Mỗi thời đại đều có những câu hỏi mà người nghệ sĩ, dù muốn hay không, vẫn phải đối diện. Đó có thể là câu hỏi về chiến tranh hay hòa bình, về cái đẹp hay sự tha hóa, về kí ức và lãng quên, về con người và những đổi thay của xã hội. Người nghệ sĩ có thể không trực tiếp trả lời những câu hỏi ấy. Họ trả lời bằng một câu thơ, một trang văn, một bức tranh, một bản nhạc, một bộ phim, đôi khi chỉ bằng một hình ảnh rất nhỏ mà sức ám ảnh là khôn nguôi.
Bởi vậy, nói đến trách nhiệm của người nghệ sĩ với thời đại không có nghĩa là buộc nghệ thuật phải trở thành khẩu hiệu của thời đại. Trách nhiệm trước hết là khả năng sống trong thời đại của mình bằng một tâm thế tỉnh táo, nhìn thấy những gì đang diễn ra, lắng nghe những gì con người đang chịu đựng và khát vọng, rồi tìm cho mình một cách nói trung thực. Người nghệ sĩ có quyền đi vào thế giới riêng của mình, nhưng không thể hoàn toàn đứng ngoài cuộc đời.
Nhìn từ phương diện ấy, hình tượng Hồ Chí Minh đem đến một trường hợp đặc biệt. Người là một nhà cách mạng, một nhà hoạt động văn hóa, một nhà báo và cũng là một người sáng tác văn chương. Hồ Chí Minh từng tự nhận mình là “một người yêu chuộng văn nghệ chứ không phải là một nhà văn nghệ”, nhưng những gì Người để lại cho thấy một quan niệm sâu sắc về văn hóa, nghệ thuật và người sáng tạo.
Điều đáng học ở Người, đó là một thái độ sống: đi vào đời sống, đứng về phía con người, trung thực với điều mình nhìn thấy, không ngừng học hỏi và ý thức rằng tài năng cá nhân bao giờ cũng gắn với một trách nhiệm nào đó đối với cộng đồng.
Người viết không đứng ngoài cuộc đời
Một trong những điều đầu tiên có thể nhận thấy ở Hồ Chí Minh là ngòi bút của Người luôn gắn với đời sống. Ngày 25 tháng 5 năm 1947, trong Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ, Hồ Chí Minh viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Người gọi những người làm văn hóa, trí thức là “lớp tiên tri tiên giác”. Đó là một bức thư rất ngắn, lời lẽ thân tình, nhưng hàm chứa một quan niệm đáng suy nghĩ về người cầm bút. “Tiên tri tiên giác” không chỉ có nghĩa là biết trước một điều gì. Nó còn gợi đến khả năng nhận ra những chuyển động của đời sống trước khi chúng trở thành những điều quá rõ ràng với tất cả mọi người. Người nghệ sĩ, theo nghĩa ấy, không chỉ là người kể lại những gì đã xảy ra. Họ còn là người nhìn thấy phía sau những gì đang xảy ra.
Trong thời đại hôm nay, khi thông tin xuất hiện từng giây và một sự kiện có thể nhanh chóng được hàng triệu người biết đến, việc kể lại sự kiện không còn là nhiệm vụ riêng của văn chương. Điều khó hơn là nhìn sâu vào sự kiện để tìm thấy con người. Có lẽ đây là bài học đầu tiên từ Hồ Chí Minh, người viết muốn có một tiếng nói thực sự của mình thì trước hết phải sống giữa đời sống, chứ không chỉ đứng nhìn đời sống qua những gì đã được người khác kể lại.
“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” và ý nghĩa của chữ “mặt trận”
Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Hồ Chí Minh viết Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa. Trong thư, Người nói một câu sau này trở thành một trong những nhận định nổi tiếng nhất về văn nghệ: “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người nhấn mạnh nhiệm vụ của nghệ sĩ trong hoàn cảnh kháng chiến là phụng sự kháng chiến, Tổ quốc và nhân dân; đồng thời yêu cầu người sáng tác “hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân”. Nếu chỉ đọc câu nói “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” như một khẩu hiệu, ta có thể dễ dàng bỏ qua phần sâu sắc nhất của tư tưởng ấy. Bởi “mặt trận” không chỉ là nơi đối đầu giữa hai lực lượng trong chiến tranh. Nhìn rộng hơn, văn hóa và nghệ thuật luôn là nơi diễn ra những lựa chọn về giá trị. Cái đẹp đứng ở đâu trước cái xấu? Sự thật đứng ở đâu trước sự giả dối? Lòng nhân ái đứng ở đâu trước sự vô cảm? Con người được nhìn nhận như một phẩm giá hay chỉ như một công cụ? Kí ức được gìn giữ hay bị xóa nhòa? Những câu hỏi ấy vẫn còn nguyên trong thời bình.
