.THÁI PHAN VÀNG ANH
Với 3 tiểu thuyết trong số 6 tác phẩm gồm cả tiểu thuyết, truyện vừa, tập truyện ngắn, Huỳnh Trọng Khang là nhà văn trẻ sớm khẳng định được vị thế của mình trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XXI. Đặc biệt, chọn hai đề tài lớn, chiến tranh và dịch bệnh, lại chọn một lối đi riêng, đề cập đến những khía cạnh hiện sinh của con người, Huỳnh Trọng Khang một mặt vừa “làm mới” đề tài “kinh điển” trong văn chương Việt Nam và thế giới, một mặt khẳng định sự thống nhất trong lối viết, trong cảm hứng nghệ thuật của tác giả khi lựa chọn đóng đinh mình vào khuynh hướng tiểu thuyết hiện sinh
1. Chiến tranh và dịch bệnh - nỗi đau và thân phận của loài người
“Tôi”, người kể chuyện, cũng là nhân vật chính trong tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ, khi quan sát và dự phần vào cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam vào những ngày đầu đã tuyên bố: “Trước mặt chúng tôi là cuộc chiến, sau lưng chúng tôi là cuộc chiến, ở giữa là tôi và em. Giữa những cuộc chiến là tình yêu. Chỉ có tình yêu thôi”. Cái ngây thơ và hào hứng của tuổi trẻ khiến chàng trai hai mươi tuổi đi bên lề cuộc chiến này tin rằng tình yêu, tình người có thể vượt lên những bạo tàn của chiến tranh. Song, cũng là anh, vào những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến đã chua chát nhận ra: “Trước mặt tôi là chiến tranh, sau lưng tôi là chiến tranh, nhưng giữa chiến tranh không phải là tình yêu, giữa chiến tranh là hận thù”. Dẫu có thể “hận thù nào cũng dễ xóa hơn tình yêu”, song nỗi đau luôn là cái còn lại mãi sau mỗi cuộc chiến cùng những chấn thương tâm hồn, thể xác, bất kể anh thuộc về phía bên này hay phía bên kia, là tội đồ hay là nạn nhân của cuộc chiến. Với hai cuốn tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ và Những vọng âm nằm ngủ, Huỳnh Trọng Khang đã chọn lựa tái hiện bối cảnh cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam cuối thập niên sáu mươi và vào những tháng ngày trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, để nhìn sâu vào nỗi đau chiến tranh, nỗi đau của những thân phận bị đẩy về hai chiến tuyến, hay bị mất nhân dạng, nhân thân sau cuộc chiến.
Không chỉ viết về chiến tranh, Huỳnh Trọng Khang còn viết về dịch bệnh, một đề tài cũng vô cùng thuận lợi để nhìn thấu những mảnh vỡ hiện sinh của con người. Tiểu thuyết Bể trăng côi cũng khá lạ khi không nhận diện đời sống hiện sinh của các nhân vật chính - chú tiểu cõng hài cốt sư phụ đến Mạo Sơn và mắc kẹt trong dịch bệnh, hay nhà sư Huyền Trang trong hành trình thỉnh kinh đã thấu rõ những bi thảm của con người trong dịch giã - mà từ điểm nhìn của hai nhà sư này để chiêm nghiệm về lẽ hiện tồn của con người, đặc biệt là trong một nghịch cảnh như dịch bệnh với những cái chết tập thể, với sự mong manh, hữu hạn của kiếp người, với sự trỗi dậy của cái ác, cái vô minh. Những cái chết diễn ra trong cô độc. Những đám tang không có người đưa tang. Những chém giết, ăn thịt lẫn nhau khi con người chỉ còn lại phần hoang dã, bản năng trong những tranh đoạt để giành sự sống ở nơi cận kề cái chết… Cái tội nghiệp của phận người đã được Huỳnh Trọng Khang làm rõ qua việc miêu tả cách đám đông con người đối diện với cái chết. Và ở một chiều hướng ngược lại, cái cao cả, thiện lành của con người cũng được thể hiện qua những lựa chọn trước lằn ranh sống chết, khi tình yêu được đặt cao hơn sự sợ hãi, khi cái biết về bản chất hữu hạn của đời sống lớn hơn cái tham lam vô minh của bản năng. Mượn lời thoại của nhân vật để nhấn mạnh những trăn trở, ưu tư của con người về lẽ sống chết, Huỳnh Trọng Khang đã để cho các tiếng nói, các câu chuyện về thân phận được cất lên.
