ĐỌC HỒI KÍ ‘HÀNH KHÚC DƯỚI QUÂN KÌ’ CỦA ĐINH NGỌC LIÊN:

Từ đội kèn thuộc địa đến quân nhạc cách mạng

Thứ Bảy, 10/10/2026 07:21

“Hành khúc dưới quân kì” là hồi kí của trung tá, NSND Đinh Ngọc Liên (1911 – 1991), do Khánh Quý ghi lại, được NXB Kim Đồng cho ra mắt năm 2026. Từ một cậu bé lớn lên giữa tiếng chuông nhà thờ, tiếng trống tế, những điệu chèo và đội bát âm ở quê nhà Phú Nhai, Đinh Ngọc Liên đã trở thành ông “Quản Liên” nổi tiếng, người chỉ huy dàn nhạc kèn cử hành bài “Tiến quân ca” trong ngày 2.9.1945 và là một trong những người đặt nền móng cho quân nhạc Việt Nam. Hồi kí “Hành khúc dưới quân kì” không chỉ kể lại hành trình của một đời người đi qua nhiều biến động lịch sử, mà còn lưu giữ một kí ức bằng âm thanh về Việt Nam trong thế kỉ XX, nơi số phận cá nhân, lịch sử dân tộc và hành trình hiện đại hóa đời sống âm nhạc gặp nhau trong những tiếng kèn vừa riêng tư, vừa mang âm hưởng của một thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ huy dàn nhạc Đinh Ngọc Liên

Tiếng chuông Phú Nhai và người lính khố xanh

Có những cuộc đời khi nhìn lại dường như đã được lịch sử lựa chọn sẵn cho một biểu tượng. Với Đinh Ngọc Liên, biểu tượng ấy là cây đũa chỉ huy và tiếng kèn đồng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình trong ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đứng ở điểm cuối của hành trình, người ta rất dễ kể đời ông theo một đường thẳng, từ một cậu bé mê âm nhạc ở Phú Nhai đến người lính kèn khố xanh, ông Quản Liên, người chỉ huy Ban nhạc Giải phóng quân, rồi nhạc sĩ và cũng là người đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho quân nhạc Việt Nam. Nhưng điều hấp dẫn của hồi kí “Hành khúc dưới quân kì” lại nằm ở chỗ câu chuyện không bắt đầu từ một sự kiện lịch sử lớn lao là ngày Độc lập của dân tộc, mà nó bắt đầu bằng giọng kể giản dị về một ngôi làng, một gia đình, một người cha vừa trò chuyện vừa vót nan chẻ lạt, một người mẹ xứ đạo hiền lành, bằng nhà thờ, tiếng chuông, tiếng đàn, tiếng trống tế, những cuộc vui làng, những giấc mơ rất riêng của một đứa trẻ.

NSND Đinh Ngọc Liên

Chính từ đó, cuốn hồi kí mở ra một cách đọc thú vị hơn nhiều so với khuôn khổ thông thường của một cuốn sách về “người thật việc thật”. Đây không chỉ là lịch sử cuộc đời của một nhạc sĩ, mà còn có thể xem như một tiểu lịch sử của âm nhạc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX.

Những trang đầu chương “Ngày xưa” có lẽ là phần đáng chú ý nhất về phương diện văn chương. Đinh Ngọc Liên nhớ về Phú Nhai bằng cái nhìn trìu mến của một người con đã đi xa, một làng vuông vức, những con đường, nhà thờ to đẹp hoành tráng, dòng sông và những sinh hoạt hàng ngày của một ngôi làng Công giáo toàn tòng miền Bắc. Ông tự nhận, có thể vì tình yêu quê hương mà thiên vị, nhưng vẫn khẳng định “tôi chưa thấy làng nào đẹp như làng tôi.” Nhưng cái đẹp ở đây không chỉ là phong cảnh mà còn là âm thanh.

