. TRỊNH ĐẶNG NGUYÊN HƯƠNG
Có một nghịch lí ở trung tâm của văn học thiếu nhi, đó là phần lớn những cuốn sách dành cho trẻ em không được viết từ trẻ em mà được viết bởi người lớn. Hầu hết nhà văn viết cho tuổi thơ đều đã đi qua thời thơ ấu, họ viết để trở lại tuổi thơ, để được sống, được mơ, được khao khát về những năm tháng đã một đi không trở lại của chính mình. Vì vậy, hình tượng trẻ em xuất hiện trong văn học thiếu nhi nói chung, trong truyện thiếu nhi nói riêng là những đứa trẻ được hình dung, tưởng tượng, được kiến tạo từ quan niệm và ước mơ của người lớn. Mỗi thời kì khác nhau, người cầm bút lại đặt vào trang viết một hình dung riêng về tuổi thơ. Vì vậy, trong dòng chảy của truyện thiếu nhi Việt Nam, có thể thấy hình tượng trẻ thơ, quan niệm và những ước mơ của người lớn mỗi giai đoạn khác nhau lại mang một màu sắc riêng độc đáo. Nhìn lại hành trình của truyện thiếu nhi Việt Nam gần một thế kỉ qua, có thể thấy đằng sau hình tượng nhân vật trẻ em lại là những ước mơ mà người lớn đã gửi vào trang viết.

1. Truyện thiếu nhi: “địa chỉ kép” cho trẻ em và người lớn
Trong tiếng Anh, “thiếu nhi” hay “trẻ em” đều được gọi là “children”; tiếng Pháp là “enfants”; tiếng Nhật là “子供たち” (Kodomo-tachi). Công ước về Quyền trẻ em (1989) nêu rõ “trẻ em” được định nghĩa là “mọi con người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp áp dụng đối với trẻ đó quy định tuổi trưởng thành sớm hơn”. Đây là định nghĩa mang tính pháp lí quốc tế được công nhận rộng rãi trên thế giới. Vì thế, truyện thiếu nhi, hiểu theo nghĩa giản dị nhất, là truyện viết cho trẻ em, những bạn đọc dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, có một thực tế dễ nhận thấy, những cuốn sách thiếu nhi có sức sống lâu bền thường được đọc bởi cả người lớn và trẻ em. Có thể kể đến Alice ở xứ sở diệu kì - Lewis Carroll (Anh), Những cuộc phiêu lưu của Tom Xoyơ - Mark Twain (Mĩ), Trăng non - Rabindranath Tagore (Ấn Độ), Dế Mèn phiêu lưu kí - Tô Hoài (Việt Nam), Hoàng tử bé - Antoine de Saint-Exupéry (Pháp), Pippi Tất Dài - Astrid Lindgren (Thuỵ Điển), Tottochan bên cửa sổ - Tetsuko Kuroyanagi (Nhật Bản)... Ở Thuỵ Điển, hình ảnh tác giả của Pippi Tất Dài và nhân vật cô bé Pippi còn được in trên tờ tiền 20 curon màu tím của Thuỵ Điển nhằm tôn vinh những đóng góp của nhà văn Astrid Lindgren với văn học và văn hoá Thuỵ Điển. Ở Việt Nam, nhà xuất bản sách hàng đầu cho thiếu nhi về cả số lượng và chất lượng là Nhà xuất bản Kim Đồng (tên một người anh hùng thiếu niên Việt Nam, cũng là tên một truyện kí nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài). Điều đó cho thấy tầm quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ của văn học thiếu nhi với cả trẻ em và người lớn trên toàn thế giới. Điều gì khiến những tác phẩm ấy vượt qua ranh giới độ tuổi? Lí giải điều này có thể sử dụng khái niệm “địa chỉ kép” (dual address) mà nhà nghiên cứu Barbara Wall đưa ra trong cuốn sách Giọng kể: Tình thế lưỡng nan của văn học thiếu nhi (1991), để nói về việc trong truyện thiếu nhi, người kể chuyện nói với trẻ em nhưng đồng thời cũng “nháy mắt” với người lớn. Khái niệm này lí giải tại sao người lớn vẫn đọc và yêu thích văn học thiếu nhi và tại sao những tác phẩm hay nhất không bao giờ “hết hạn”. Khái niệm này cũng mang đến một góc nhìn thú vị, cho thấy sự giàu có đặc biệt của văn học thiếu nhi. Đây là bộ phận có thể được đọc bởi nhiều độ tuổi khác nhau, sự phân biệt không nằm ở độc giả mà ở nhân vật trung tâm và thế giới được nhìn qua mắt ai. Với truyện thiếu nhi, hình tượng trẻ em sẽ được đặt ở vị trí trung tâm, thế giới sẽ được nhìn qua lăng kính trẻ thơ vì vậy hình tượng nhân vật trẻ em trong tác phẩm có thể xem là trái tim của thể loại.

