, trong khi đó cha tôi, con trai thứ hai, dạy tiếng Nhật tại trường trung học cơ sở và trung học phổ thông Koyo Gakuin kết hợp ở khu vực Kansai. Những người anh em khác cũng là giáo viên hoặc đang theo học tại các trường cao đẳng liên kết Phật giáo. Hai anh em đã được các gia đình khác nhận nuôi, đó là một thông lệ, và có họ khác. Dù sao đi nữa, khi họ gặp nhau để thảo luận tình hình, không ai tình nguyện nhận nhiệm vụ trong chùa. Trở thành trụ trì của một ngôi chùa lớn như thế không phải là việc dễ dàng và sẽ là gánh nặng cho gia đình bất kì ai. Các anh em đều hiểu rất rõ điều này. Và bà nội, giờ đã góa bụa, là một người vô cùng nghiêm khắc, chuẩn mực; bất kỳ người vợ nào cũng sẽ cảm thấy khó khăn khi phải phục vụ với tư cách là bạn đời của trụ trì khi bà nội vẫn còn ở đó. Mẹ tôi là con gái lớn của một gia đình thương gia lâu đời ở Senba, Osaka. Bà là một phụ nữ sành điệu, hoàn toàn không phải là mẫu người phù hợp với tư cách là vợ của một trụ trì ở Kyoto. Thế nên chẳng trách mẹ đã ôm chặt cha, rơi nước mắt cầu xin ông đừng tiếp quản ngôi chùa.
Ít nhất theo quan điểm của tôi, với tư cách là con trai ông, cha có vẻ là một người chính trực, có trách nhiệm. Cha không thừa hưởng tính cách cởi mở của ông nội (cha thường hay lo lắng), nhưng sự tử tế và lối trò chuyện của ông khiến người khác cảm thấy thoải mái. Cha cũng có một đức tin chân thành. Có lẽ ông sẽ là một thầy tu tốt, và tôi nghĩ cha biết điều đó. Tôi đoán rằng nếu cha còn độc thân, ông sẽ không phản đối ý tưởng đó nhiều lắm. Nhưng có một thứ mà cha không thể thỏa hiệp - chính là gia đình nhỏ của riêng ông.
Cuối cùng, bác Shimei đã từ bỏ công việc ở cơ quan thuế, kế vị ông nội làm trụ trì chùa Anyoji. Sau đó, con trai bác, anh họ tôi Junichi, tiếp tục kế vị ông. Theo lời anh Junichi, bác Shimei đồng ý trở thành trụ trì vì ý thức nghĩa vụ mình là con trai cả. Tôi nói bác đồng ý nhưng điều quan trọng hơn là bác không có lựa chọn nào khác. Hồi đó, phật tử có ảnh hưởng lớn hơn bây giờ rất nhiều và có lẽ họ không để bác thoát khỏi vòng vây.
chắp tay cầu nguyện
về phía mặt trăng
Tôi không phải là chuyên gia thơ haiku nên không thể diễn đạt được cha đã thành công đến mức nào. Rõ ràng, điều gắn kết những câu thơ này với nhau không phải là kĩ thuật mà chính cảm xúc cởi mở, chân thành đã làm chúng trở nên nổi bật.
Cha tôi chắc chắn đã học tập cần mẫn để trở thành một thầy tu. Nhưng một lỗi văn thư đơn giản đã biến ông thành một người lính. Ông đã trải qua quá trình huấn luyện cơ bản khắc nghiệt, được trao một khẩu súng trường Kiểu 38, được đưa lên một con tàu chở quân, gửi đến những trận chiến kinh hoàng ở tiền tuyến. Đơn vị của ông liên tục di chuyển, đụng độ với quân đội và du kích Trung Quốc, những người kháng cự rất quyết liệt. Trong mọi cách có thể tưởng tượng được, điều này hoàn toàn trái ngược với cuộc sống trong một ngôi chùa yên bình trên những ngọn đồi ở Kyoto. Chắc hẳn ông đã phải chịu đựng sự rối loạn thần kinh và hỗn loạn tinh thần to lớn. Giữa tất cả những điều đó, làm thơ haiku có lẽ là niềm an ủi duy nhất của ông. Những điều không bao giờ có thể viết trong những bức thư, nếu không chúng sẽ không vượt qua được cơ quan kiểm duyệt, ông đã đưa nó vào dạng haiku - thể hiện bản thân bằng một mật mã tượng trưng như đúng bản chất của haiku - nơi ông có thể bộc lộ những cảm xúc chân thật.