Trong ký ức đứa trẻ Đinh Ngọc Liên có tiếng đàn tứ, tiếng nhị của người anh trong đội bát âm, tiếng hát nhà thờ, tiếng chuông giáo đường hòa âm nhiều giọng; nhưng bên cạnh âm thanh Công giáo còn có tiếng chuông chùa, tiếng trống tế ở đền Bảo Lộc, những điệu chèo, những bản “Lưu thủy”, “Lâm khốc”. Mười tuổi cậu bé Liên đã vào đội bát âm, mười hai tuổi chơi trong đội kèn đồng, mười ba tuổi thổi kèn Tây và chuyển sang kèn piston. Chi tiết này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy nền tảng âm nhạc của Đinh Ngọc Liên không thuần nhất. Trước khi trở thành người của quân nhạc, ông đã sống giữa một không gian giao thoa âm nhạc giữa nhạc lễ Công giáo, âm nhạc dân gian, nhạc nghi lễ truyền thống và sau đó là nhạc khí phương Tây.

Nếu nhìn từ lịch sử văn hóa, đây là một trong những tầng nghĩa hấp dẫn nhất của cuốn sách. Một nhạc trưởng của quân nhạc Việt Nam hiện đại xuất hiện từ chính điểm giao nhau giữa ngôi làng thuần Việt, xứ đạo Công giáo và văn hóa âm nhạc phương Tây. Tiếng kèn vang lên ở quảng trường Ba Đình năm 1945, xét theo một nghĩa nào đó, đã được chuẩn bị từ rất lâu bởi tiếng chuông nhà thờ Phú Nhai, tiếng trống tế, đội bát âm và những bài thánh ca của tuổi thơ. Đọc như thế, hồi kí Đinh Ngọc Liên vượt ra khỏi phạm vi tiểu sử của một cá nhân. Nó cung cấp một lát cắt sinh động về quá trình hiện đại hóa đời sống âm nhạc Việt Nam, nơi các hệ thống âm nhạc khác nhau không đơn thuần thay thế nhau mà cùng gặp gỡ, va chạm và tích hợp trong một cá nhân.

Trong hồi kí, Đinh Ngọc Liên không cố dựng lại tuổi trẻ của mình như thời niên thiếu của một vĩ nhân. Ông hiện lên rất đời thường. Ông ham nhạc, thích vẽ, học thuộc lòng kém, thi trượt trường dòng, mộng trở thành linh mục tan vỡ. Sau đó là một giai đoạn chống chếnh trong cuộc đời, từng đi làm thợ, dệt chiếu, buôn chiếu, theo thuyền với danh nghĩa “thư kí” nhưng cuối cùng phải nấu bếp, kéo thuyền và gánh chiếu ra chợ bán. Những chi tiết tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy lại làm nên sức nặng của hồi kí. Người đọc gặp một Đinh Ngọc Liên từng ngượng nghịu khi phải đi rao bán chiếu, từng thất bại, từng chưa biết mình sẽ làm gì. Ông bước vào lịch sử sau một tuổi trẻ lắm ngã rẽ, có cả mộng tưởng, tự ái, thất vọng, sinh kế và những lựa chọn do hoàn cảnh đưa đẩy.

Hồi kí 'Hành khúc dưới quân kì" do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành.

Ngay cả cái tên Đinh Ngọc Liên cũng chứa đựng một câu chuyện. Theo hồi kí, tên khai sinh của ông là Đinh Đức Điển, nhưng khi được linh mục Đinh Cảnh Phúc nhận làm con nuôi và định hướng theo con đường tu hành, ông được đổi tên thành Đinh Ngọc Liên, gắn với lời nhắc nhở “Hoa sen mọc trong bùn, không nhiễm mùi bùn.” Một cái tên vốn xuất phát từ môi trường Công giáo và một lời răn dạy đạo đức cá nhân sau này lại đi xuyên qua một cuộc đời binh nghiệp và âm nhạc. Chi tiết ấy tạo nên một nghịch lí đẹp khi con người có thể thay đổi môi trường, vị thế xã hội và lựa chọn chính trị, nhưng những lớp văn hóa cấu tạo nên nhân cách của họ không biến mất. Chúng cùng tồn tại, trầm tích và biến đổi.

