Nổi tiếng bậc nhất với cuốn tiểu thuyết Jody và Chú nai con đoạt giải Pulitzer 1939 cũng như những tác phẩm hư cấu lấy bối cảnh nông thôn, khắc họa thiên nhiên tươi đẹp và con người đầy phẩm chất, tuy nhiên nếu cố định sự nghiệp của Marjorie Kinnan Rawlings chỉ riêng trong những điều ấy sẽ là thiếu sót, bởi cuốn tự truyện Cross Creek - Dưới vòm cam xanh hoàn toàn xứng đáng là một trong những tác phẩm đỉnh cao của bà.
Ra mắt vào năm 1942, cuốn sách xoay quanh những trải nghiệm thực khi bà chuyển từ phố thị New York rộn ràng để về với miền thôn quê Florida yên tĩnh, bình lặng. Bằng khoản thừa kế nhỏ, bà đã sở hữu riêng mình một vườn cam nhỏ và bắt đầu làm lại từ đầu, trong lúc vừa thu hoạch cam đồng thời viết lách, cũng như được truyền rất nhiều cảm hứng rồi sẽ làm nên những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của mình. Trong sách bà đã kể lại chi tiết hành trình có đầy thăng trầm, từ những khó khăn trong ngày đầu mới làm quen đến khi hòa mình, cảm thấy thân quen, cũng như tương tác với chính con người, cảnh trí nơi đây.
Thiên nhiên đa tầng

Tự truyện Dưới vòm cam xanh cho thấy một Rawlings nhiều suy tư trước thiên nhiên và con người, 2 nguồn cảm hứng lớn trong văn chương của bà.
Theo đó trong cuốn sách này, thiên nhiên xuất hiện dưới nhiều vai trò, từ trực tiếp đến gián tiếp, từ nông đến sâu… Ở tầng cơ bản nhất, đó là quang cảnh để bà nhìn ngắm và rồi từ đó biểu đạt cảm xúc. Đó là lí do trong số 23 chương sách, bà đã dành rất nhiều thời lượng để miêu tả những gì mình quan sát thấy, từ cây mộc lan nhìn ngắm từ cửa sổ bếp đến những loài vật mà mình đối đầu: kiến, gia súc, ếch nhái, rắn rết, thằn lằn… Bà cũng dành ra 4 chương với thời lượng tương đối dài để miêu tả về 4 mùa ở Cross Creek, gắn với hệ động-thực vật mà mình gặp được trong chuyến đi săn hoặc là dạo chơi. Điểm nổi bật trong các quan sát của Rawlings là sự tinh tế ở mức tiểu tiết và các miêu tả đầy chất thơ, để chỉ bằng từ ngữ thế nhưng những thước phim vẫn có thể hiện ra trong đầu độc giả mỗi khi đọc đến.
Đơn cử ta thấy điều đó ở đoạn văn sau: “Chúng tôi cần được nghe nhiều tiếng chim hót líu lo, vì chẳng có thanh âm nào du dương hơn tiếng hót của chim hồng tước. Chúng tôi cần nghe tiếng mưa trên những vạt rừng, tiếng gió trong những rặng cây và chẳng có cây đàn hạc gió nào nhạy cảm hơn một cây cọ. Những cây thông cũng rất tuyệt vời, vì tán lá kim chạm vào nhau mềm mại đến vô cùng khi gió thổi qua các rặng thông”. Không chỉ mắt nhìn, bà còn cảm nhận một cách tinh tế: “Vạt rừng khẽ thở. Sự sống len lỏi qua khu rừng đầy rong rêu, qua đầm lầy, qua những cây bách, qua con lợn rừng nái và bầy lợn con, qua tôi, thành chuỗi liên tục bất tận. Tất cả chúng tôi đều hòa làm một với nhịp đập thầm lặng ấy”.