Cha chỉ kể về chiến tranh duy nhất một lần khi ông kể tôi nghe câu chuyện đơn vị ông đã hành quyết một tù binh Trung Quốc như thế nào. Tôi không biết điều gì đã thôi thúc ông kể tôi nghe chuyện đó. Chuyện xảy ra lâu đến nỗi nó chỉ còn là một kí ức biệt lập, bối cảnh không rõ ràng. Tôi vẫn còn học lớp dưới ở trường tiểu học. Ông kể thực tế cuộc hành quyết đã diễn ra như thế nào. Người lính Trung Quốc dù biết mình sắp bị giết nhưng ông ta không vùng vẫy, không hề tỏ ra sợ hãi mà chỉ im lặng ngồi đó nhắm mắt. Và ông ta bị chặt đầu. Cha kể thái độ của người đàn ông đó rất mẫu mực. Dường như cha kính trọng sâu sắc người lính Trung Quốc ấy. Tôi không rõ liệu cha chỉ đứng nhìn những người lính khác trong đơn vị thực hiện vụ hành quyết hay chính ông bị buộc phải ra tay trực tiếp. Bây giờ không có cách nào để xác nhận liệu điều này là do trí nhớ của tôi mơ hồ hay do cha tôi đã mô tả sự việc bằng những thuật ngữ mơ hồ có chủ ý. Nhưng có một điều rõ ràng: trải nghiệm đó đã để lại cảm giác thống khổ và dằn vặt dài đằng đẳng trong tâm hồn của vị thầy tu đã trở thành người lính này.
Thời đó, việc cho phép binh lính mới và tân binh thực hành giết chóc bằng cách hành quyết những tù binh Trung Quốc không phải là chuyện hiếm gặp. Tất nhiên, việc giết tù nhân không có vũ khí là vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng quân đội Nhật Bản thời đó dường như coi việc đó là đương nhiên. Các đơn vị quân đội có thể không có đủ nguồn lực để chăm sóc tù nhân. Hầu hết các vụ hành quyết đều thực hiện bằng cách bắt tù nhân, hoặc đâm anh ta bằng lưỡi lê, nhưng tôi nhớ cha tôi kể rằng trong vụ hành quyết đặc biệt này, người ta đã dùng một thanh kiếm.
Khỏi phải nói, lời kể của cha về vụ chặt đầu người đàn ông bằng kiếm một cách máu lạnh đã khắc sâu vào tâm trí non nớt của tôi. Nói cách khác, gánh nặng mà cha tôi đã mang - một chấn thương theo thuật ngữ ngày nay - một phần đã truyền lại cho tôi, con trai ông. Đó là cách kết nối của con người hoạt động, cách lịch sử vận hành. Đó là một hành động chuyển giao và nghi lễ. Cha tôi hầu như không nói một lời nào về trải nghiệm thời chiến. Cũng chưa chắc cha muốn nhớ lại vụ hành quyết hay nói về nó. Nhưng chắc hẳn cha cảm thấy cần phải kể lại câu chuyện với con trai, máu thịt của ông, ngay cả khi điều này có nghĩa là nó sẽ để lại một vết thương hở cho cả hai cha con.
Trung đoàn Bộ binh 20 cùng với đơn vị của cha tôi trở về Nhật Bản vào ngày 20 tháng 8 năm 1939. Sau một năm đi lính, cha tiếp tục theo học ở trường Seizan. Vào thời đó, nghĩa vụ quân sự có nghĩa là hai năm phục vụ quân ngũ, nhưng không hiểu sao cha tôi chỉ phục vụ một năm. Có lẽ quân đội đã tính đến thực tế ông được ghi danh là sinh viên khi nhập ngũ.