Phần đời khiến Đinh Ngọc Liên trở thành “Quản Liên” lại chứa một nghịch lí khác. Khoảng năm 1930, khi lên Hà Nội với dự định ban đầu liên quan đến mĩ thuật nhưng không đủ điều kiện vào học, ông thi vào đội kèn lính khố xanh. Với năng khiếu âm nhạc và khả năng kí xướng âm, chép nhạc, hòa âm phối khí, ông dần tiến lên trong hệ thống đội kèn, từ người lính bình thường đến cai kèn, đội kèn, phó quản rồi chánh quản. Cái tên “Quản Liên” từ đó trở nên quen thuộc trong giới nhạc binh Hà Nội.

Ở đây lại xuất hiện một nghịch lí thú vị khác là kĩ năng âm nhạc của Đinh Ngọc Liên vốn trưởng thành trong một thiết chế thuộc địa, nhưng chính các kĩ năng ấy về sau được chuyển hóa để phục vụ một thiết chế hoàn toàn khác. Ông học cách tổ chức một dàn kèn, chép tổng phổ, phân phổ, hòa âm, phối khí và điều khiển nhạc công trong đội nhạc thuộc địa. Sau năm 1945, vốn nghề nghiệp ấy trở thành nguồn lực để xây dựng Ban Âm nhạc Vệ quốc quân và quân nhạc Việt Nam. Lịch sử nhiều khi vận động bằng chính sự chuyển dụng tri thức khi kĩ thuật chuyên môn được hình thành dưới một chế độ có thể được con người mang sang một hoàn cảnh lịch sử khác và trao cho nó một mục đích mới. Vì thế, tên gọi “Quản Liên” cũng mang một ý nghĩa biểu tượng thú vị. Nó là dấu tích của đời sống cũ nhưng không bị xóa khỏi đời sống mới. Người ta tiếp tục gọi ông bằng cái tên ấy sau Cách mạng tháng Tám.

Một nhân vật lịch sử không sinh ra với hào quang

Trong hồi kí “Hành khúc dưới quân kì”, một điểm đáng chú ý là giọng văn kể chân thực và giản dị, không tô vẽ. Hồi kí có một lối kể khá gần với khẩu ngữ. Câu văn không cầu kì, nhiều chuyện được kể bằng cách nhớ gì kể nấy, đôi lúc có chút tự trào. Đinh Ngọc Liên chủ động kể về tuổi trẻ của ông với những ngày kiếm sống không hề có ý thức chính trị rõ rệt, chủ yếu là một người làm nghề âm nhạc, thậm chí còn khá xa lạ với hoạt động cách mạng. Khi tình thế thay đổi vào tháng Tám năm 1945, quá trình chuyển biến nhận thức của ông diễn ra nhanh chóng bởi thực tế và sự chân tình của những người cách mạng. Từ câu trả lời “Tôi chỉ biết kèn, tôi không biết súng” cho đến lời kể “Tôi lao vào công việc, chẳng quản ngày đêm, ra sức viết hòa âm phối khí các bài ca cách mạng” là một sự chuyển mình thật sự về tư tưởng và nhận thức. Đứa trẻ Đinh Ngọc Liên không biết mình sẽ trở thành người chỉ huy dàn nhạc trong ngày thành lập một quốc gia. Chàng trai thất bại trong việc đi tu cũng chưa biết rằng chính việc mê kèn hơn mê học thuộc lòng sẽ định hướng cả cuộc đời mình. Người vào đội kèn lính khố xanh vì sinh kế càng chưa nhìn thấy con đường sẽ dẫn mình tới Ba Đình. Chính sự không biết trước tương lai ấy làm cho quá khứ trong hồi kí có sức sống.