Người nghệ sĩ hôm nay không sống trong hoàn cảnh của những năm kháng chiến và không thể bê nguyên cách thức sáng tác của một thời đại khác vào hiện tại. Nhưng câu hỏi về vị trí của nghệ thuật đối với con người thì vẫn còn đó. Có thể một nhà thơ hôm nay không viết một bài thơ về chiến hào. Nhưng họ có thể viết về một người lính trở về sau chiến tranh và mang theo những kí ức không ai nhìn thấy. Một họa sĩ có thể không vẽ một trận đánh. Nhưng họ có thể vẽ một khuôn mặt người trong một thành phố đang biến đổi. Một nhạc sĩ có thể không viết một hành khúc. Nhưng một ca khúc về nỗi niềm của con người giữa đô thị cũng có thể là một cách nói về thời đại. Vì thế, trách nhiệm của nghệ sĩ không nhất thiết nằm ở việc tác phẩm phải trực tiếp nói về những vấn đề lớn. Nó nằm ở phía mà tác phẩm lựa chọn để nhìn con người.
“Nay ở trong thơ nên có thép”
Trong Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh viết: “Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông/ Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong.” Bốn câu thơ thường được nhắc đến như một tuyên ngôn về thơ ca cách mạng. Nhưng nếu đọc Nhật ký trong tù trong toàn bộ chỉnh thể của nó, ta sẽ thấy “thép” ở đây không làm thơ trở nên khô cứng. Trái lại, bên cạnh những bài thơ thể hiện ý chí, nghị lực và tinh thần chiến đấu là một tâm hồn hết sức nhạy cảm trước thiên nhiên và con người. Có ánh trăng, cánh chim, đám mây, tiếng sáo, một buổi chiều, một bông hoa... Có những phút cô đơn, những rung động rất riêng của một con người đang bị giam cầm. “Thép”, vì thế, không phải là sự cứng rắn của ngôn từ. “Thép” trước hết là sức mạnh tinh thần. Là khả năng giữ được lòng tin trong nghịch cảnh. Là khả năng không để hoàn cảnh làm mất đi phẩm giá. Là một nội lực giúp con người không đầu hàng bóng tối. Hiểu như vậy, câu thơ của Hồ Chí Minh vẫn có thể đối thoại với người nghệ sĩ hôm nay.
Người nghệ sĩ cũng cần “thép” để không bị cuốn theo những ồn ào nhất thời. Cần “thép” để bảo vệ sự trung thực của mình khi sự dễ dãi có thể đem lại nhiều lợi ích hơn. Cần “thép” để không biến sáng tác thành một cuộc chạy đua theo sự chú ý. Và cần “thép” để kiên nhẫn với những điều chưa chắc đem lại thành công tức thì. Trong một thời đại mà một tác phẩm có thể được đánh giá bằng lượt xem, lượt thích, số lượng người theo dõi, người nghệ sĩ càng cần một thước đo khác ở bên trong mình. Tác phẩm có thật không? Cảm xúc có thật không? Điều mình viết có phải là điều mình thực sự tin không? Có lẽ đó cũng là một cách hiểu về “chất thép” trong nghệ thuật hôm nay.