Sau khi xuất ngũ, cha tôi tiếp tục niềm đam mê viết haiku. Bài thơ sau đây, được viết vào tháng 10 năm 1940, có lẽ được lấy cảm hứng từ chuyến thăm thiện chí của đoàn Thanh niên Hitler tới Nhật Bản
Họ gọi và hát
để đưa con hươu đến gần hơn
Thanh niên Hitler.
Cá nhân tôi thực sự thích bài haiku này, nó ghi lại một thời khắc mờ mịt trong lịch sử một cách tinh tế khác thường. Có một sự tương phản nổi bật giữa cuộc xung đột đẫm máu xa xưa ở Châu Âu và loài hươu (có lẽ là loài hươu nổi tiếng ở Nga). Những Thanh niên Hitler đó, đang tận hưởng chuyến thăm ngắn ngày tới Nhật Bản, rất có thể đã bỏ mạng trong mùa đông khắc nghiệt ở Mặt trận phía Đông.
Tôi cũng bị cuốn hút bởi bài thơ này:
Dịp kỉ niệm
cái chết của Issa, tôi ngồi đây
cùng những bài thơ buồn của ông
Thế giới được mô tả rất yên tĩnh và tĩnh lặng nhưng vẫn có cảm giác hỗn loạn kéo dài.
Cha tôi luôn yêu thích văn học, và sau khi trở thành giáo viên, ông dành phần lớn thời gian để đọc. Ngôi nhà của chúng tôi chất đầy sách. Điều này có thể đã ảnh hưởng đến thời niên thiếu của tôi khi tôi cũng bắt đầu say mê những quyển sách. Cha tôi tốt nghiệp loại xuất sắc tại trường Seizan, và vào tháng 3 năm 1941, ông vào học tại khoa Văn tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Không dễ dàng vượt qua kì thi tuyển sinh vào một trường hàng đầu như Đại học Hoàng gia Kyoto sau khi đã trải qua nền giáo dục Phật giáo để trở thành một thầy tu. Mẹ thường nói với tôi “Cha con rất thông minh”. Tôi không biết cha thực sự thông minh đến mức nào. Thành thật mà nói, đó không phải là một câu hỏi khiến tôi quan tâm nhiều. Đối với ai đó trong công việc của tôi, trí thông minh không quan trọng bằng trực giác nhạy bén. Dù vậy, sự thật cha tôi luôn đạt điểm xuất sắc ở trường.
So với cha, tôi chưa bao giờ có nhiều hứng thú với học hành, điểm của của tôi mờ nhạt từ đầu đến cuối. Tôi là kiểu người háo hức theo đuổi những thứ mình quan tâm nhưng không hề bận tâm đến bất cứ điều gì khác. Điều đó đúng khi tôi còn là sinh viên, đến giờ nó vẫn đúng.
Điều này khiến cha tôi thất vọng, cha hẳn đã so sánh tôi và ông ở cùng độ tuổi. Con được sinh ra trong thời bình cơ mà, cha hẳn đã nghĩ vậy. Con có thể học bao nhiêu tùy thích mà không có ai cản trở. Vậy tại sao con không nỗ lực nhiều hơn? Tôi nghĩ cha muốn tôi đi theo con đường mà ông không thể đi vì chiến tranh.
Nhưng tôi không thể đáp ứng được kì vọng của cha. Tôi không bao giờ có thể tự học theo cách ông muốn. Tôi nhận thấy hầu hết các lớp học ở trường đều khiến tôi chán nản, hệ thống trường học quá thống nhất và hà khắc. Điều này làm cha tôi thường xuyên lo lắng còn tôi thì phiền muộn kinh niên (cộng thêm một chút tức giận vô thức). Khi tôi trở thành tiểu thuyết gia ở tuổi 30, cha thực sự hài lòng, nhưng thời điểm đó mối quan hệ của hai cha con đã trở nên xa xách và nguội lạnh.