2. Tuổi thơ được kiến tạo qua truyện thiếu nhi
Nhìn lại hành trình gần một thế kỉ của truyện thiếu nhi Việt Nam, dù chỉ có thể lược điểm những nét lớn qua một số tác phẩm và tác giả tiêu biểu, có thể thấy, mỗi chặng đường hình tượng trẻ em lại mang một gương mặt khác nhau, đằng sau những gương mặt khác nhau ấy là những quan niệm riêng và những ước mơ riêng gửi tới trẻ em.
Trẻ em cần được uốn nắn và dạy dỗ (trước 1945)
Khó có thể tìm một mốc chính xác về sự ra đời của văn học thiếu nhi Việt Nam, tuy phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng văn học thiếu nhi Việt Nam ra đời vào khoảng những năm 20 của thế kỉ XX. Có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này như Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, Trẻ con hát trẻ con chơi của Nguyễn Văn Vĩnh, Ngụ ngôn Đông Tây của Nguyễn Văn Ngọc, Lên sáu, Lên tám của Tản Đà. Nhìn chung, từ đầu thế kỉ XX đến trước 1945, văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển mạnh ở thể loại truyện. Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, có khoảng 200 truyện được viết bởi gần 100 tác giả đăng trên các tập san như Sách Hồng, Hoa Xuân, Hoa Mai, Nhi đồng hoạ bản… Giai đoạn này, nhà văn Nam Cao cũng có những truyện ngắn viết cho trẻ em đặc sắc như Con mèo mắt ngọc (1942), Bảy bông lúa lép (1937), Ba người bạn (1942), Người thợ rèn (1940)… Những câu chuyện viết cho trẻ em giai đoạn này phần lớn hướng tới mục đích dạy trẻ kiến thức về tự nhiên, về đời sống xã hội, dạy luân lí, đạo đức nhằm hướng dẫn, uốn nắn trẻ trưởng thành. Vì thế, có thể thấy, hình tượng trẻ em trong phần lớn các tác phẩm này thường gắn liền với quan niệm cho rằng trẻ em cần được chăm sóc, được uốn nắn và dạy bảo từ người lớn. Tuy nhiên, trong giai đoạn này có một tác phẩm xuất hiện như tia chớp, đó là Con Dế Mèn của Tô Hoài, ra đời vào năm 1941, đăng trên tờ báo Truyền bá. Câu chuyện đã làm thay đổi cả dòng chảy của văn học thiếu nhi Việt Nam. Một năm sau, truyện Con Dế Mèn được viết thêm để trở thành Dế Mèn phiêu lưu kí, tác phẩm đến nay vẫn được xem là đỉnh núi chưa có ai vượt qua trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Nhân vật Dế Mèn sống độc lập từ thuở bé, không có cha mẹ dạy dỗ, không có thầy cô, trường lớp, tự sống, vấp ngã, đứng dậy và theo đuổi tới cùng ước mơ, khát vọng của mình đã làm “một cuộc cách mạng” trong quan niệm chung về trẻ em. Với hình tượng nhân vật Dế Mèn, Tô Hoài đã thể hiện niềm tin vào trẻ em: trẻ em là trẻ em, trẻ em có quyền vấp ngã, sai lầm và cần được tin tưởng. Hình tượng Dế Mèn đã khiến quan niệm về trẻ em của văn học thiếu nhi Việt Nam ngay từ buổi đầu tiên đã có những tiệm cận với quan niệm hiện đại, dân chủ và tiến bộ về trẻ em trên thế giới.