Đi sâu vào đời sống để gặp được con người
Trong bức thư gửi các họa sĩ năm 1951, Hồ Chí Minh không chỉ nói về trách nhiệm. Người còn chỉ ra một yêu cầu đối với chính quá trình sáng tác: phải “hiểu thấu, liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân”. Hai chữ “đi sâu” có lẽ đáng để những người làm văn chương hôm nay suy nghĩ rất lâu. Bởi nghệ thuật không phải là việc đứng xa đời sống rồi quan sát nó như một vật thể. Muốn viết về con người, phải đến gần con người. Nhưng đến gần không có nghĩa là nhìn thấy một lớp vỏ bên ngoài. Một người nông dân không chỉ là hình ảnh của ruộng đồng. Một người lính không chỉ là một biểu tượng. Một người mẹ không chỉ là sự hi sinh. Một người trẻ không chỉ là đại diện cho một thế hệ. Mỗi con người đều có một đời sống bên trong. Có những nỗi đau họ không nói. Có những điều họ từng đánh mất. Có những ước mơ không bao giờ thành hiện thực. Có những khoảnh khắc rất nhỏ nhưng quyết định cả một đời người. Văn chương bắt đầu có sức nặng khi người viết nhìn thấy những điều ấy. Đây cũng là lí do người nghệ sĩ cần bước ra khỏi cái “tôi” của mình. Cái tôi là điều không thể thiếu của sáng tạo, nhưng một cái tôi chỉ quanh quẩn với những xúc cảm riêng có thể dần trở nên chật hẹp. Cái tôi chỉ thực sự lớn khi nó có khả năng mở ra với những số phận khác.
Hồ Chí Minh đi qua rất nhiều vùng đất, tiếp xúc với nhiều dân tộc và nền văn hóa, nhưng trong hành trình ấy Người vẫn giữ được sự gắn bó sâu sắc với tiếng nói, tâm hồn và văn hóa dân tộc. Các tư liệu về di sản văn hóa của Người cho thấy Hồ Chí Minh tiếp nhận nhiều nguồn văn hóa Đông - Tây, cổ điển - hiện đại, đồng thời sử dụng tự nhiên tục ngữ, ca dao, dân ca và lối nói của nhân dân trong văn chương. Đó là một bài học khác đối với người nghệ sĩ hôm nay: mở cửa với thế giới nhưng không đánh mất căn phòng tinh thần của chính mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các đại biểu trí thức dự Hội nghị chính trị đặc biệt (tháng 3/1964) Nguồn: TTXVN
Viết cho ai?
Một trong những câu hỏi giản dị nhất Hồ Chí Minh đặt ra cho người viết lại cũng là một câu hỏi khó nhất: Viết cho ai?
Trong bài Cách viết, trình bày tại Lớp Chỉnh Đảng Trung ương ngày 17 tháng 8 năm 1953, Người yêu cầu người viết phải tự hỏi viết để làm gì, viết cái gì và viết như thế nào; trong bối cảnh lúc ấy, Người đặc biệt chú ý đến việc viết cho đông đảo công, nông, binh, nhằm giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Tất nhiên, không thể lấy những yêu cầu cụ thể của báo chí và tuyên truyền trong hoàn cảnh kháng chiến để làm khuôn mẫu cho mọi loại hình nghệ thuật hôm nay. Một bài thơ không nhất thiết phải có một “nhiệm vụ” trực tiếp. Một bức tranh không nhất thiết phải giải thích điều gì. Nghệ thuật có quyền mơ hồ, quyền riêng tư, quyền im lặng và quyền đi những con đường không dễ hiểu ngay lập tức. Nhưng câu hỏi “viết cho ai?” vẫn có thể còn nguyên ý nghĩa. Nó nhắc người viết rằng phía bên kia tác phẩm là một con người. Tác phẩm vì thế không kết thúc khi nó rời khỏi tay người sáng tạo. Nó bắt đầu một đời sống khác trong tâm hồn người tiếp nhận.
Từ hình tượng Hồ Chí Minh, bài học ấy hiện lên vừa giản dị vừa nghiêm khắc. Người nghệ sĩ có thể đi rất xa trong tưởng tượng, nhưng cuối cùng vẫn cần một con đường trở về với đời sống. Có thể xây dựng một thế giới riêng, nhưng đừng để thế giới ấy đóng kín trước nỗi đau và niềm vui của những người khác. Có thể tìm kiếm cái mới, nhưng đừng đánh mất tiếng nói của nơi mình thuộc về. Có thể bảo vệ cái tôi sáng tạo, nhưng hãy để cái tôi ấy mở ra với một cái ta rộng lớn hơn.
Và có lẽ, trong ý nghĩa sâu xa nhất, trách nhiệm với thời đại không phải là viết thay thời đại. Đó là sống đủ sâu để nghe được nhịp đập của thời đại, nhìn đủ gần để nhận ra con người trong đó, và sáng tạo đủ trung thực để trao lại cho con người một điều có giá trị. Đó là món nợ của người nghệ sĩ với thời đại.
HOÀNG DƯƠNG
VNQD