Ở cấp cao hơn, thiên nhiên còn kết nối bà với mối quan hệ thiêng liêng nhất, khi con người không phải sinh vật cấp cao, mà là đứa con của mẹ thiên nhiên, cần sự ôm áp cũng như vỗ về. Như tựa chương cuối Cross Creek thuộc về ai?, sau nhiều thập kỉ sinh sống, bà hiểu nơi đây là sự truyền thừa của hằng hà sa số những thế hệ con người nối nhau góp mặt với hệ động thực vật luôn luôn hiện diện, vì thế nơi này chẳng thuộc riêng ai. Điều này thậm chí còn được đặt để ở đầu cuốn sách như lời khẳng định mà bà đúc rút: “Thuở chưa hình hài trong lòng mẹ, ta vốn đã là một mầm sống cắm rễ từ đất. Cõi đời này, ta có thể thiếu vắng bóng cha mẹ, lỡ làng người thân bè bạn, hay trôi dạt qua mọi ái ân nhân thế. Nhưng dứt khoát ta không thể sống nếu lìa xa đất đai, nếu bị bứng gốc khỏi nguồn cội sinh thành, và trái tim ta như bị ai bóp nghẹt mỗi khi quay lưng lại với đất để chỉ lo toan những rắc rối của người đời”.
Bằng quan niệm này, Marjorie Kinnan Rawlings không khỏi khiến ta nhớ đến tiểu thuyết Phúc lành của đất từ Knut Hamsun - tác phẩm chủ đạo mà nhờ đó ông được Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh với giải Nobel Văn chương 1920, khi cũng xem đất đai là đặc ân mà con người được hưởng, từ đó ca ngợi những ai không ngừng lao động, cày sâu cuốc bẫm. Ở Dưới vòm cam xanh, Rawlings cũng là một người như thế, khi bà kể lại những trải nghiệm cả thuận lợi và khó khăn khi cam được và mất mùa, cũng như những thách thức ban đầu khi mới dọn đến đây, không thể hòa nhập với chốn yên tĩnh từ nơi xô bồ… Nhưng bởi cảm nhận được tiếng gọi nguyên bản, mà từ rất sớm bà đã nhận ra nơi này là nhà: “như lần đầu nhận ra tình yêu với một con người, bởi việc gắn kết một người với một mảnh đất, cũng như người với người, là một cam kết cùng chia sẻ nỗi buồn lẫn niềm vui”.
Để rồi từ đó, Cross Creek nói riêng và thiên nhiên nói chung đã trở thành một vòng tay để “chữa lành” bà khỏi những khó khăn. Về mặt thời gian, bà mua nơi này vào năm 1928, đúng lúc công việc báo chí của mình và chồng ở Rochester (New York) gặp nhiều khó khăn. Vì vậy chuyến “về nguồn” này cũng đồng thời là một cuộc tìm kiếm bản thân, giúp bà đối mặt với nhiều thách thức để rồi từ đó mở ra một cánh cửa mới. Về mặt nghiên cứu, Dưới vòm cam xanh cũng là một tác phẩm giúp độc giả yêu thích Rawlings có thể lần ngược lại những cảm hứng mà từ đó bà đã viết ra những tác phẩm nổi tiếng nhất của mình như Jody và Chú nai con, Golden Apples… bởi như bà chia sẻ, những nơi đã qua, những người mình gặp… ít nhiều rồi sẽ trở thành các nhân vật trong trí tưởng tượng.
Con người phẩm chất

Marjorie Kinnan Rawlings tại vườn cam nổi tiếng của mình.
Bên cạnh thiên nhiên, con người cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuốn sách này. Nhà văn Đan Mạch Isak Dinesen, theo đó, đã phải đến tận châu Phi để nhìn thấy một chủng tộc da đen tuyệt đẹp và đầy phẩm chất trong Châu Phi nghìn trùng, nhưng với Rawlings, bà chỉ cần một chuyến đi ngắn để mà nhận ra những điều tương tự. Bởi lẽ trong sách bà đã dành ra rất nhiều chương nhỏ (cũng là những chương hay nhất) để viết về những con người mình tiếp xúc qua. Họ có thể là người da màu sinh sống từ lâu, là hậu duệ đau buồn của chủ nghĩa nô lệ; nhưng cũng có thể là người yêu mến đất đai, muốn dùng sức mình để mà khai phá như bản thân bà. Bên cạnh những người chí thú làm ăn, họ cũng có thể rày đây mai đó, không có bến đỗ… Nhưng dù thuộc về phía nào, dù những hạn chế vẫn tồn tại đó, thì Rawlings luôn luôn nhận thấy hạt giống thiện lành trong con người họ. Bà không ít lần cảm thấy buồn phiền trước những phận người bị xô dạt đến nơi đây, nhưng thay vì cố gắng thay đổi, bà chấp nhận họ với khía cạnh tích cực nhất và họ cũng vậy, từ đó hình thành nên một Cross Creek gắn kết cũng như bền chặt.