Ngay cả bây giờ tôi vẫn mang theo mình cảm giác - có lẽ là phần còn lại của cảm giác - rằng tôi đã làm cha thất vọng, khiến ông gục ngã. Trở lại thời niên thiếu, điều này khiến mọi thứ ở nhà trở nên khó chịu cùng cảm giác tội lỗi thường trực trong tôi. Tôi vẫn gặp ác mộng khi phải làm bài kiểm tra ở trường và không thể trả lời được dù chỉ là một câu hỏi. Thời gian trôi qua, tôi vẫn không làm gì cả, dù biết rõ việc trượt bài kiểm tra sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng - chính là kiểu ác mộng đó. Người tôi đổ mồ hôi lạnh toát mỗi khi thức dậy.
Nhưng hồi đó, chuyện dán mắt vào bàn học, hoàn thành bài tập về nhà và đạt điểm cao hơn trong các kỳ thi kém hấp dẫn hơn nhiều so với đọc sách, nghe nhạc, chơi thể thao và hẹn hò với các cô gái.
Tất cả những gì chúng ta có thể làm là hít thở bầu không khí hiện tại, mang theo những gánh nặng đặc biệt của thời đại và lớn lên trong những giới hạn đó. Cách mọi thứ diễn ra là thế đó.
Cha tôi tốt nghiệp Trường Nghiên cứu Seizan vào mùa xuân năm 1941, và cuối tháng 9 nhận được thông báo nhập ngũ đặc biệt. Ngày 3 tháng 10, ông trở lại trong bộ quân phục, đầu tiên là ở Trung đoàn bộ binh 20 (Fukuchiyama), sau đó là Trung đoàn vận tải 53, trực thuộc Sư đoàn 53.
Năm 1940, Sư đoàn 16 đóng quân cố định ở Mãn Châu, và trong thời gian ở đó Sư đoàn 53 ở Kyoto được cơ cấu để thay thế. Rất có thể, sự nhầm lẫn của việc tái cơ cấu đột ngột này là lí do ban đầu cha tôi được chuyển đến Trung đoàn Fukuchiyama. (Như tôi đã nói, tôi luôn bị thuyết phục một cách sai lầm rằng ông đã ở Trung đoàn Fukuchiyama ngay từ lần đầu tiên nhập ngũ). Sư đoàn 53 được cử đến Miến Điện năm 1944, tham gia trận Imphal và từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 3 năm 1945 suýt bị quân Ấn tiêu diệt trong trận Sông Irrawaddy.
Nhưng thật bất ngờ, ngày 30 tháng 11 năm 1941, cha tôi được giải ngũ và được phép trở về đời sống thường dân. Ngày 30 tháng 11 là tám ngày trước cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Nếu là sau cuộc tấn công, tôi nghi ngờ liệu quân đội có đủ rộng lượng để ông rời đi hay không.
Như cha tôi kể, một sĩ quan đã cứu mạng ông. Vào thời điểm đó, cha tôi là một binh nhì và được một sĩ quan cao cấp triệu tập, người đã nói với ông rằng “Anh đang theo học tại Đại học Hoàng gia Kyoto và sẽ phục vụ đất nước tốt hơn bằng cách tiếp tục đi học thay vì đi lính”. Liệu một quan chức có thẩm quyền có đưa ra quyết định này không? Tôi không biết nữa. Thật khó để tưởng tượng một sinh viên nhân văn như cha tôi lại có thể được coi là đang phục vụ đất nước bằng cách nào đó khi quay lại trường đại học và nghiên cứu haiku. Phải có những yếu tố khác tác động. Dù thế nào đi nữa, ông được giải ngũ và trở lại là người tự do.
Ít nhất đó là câu chuyện tôi đã nghe, hoặc kí ức đã nghe, khi còn nhỏ. Thật không may, nó không khớp với sự thật. Hồ sơ của Đại học Hoàng gia Kyotocho cho thấy cha tôi đăng kí vào khoa Văn vào tháng 10 năm 1944. Có lẽ trí nhớ của tôi quá mập mờ. Hoặc có thể chính mẹ đã kể cho tôi nghe chuyện này và trí nhớ của bà sai sót. Bây giờ không có cách nào để xác minh điều gì đúng điều gì không.
Theo hồ sơ, cha tôi vào khoa Văn của Đại học Hoàng gia Kyoto vào tháng 10 năm 1944 và tốt nghiệp vào tháng 9 năm 1947. Nhưng tôi không biết ông ở đâu, hay đang làm gì, trong độ tuổi từ 23 đến 26, ba năm sau khi ông xuất ngũ và trước khi vào đại học.