Nhạc sĩ Văn Cao và NSND Đinh Ngọc Liên.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 là một sự kiện đã được kể lại trong rất nhiều sách lịch sử, dưới góc nhìn của nhân chứng tham dự cũng như các nhà nghiên cứu. Trong đại tự sự ấy, Đinh Ngọc Liên chỉ có thể xuất hiện như một dòng chú thích ngắn gọn là người chỉ huy dàn nhạc cử hành “Tiến quân ca”. Nhưng giá trị của hồi kí nằm ở khả năng đưa người đọc ra phía sau nghi lễ. Một quốc lễ có vài phút âm nhạc, nhưng phía sau vài phút ấy là hàng chục năm tích lũy kĩ thuật, hàng chục, hàng trăm con người biết chơi nhạc cụ, những bản tổng phổ phải được chép, các nhạc cụ phải được sửa chữa, các nhạc công phải tập luyện và một người phải biết điều khiển cả tập thể ấy. Ở phương diện này, “Hành khúc dưới quân kì” góp phần bổ sung cho lịch sử chính trị một thứ có thể gọi là lịch sử của những người làm việc phía sau lịch sử. Đó không phải lịch sử của các quyết định lớn mà là lịch sử của nghề nghiệp với những người chép nhạc, người thổi kèn, người sửa nhạc cụ, người tập cho cả đội vào đúng nhịp. Khi kháng chiến thiếu thốn phương tiện, hồi kí của Đinh Ngọc Liên ghi lại cảnh tìm cách sửa chữa kèn cũ, xoay xở nhạc cụ và tổ chức luyện tập trong điều kiện rất hạn chế. Những công việc tưởng nhỏ ấy chính là vật liệu làm nên một thiết chế quân nhạc chuyên nghiệp về sau.

Hơn thế nữa, hồi kí của Đinh Ngọc Liên cũng cho thấy bóng dáng rõ nét của những nhân vật lịch sử. Ông dành nhiều trang hồi kí cảm động kể về sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đội quân nhạc Việt Nam. Đó là bức thư Bác Hồ gửi riêng cho Ban Âm nhạc Vệ quốc quân ngay trong ngày Tổng tuyển cử 6.1.1946. Đó là những lần Bác đến thăm Ban Âm nhạc Vệ quốc quân và sau này là Đoàn Quân nhạc Việt Nam. Đinh Ngọc Liên kể “Riêng quân nhạc chúng tôi với tính chất đặc thù của công tác, có một diễm phúc lớn lao là luôn luôn được gặp Bác. Vâng có cuộc lễ trang trọng nào thiếu quân nhạc được – và trong những lần đó và mỗi lần đó chúng tôi đều được nghe Bác nói”. Đinh Ngọc Liên cũng nhấn mạnh trong hồi kí: “Bài học Bác dạy khi tôi mới bước chân vào con đường cách mạng, bài học tôi sẽ luôn luôn ghi nhớ: “Các cháu phải ra sức đào tạo nhiều vào. Quân đội ta mới ngày càng trưởng thành”.

Hồi kí cũng cung cấp nhiều hình ảnh tư liệu có giá trị, không chỉ là những bức ảnh quí như ảnh Đinh Ngọc Liên chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhạc sĩ Văn Cao… mà còn có những hình ảnh hiếm về hoạt động của Đoàn Quân nhạc Việt Nam. Vì thế, hồi kí này không chỉ như một hồi ức cá nhân, mà qua những dòng chữ giản dị, độc giả còn thấy lịch sử hình thành một nghề nghiệp, một đoàn nghệ thuật quân nhạc và một loại hình âm nhạc nghi lễ cùng những khía cạnh chân dung của nhiều nhân vật lịch sử.

Đinh Ngọc Liên là nghệ sĩ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND vào năm 1988. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2017 với cụm tác phẩm nhạc nghi lễ: "Trống hành khúc, trống tang lễ", "Nhạc chào mừng", "Các bài kèn hiệu"; các tác phẩm khí nhạc: "Xuân chiến thắng", "Vọng gác tiền tiêu miền duyên hải" và các ca khúc: "Phủ Thông chiến thắng", "Hải cảng về ta"; đặc biệt, ông cũng được lịch sử ghi danh là người đứng đầu đầu tiên của Đoàn Quân nhạc Việt Nam và là người chỉ huy dàn nhạc nghi thức trong lễ Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

HÀ THANH VÂN

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong "Rừng đói" và "Bình minh phía trước"

Nguyên mẫu trong văn của tôi ít được hư cấu vì tôi không có tài hư cấu. Vì thế đọc lên là biết ngay đó là ai. Hơn nữa tôi cũng hay để tên nhân vật là tên nguyên mẫu...(NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)