Về mặt văn chương, bên cạnh sự chân thật về cảm xúc và khả năng miêu tả những tri nhận tinh vi với giọng văn đầy chất thơ, Dưới vòm cam xanh còn gây chú ý bởi sự hài hước của chính Rawlings. Bởi sống tại một vùng đất vào thời điểm ấy còn lắm u minh, nên bà cũng đã bị đặt vào không ít cảnh huống “dở khóc dở cười”. Bằng tài năng bà đã thuật lại chúng một cách hấp dẫn và không thể quên, khiến cuốn sách từ một hồi kí mang tính quá vãng trở nên sống động và rất đặc biệt. Chẳng hạn bà đã hài hước kể về trải nghiệm “không chịu nổi” lần đầu của mình tại đây, khi bị muỗi tấn công, trong lúc nhiễm độc cây thường xuân và bị cỏ gai cứa vào, dẫn đến hét lên một cú “long trời” giải tỏa cảm xúc. Hình ảnh một “bà lớn” đoan trang, giàu có không thể chịu nổi nơi chốn mới đến là rất ấn tượng, vừa hài hước và vừa để lại một dấu ấn khó quên…
Trong số những người mà bà tiếp xúc, sự ngây thơ của họ cũng để lại những chuyện “cười ra nước mắt”. Chẳng hạn đó là Martha – ngọn đèn soi sáng cuộc đời của bà từ lúc đến đây bằng việc không ngừng giúp đỡ để bà hòa nhập. Rawlings kể lại lần mua một chục chiếc khăn giá rẻ để phục vụ cho một bữa tiệc ở nơi xa nhưng nhỡ để quên. Nhận thấy điều ấy, Martha đã lệnh người làm đánh xe tải đến để đưa bà để rồi giữa chừng xe lại bị hư, khiến chiếc khăn ấy “tự nâng giá trị” dù không cần thiết. Ngoài điều đó ra, bà cũng nhiều lần bị cuốn vào các mối tình tay ba của những cô giúp việc hoặc người làm, từ đó bị đặt vào tình thế phải đứng ra giải quyết, trong đó có cả một vụ tai nạn bằng súng. Hoặc cũng có lần bà cố gắng mang văn minh đến cho những người “du mục” rày đây mai đó trước khi nhận ra mình sẽ chẳng làm gì được với nếp nghĩ và tư duy của họ… Với Rawlings, những người gốc Phi không hề ngốc nghếch, họ chỉ giấu đi sự minh triết bởi di sản kế thừa và nếp thân quen, để khi nhìn sâu, ta thấy trong họ là sự khôn ngoan không thể ngờ đến.
Không dừng ở đó, cuốn sách đôi khi cũng được làm chậm với nhiều nghĩ suy dành cho những người bị đẩy đến đây một cách buồn thương. Đơn cử đó là người thiếu nữ từng sống trong nhung lụa đã đến với chốn hoang vu cùng người mình thương và cắt đứt với gia đình, để rồi đau đớn nhận ra mình đã bị lừa và cuộc hôn nhân không hề hạnh phúc. Rawlings chắt lọc nỗi buồn ấy bằng tiếng dương cầm vang giữa rừng rậm đau đớn và đầy xót xa. Hay đó là Geechee – cô hầu gái mà bà kết nối nhất, dù làm mọi cách nhưng cô vẫn không thoát khỏi việc hủy hoại mình bằng chất men say, khi tình yêu đi mất còn bản thân cô thì bị phản bội. Sự gắn kết giữa cô và bà không khỏi khiến ta nhớ đến tác phẩm Cánh cửa của Szabó Magda, từ đó những cảm xúc vừa vui vừa buồn, vừa hạnh phúc vừa đớn đau đã đánh mạnh vào độc giả, khiến ta tự hỏi liệu những nhà văn như Rawlings đặc biệt vì họ gặp được những người, những chuyện đặc biệt; hay họ đặc biệt vì nhìn ra được những sự đặc biệt trong điều thường nhật?
Từ những điều trên, thông qua Cross Creek – Dưới vòm cam xanh, Marjorie Kinnan Rawlings đã tỏ bày được rất nhiều cảm xúc. Đó là sự thiêng liêng trong mối giao hòa với đất mẹ, là sự kính trọng hệ động thực vật cũng như con người thuần nguyên, đồng thời cũng không thể quên một thông điệp lớn: Cõi người thì buồn.
MINH TUẤN
VNQD