Ngay sau khi cha tôi giải ngũ, Thế chiến thứ Hai nổ ra ở Thái Bình Dương. Trong suốt chiến tranh, Sư đoàn 16 và Sư đoàn 53 về cơ bản là bị tiêu diệt. Nếu cha tôi không xuất ngũ, nếu ông bị chuyển đi cùng một trong những đơn vị của ông, gần như chắc chắn ông sẽ chết trên chiến trường, và khi đó, tất nhiên tôi sẽ không tồn tại như bây giờ. Bạn có thể gọi đó là may mắn, nhưng chính việc mạng sống của ông được cứu trong khi những đồng đội cũ qua đời đã trở thành cội nguồn của nỗi đau đớn và thống khổ tột độ. Giờ đây tôi càng hiểu rõ hơn tại sao ông nhắm mắt thành kính tụng kinh vào mỗi buổi sáng.
Ngày 12 tháng 6 năm 1945, sau khi vào Đại học Hoàng gia Kyoto, cha tôi nhận được giấy nhập ngũ lần thứ ba. Lần này ông được bổ nhiệm vào Quân đoàn Chubu 143 với tư cách là binh nhì. Không rõ quân đoàn đóng quân ở đâu nhưng họ vẫn ở bên trong Nhật Bản. Hai tháng sau, ngày 15 tháng 8, chiến tranh kết thúc, ngày 28 tháng 10, cha tôi xuất ngũ và trở lại trường học. Lúc này, ông đã 27 tuổi.
Tháng 9 năm 1947, cha tôi vượt qua kì thi để nhận bằng Cử nhân Nghệ thuật và tiếp tục theo học chương trình sau đại học chuyên ngành Văn học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Tôi sinh vào tháng 1 năm 1949. Vì đã lớn tuổi, lại lấy vợ và có con, nên cha tôi phải bỏ dở việc học trước khi hoàn thành chương trình. Để kiếm sống, ông đảm nhận vị trí giáo viên dạy tiếng Nhật tại Koyo Gakuin, ở Nishinomiya. Tôi không rõ chi tiết việc cha và mẹ đã kết hôn như thế nào. Vì họ sống xa nhau, một người ở Kyoto, một người ở Osaka - rất có thể một người quen chung đã giới thiệu cha mẹ với nhau. Mẹ tôi vốn có ý định lấy một người đàn ông khác là giáo viên dạy nhạc nhưng người này đã chết trong chiến tranh. Cửa hàng mà ông ngoại sở hữu ở Senba, Osaka cũng bị thiêu rụi sau một trận ném bom của Mỹ. Mẹ luôn nhớ đến những chiếc máy bay chiến đấu trên tàu sân bay Grumman oanh tạc thành phố và cuộc chạy trốn để sống sót trên đường phố Osaka. Chiến tranh vì thế cũng có tác động sâu sắc đến cuộc đời mẹ.
Mẹ tôi năm nay đã 96 tuổi, cũng là giáo viên dạy tiếng Nhật. Sau khi tốt nghiệp khoa Văn Trường Nữ sinh Shoin ở Osaka, bà làm giáo viên tại trường cũ nhưng đã nghỉ việc sau khi kết hôn.
Theo lời mẹ, thời trẻ cha tôi sống khá hoang dã. Khi đó những trải nghiệm thời chiến của ông còn mới mẻ và sự thất vọng khi thực tế cuộc sống không diễn ra như ông mong muốn đôi khi khiến mọi thứ trở nên khó khăn. Ông uống rượu rất nhiều và thỉnh thoảng đánh học trò. Nhưng khi tôi lớn lên, ông đã dịu dàng hơn rất nhiều. Đôi khi cha chán nản, bất ổn và uống rượu quá nhiều (điều mẹ tôi phàn nàn mãi), nhưng tôi không nhớ bất kỳ trải nghiệm khó chịu nào ở nhà chúng tôi.