Trẻ em tuổi nhỏ chí lớn (1945 - 1975)
Từ năm 1945 đến 1975, đất nước phải gồng mình trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ ác liệt. Hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử khiến nhân dân cả nước đều sẵn sàng tinh thần ra trận: Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng/ Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ/ Và hoa trái cũng biến thành vũ khí (Ê mi ly con - Tố Hữu). Dù vậy, Đảng, Nhà nước và Bác Hồ vẫn đặc biệt quan tâm, chú ý và tạo điều kiện thuận lợi cho văn học thiếu nhi được phát triển. Đây là giai đoạn mà người lớn đặc biệt tin tưởng vào trẻ em. Hình ảnh những nhân vật tuổi nhỏ chí lớn, tuổi nhỏ anh hùng, tuổi nhỏ hi sinh và yêu nước xuất hiện chủ đạo trong văn học. Các tập truyện Tuổi nhỏ anh hùng kể về những tấm gương tuổi nhỏ chí lớn như: Kim Đồng, Vừ A Dính, Võ Thị Sáu và nhiều anh hùng thiếu nhi khác được xuất bản và tái bản liên tiếp trong giai đoạn này. Ngoài ra, còn có thể kể đến những tác phẩm như Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (Xuân Sách), Cái Thăng (Võ Quảng), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng)… Hầu hết truyện viết cho trẻ em giai đoạn này đều xây dựng hình ảnh những thiếu niên nhỏ tuổi mà gan dạ, anh hùng, thông minh, tháo vát, hoàn toàn có thể làm được những công việc như đánh giặc, giữ làng, bảo vệ người thân như người lớn, thậm chí còn có thể làm tốt hơn người lớn. Thông qua hình tượng trẻ em với đặc điểm nhất quán này có thể thấy, người lớn giai đoạn này đề cao, tôn trọng trẻ em, tin tưởng vào trẻ em. Vì thế, sẵn sàng trao những trọng trách gánh vác công việc lớn lao hay nhiệm vụ khó khăn cho trẻ. Như vậy, giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi trong hình dung và kiến tạo trẻ em: từ đứa trẻ cần bảo vệ, chăm sóc, dạy dỗ, trẻ em trong truyện thiếu nhi như Thánh Gióng bỗng vươn vai hoá những anh hùng. Hình dung ấy cũng thể hiện niềm tin và những ước mơ lớn lao mà người lớn đặt vào trẻ em, xem các em là tương lai thực sự của đất nước.

Trẻ em được là trẻ em (từ sau 1975 - nay)
Từ năm 1975 đến 2000, trong hoàn cảnh đất nước hoà bình, rồi chuyển mình trong công cuộc đổi mới từ năm 1986, hình tượng nhân vật trẻ em trong truyện thiếu nhi cũng có nhiều thay đổi. Nhân vật trẻ em tuổi nhỏ anh hùng dần được thay thế bởi những đứa trẻ của đời thường, với niềm vui nhỏ bé, câu chuyện vụn vặt, nỗi đau bình thường hoặc bị cha mẹ bỏ rơi. Đủ mọi cảnh đời được hiện diện qua văn học, từ đó mở ra bức khảm đa sắc về nhân vật trẻ em trong văn học thiếu nhi. Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng có tới ba tập truyện viết về nhân vật trẻ em là Mùa xuân trên cánh đồng, Bến tàu trong thành phố, Vẫn có ông trăng khác. Ba tập truyện cho thấy nhân vật trẻ em hiện ra đúng với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ con, luôn tò mò, ham học hỏi, hiểu biết, thích tụ tập tán chuyện hoặc bày đủ trò để chơi, thương bố mẹ, ông bà và những người xung quanh… Đứa trẻ trong truyện của Xuân Quỳnh cũng sợ đau, sợ bóng tối, sợ ma khác hẳn với hình tượng những nhân vật thiếu nhi anh hùng của giai đoạn trước.
Đặc biệt, sự xuất hiện của Nguyễn Nhật Ánh với khối lượng tác phẩm đồ sộ mà tiêu biểu trong số đó phải kể đến hai bộ truyện dài nhiều tập Kính vạn hoa và Chuyện xứ Lang Biang, các truyện dài khác như Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Làm bạn với bầu trời, Chúc một ngày tốt lành, Mùa hè không tên, Những cô em gái… đã làm hiện ra cả một thế giới học đường với đủ mọi buồn vui. Ở đó, nhân vật trẻ em được chơi, ham chơi, nghịch dại và bày đủ trò để thiết lập lại thế giới (Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ). Những nhân vật tuổi mới lớn trong Mắt biếc, Cô gái đến từ hôm qua, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Ngồi khóc trên cây… lại cho thấy hình tượng nhân vật tuổi mới lớn với thế giới tâm hồn mong manh, dễ xúc động và bối rối trong tình yêu đầu đời… Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã “trả” trẻ em về đúng thế giới của đời thực, nơi trẻ em được chơi, được nghịch, được mệt mỏi, được vấp ngã và được thông cảm cũng như tha thứ. Ông cũng “trả” tuổi mới lớn về với mộng mơ, lầm lẫn, bối rối của tình yêu đầu đời. Nhìn chung, hình tượng nhân vật thiếu nhi xuất hiện trong hơn một trăm tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh đã góp vào bức tranh chung về hình tượng nhân vật thiếu nhi của đời thường: được hiểu, được yêu thương, được tin cậy và thông cảm mà không cần phải mang theo những nhiệm vụ và trọng trách lớn lao.