Khách quan mà nói, tôi nghĩ cha là một giáo viên xuất sắc. Khi ông qua đời, tôi rất ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều học trò cũ đến viếng ông. Dường như họ dành rất nhiều tình cảm cho ông. Nhiều người trong số họ đã trở thành bác sĩ và họ đã chăm sóc ông rất chu đáo khi ông chiến đấu với căn bệnh tiểu đường và ung thư.
Mẹ tôi cũng là một giáo viên xuất sắc theo đúng nghĩa của bà, ngay cả sau khi bà sinh tôi và trở thành bà nội trợ toàn thời gian, nhiều học trò cũ vẫn ghé qua nhà thăm bà. Tuy nhiên, vì lí do nào đó, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình phù hợp để trở thành một thầy giáo.
Khi tôi lớn lên và hình thành tính cách riêng, sự bất hòa tâm lí giữa hai cha con ngày càng rõ ràng. Cả hai chúng tôi đều chính trực và khi không bộc lộ suy nghĩ của bản thân một cách trực tiếp, cha con tôi giống như cùng một kiểu người. Tốt hơn hoặc tồi tệ hơn.
Sau khi tôi kết hôn và bắt đầu đi làm, hai cha con càng trở nên xa cách. Và khi tôi trở thành nhà văn chuyên nghiệp, mối quan hệ của chúng tôi trở nên phức tạp đến mức cuối cùng chúng tôi cắt đứt gần như mọi liên lạc. Hai cha con đã không gặp nhau hơn hai mươi năm và chỉ nói chuyện khi thật cần thiết.
Cha con chúng tôi sinh ra ở những thời đại và môi trường khác nhau, cách suy nghĩ và cách nhìn thế giới của chúng tôi cũng cách nhau một trời một vực. Nếu tại một thời điểm nào đó tôi cố gắng xây dựng lại mối quan hệ của hai cha con, mọi thứ có thể đã đi theo hướng khác, nhưng vì quá tập trung vào những gì mình muốn làm nên tôi không thể nỗ lực.
Sau cùng cha con tôi cũng trò chuyện mặt đối mặt không lâu trước khi ông qua đời. Tôi đã gần 60 còn bố tôi 90. Ông đang điều trị trong một bệnh viện ở Nishijin, Kyoto. Ông mắc bệnh tiểu đường nặng và ung thư di căn khắp cơ thể. Dù trước đây có thân hình phốp pháp nhưng giờ đây ông trở nên gầy gò. Tôi hầu như không nhận ra ông. Và ở đó, trong những ngày cuối đời - những ngày cuối cùng - hai cha con đã có một cuộc trò chuyện ngượng ngùng và đạt được một sự hòa giải nào đó. Bất chấp những khác biệt, khi nhìn ngắm người cha gầy gò, tôi thực sự cảm thấy có một sợi dây liên kết ràng buộc hai người chúng tôi.
Ngay cả bây giờ, tôi vẫn có thể hồi tưởng cảm giác bối rối chung của ngày hè đó khi chúng tôi cùng nhau đạp xe đến bãi biển ở Koroen để bỏ rơi một con mèo mướp, một con mèo hoàn toàn có lợi thế hơn chúng tôi. Tôi có thể nhớ cả tiếng sóng, mùi gió rít qua rặng thông. Chính sự tích lũy những điều tầm thường như thế đã tạo nên con người tôi.
Tôi còn có một kỉ niệm nữa từ thời thơ ấu liên quan đến một con mèo. Tôi từng đưa tình tiết này vào một trong những cuốn tiểu thuyết của mình nhưng muốn đề cập lại nó ở đây, như một điều gì đó đã thực sự xảy ra.
Chúng tôi có nuôi một chú mèo con màu trắng. Tôi không nhớ làm thế nào chúng tôi có nó, bởi vì hồi đó luôn có mèo đến và đi trong nhà chúng tôi. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ bộ lông của chú mèo con này đẹp thế nào, nó dễ thương ra sao.
Một tối nọ khi tôi đang ngồi ngoài hiên, con mèo đột nhiên trèo tót lên cây thông cao vút và xinh đẹp trong vườn nhà. Như thể nó muốn khoe với tôi rằng nó dũng cảm và nhanh nhẹn thế nào. Tôi không thể tin nổi nó lại leo lên thân cây rồi biến mất vào những cành cây phía trên nhanh đến thế. Một lúc sau, chú mèo bắt đầu kêu meo meo một cách đáng thương như thể đang cầu xin sự giúp đỡ. Nó không gặp khó khăn gì khi leo lên cao như vậy nhưng có vẻ nó sợ hãi khi leo xuống.
Tôi đứng dưới gốc cây nhìn lên nhưng không thấy con mèo. Tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng kêu yếu ớt của nó. Tôi chạy đến chỗ cha, kể cho ông nghe chuyện đã xảy ra, hy vọng ông có thể tìm cách giải cứu chú mèo con. Nhưng cha không thể làm gì, cây thông quá cao để có thể sử dụng thang. Con mèo con liên tục kêu cứu khi mặt trời bắt đầu lặn. Bóng tối cuối cùng đã bao trùm cây thông.
Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với chú mèo nhỏ đó. Sáng hôm sau khi thức dậy tôi không còn nghe tiếng nó khóc nữa. Tôi đứng dưới gốc cây, gọi tên con mèo nhưng không có lời đáp. Chỉ có sự lặng im.
Có lẽ con mèo đã trèo xuống trong đêm và đi đâu đó (nhưng đi đâu chứ?). Hoặc có thể vì không trèo xuống được nên nó đã bám vào cành cây, kiệt sức và ngày càng yếu dần cho đến chết. Tôi ngồi đó bên hiên nhà, ngước nhìn cái cây, với những viễn cảnh đó chạy qua tâm trí. Nghĩ đến chú mèo trắng bé nhỏ đang bám víu sự sống quý báu bằng những móng vuốt nhỏ xíu của nó, rồi teo lại và chết.
Trải nghiệm đó đã dạy cho tôi một bài học sống động: đi xuống khó hơn đi lên rất nhiều. Để khái quát hóa điều này, bạn có thể nói rằng kết quả lấn át nguyên nhân và vô hiệu hóa chúng. Trong một số trường hợp, một con mèo bị giết trong quá trình này, trong những trường hợp khác, con người sẽ chết.
Dù sao đi nữa, thực sự tôi chỉ một điều muốn nói ở đây. Một sự thật hiển nhiên duy nhất:
Tôi là đứa con bình thường của một người đàn ông bình thường. Đó là điều khá hiển nhiên, tôi biết. Nhưng khi bắt đầu khám phá sự thật đó, tôi thấy rõ ràng mọi điều xảy ra trong cuộc đời cha tôi và trong cuộc đời tôi đều là tình cờ. Chúng ta sống đời mình theo cách này: coi những điều xảy ra là do tình cờ và sự ngẫu nhiên là thực tế duy nhất có thể xảy ra.
Nói cách khác, hãy tưởng tượng những hạt mưa rơi trên một dải đất rộng. Mỗi người chúng ta là một giọt mưa vô danh giữa vô số giọt mưa. Chắc chắn là một giọt đơn lẻ, riêng biệt nhưng là một giọt hoàn toàn có thể thay thế được. Dẫu vậy, giọt mưa cô độc ấy vẫn có những cảm xúc riêng, lịch sử riêng, nghĩa vụ riêng phải tiếp nối lịch sử đó. Ngay cả khi nó mất đi tính toàn vẹn cá nhân và bị hấp thụ vào một thứ gì đó mang tính tập thể. Hoặc có thể chính xác là vì nó đã được hấp thụ vào một thực thể chung to lớn hơn.
Thỉnh thoảng tâm trí lại đưa tôi trở về với cây thông thấp thoáng trong vườn nhà ở Shukugawa. Nghĩ về con mèo nhỏ đó, vẫn đang bám vào cành cây, cơ thể đã biến thành xương trắng hếu. Và tôi nghĩ đến cái chết, thật khó nhọc biết bao khi phải leo thẳng xuống mặt đất, xuống nơi thấp đến mức khiến đầu bạn quay cuồng, choáng váng.
Trương Lê Na
Dịch từ bản dịch tiếng Anh của Philip Gabriel, đăng trên Tạp chí The New Yorker vào Tháng 9/2019
VNQD