Từ đầu thế kỉ XXI đến nay, thế giới biến đổi không ngừng với những bước chuyển đột phá của khoa học, công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hoá đã tác động không nhỏ tới hình ảnh trẻ em trong văn học. Các nhà văn vẫn tiếp nối hình tượng nhân vật trẻ em của đời thường trong giai đoạn trước để sáng tạo và thể hiện ước mơ. Song, sự có mặt của Nguyễn Ngọc Thuần với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm mộng đã khiến người đọc bất ngờ vì vẻ đẹp thiên thần của nhân vật trẻ em mộng mơ. Đây có lẽ là một nét vẽ mới vào hình tượng nhân vật thiếu nhi của văn học đầu thế kỉ XXI. Hình ảnh nhân vật đứa trẻ thích nằm mộng, sống mơ mộng phải chăng gửi gắm ước mơ của nhà văn về việc cần bảo tồn và làm sao để hoàn nguyên những vẻ đẹp thiên thần một đi không trở lại của tuổi thơ.
3. Những ước mơ còn viết tiếp
Nhìn lại hành trình vừa phác dựng, có thể thấy hình tượng trẻ em trong truyện thiếu nhi Việt Nam liên tục dịch chuyển và thay đổi. Từ hình dung về đứa trẻ cần được uốn nắn, dạy dỗ đến nhân vật thiếu niên anh hùng rồi tới hình tượng trẻ em được là trẻ em là cả một hành trình dài gắn liền với những vận động và biến đổi của đời sống xã hội. Nếu thời chiến khát khao hình tượng những đứa trẻ anh hùng, sẵn sàng hi sinh cùng cha anh thì thời bình lại cho phép và cần những đứa trẻ được sống thật, được lớn lên trong yên ổn để tự do phát triển. Mỗi khi xã hội thay đổi, hình dung của người lớn về nhân vật trẻ em lí tưởng cũng thay đổi theo và văn học thiếu nhi là nơi hình dung đó được thể hiện rõ nét nhất. Bên cạnh đó, còn có thể thấy, mỗi thế hệ tác giả mang một tuổi thơ khác nhau nên người viết sẽ đặt ra những câu hỏi khác nhau về ý nghĩa của việc viết cho trẻ em. Nếu Tô Hoài của những năm 1940 nhìn thấy ở trẻ em khát vọng tự do và cần được tin tưởng thì Nguyễn Nhật Ánh của những năm cuối thế kỉ XX lại nhìn thấy trẻ em cần được sống thật và được yêu thương vô điều kiện. Nguyễn Ngọc Thuần của thế kỉ XXI lại nhận ra vẻ đẹp tinh khôi và thuần khiết như sương mai của tâm hồn trẻ thơ mà người lớn có trách nhiệm gìn giữ và nâng niu. Mỗi người viết, khi cầm bút, đều mang theo kí ức và ước mơ của riêng mình, từ đó gửi vào hình tượng nhân vật trẻ thơ những điều họ trân trọng nhất.
Văn học thiếu nhi, xét đến cùng, là nơi mỗi thời đại gửi gắm những điều quý giá nhất vào tay trẻ em. Hình tượng trẻ em trong trang sách là tấm gương phản chiếu những kì vọng, ước mơ, những trao truyền văn hoá mà người lớn muốn gửi lại cho thế hệ sau. Sự dịch chuyển trong hình tượng trẻ em cũng cho thấy hành trình của cả xã hội đang dần học cách lắng nghe để thấu hiểu hơn về trẻ em.
Ngày hôm nay, khi trang sách đang phải cạnh tranh với màn hình, khi tuổi thơ ngày càng bị rút ngắn bởi nhịp sống hối hả, câu hỏi mà văn học thiếu nhi đặt ra vẫn còn nguyên tính thời sự: Chúng ta muốn gửi ước mơ gì vào trang viết? Những nhân vật nào sẽ “bước ra” từ trang sách và còn ở lại với những năm tháng của tương lai?
T.Đ.N.H
VNQD