Chọn đề tài chiến tranh và dịch bệnh, tiểu thuyết của Huỳnh Trọng Khang đề cập nhiều đến các trạng huống sống bất thường của con người. Vị trung tướng quân lực Việt Nam Cộng hòa, bố của nhân vật tôi, người kể chuyện trong tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ, dường như chỉ “chiến đấu để duy trì sự sống của chính ông, để nuôi dưỡng niềm kiêu hãnh riêng tây bất khả xâm phạm, để ve vuốt cái nỗi cô đơn thăm thẳm đè nặng trong ngực ông. Ông đã chiến đấu để không có lí do chết”. Và quả là ông đã sống sót qua những những năm tháng nhiều biến động, sau khi chứng kiến hai người con trai lao vào chiến trường vì tuyệt vọng, chán chường và bằng cách này hay cách khác đã tự tìm đến cái chết. Đáng buồn thay, những bất thường của cuộc sống thời chiến lại trở thành những điều bình thường, tất yếu. Sylvia, trong tiểu thuyết Những vọng âm nằm ngủ, đến Việt Nam với tư cách là phóng viên chiến trường của một tờ báo. Các đồng nghiệp bảo cô là con bé may mắn, khi vừa đến Việt Nam tác nghiệp đã có ngay một vụ hay ho. Song liệu có thật may mắn không khi cô phải thấy quá nhiều người chết, phải “lật từng cái xác, không phải để tìm thấy khuôn mặt vì khuôn mặt ấy chúng tôi không còn nhận ra nữa” khi “dù có đeo khẩu trang thì mùi xú uế vẫn vây chặt”, nhất là từ “những cái xác thê thảm nhất đã phô hết nội tạng ra ngoài…”, khiến cô “không bao giờ ăn được các món nội tạng động vật kể từ đó”. Cũng thật không bình thường khi trong những ngày tháng tá túc ở nhà một người xa lạ vì mắc kẹt bởi Covid, chú tiểu nhỏ trong tiểu thuyết Bể trăng côi đã không nghe ra một âm thanh nào, từ thành phố được mọi người gọi là “thành phố không ngủ, nơi ánh sáng không bao giờ tắt, đứng bất cứ đâu cũng có thể nghe tiếng nhạc, tiếng người nói cười, một thành phố rộng đến mức có người sống cả đời mà chưa đi hết các quận”. Trong quan sát và cảm nhận của chú, “thành phố này thật sự rộng lớn và giờ nó trống rỗng, nên thanh âm không còn bấu víu vào đâu được nữa”; và thở thôi cũng thật khó khăn trong không khí tang tóc của đại dịch. Với nhà sư Huyền Trang, dịch bệnh còn khiến con người rơi vào tình trạng vô minh. Căn bệnh Huyết nhiệt ở thành Virupakkha, nơi sư Huyền Trang đi qua, đã khiến “Khủng hoảng xảy ra. Nhân loại tha hóa, giành giật nhau quyền sống. Nhân tính bị triệt tiêu. Nhân quyền bị xóa sổ. Văn minh bị đe dọa trả về số không”. Triều đình Virupakkha cuối cùng đã quyết định hỏa thiêu những người đau ốm, hay có nguy cơ nhiễm bịnh. Có thể nói, những tình thế bất thường, đặc biệt là cái chết luôn chực chờ xuất hiện và làm đổi thay số phận của con người trong chiến tranh và dịch bệnh. Thân phận con người và bi kịch chung của nhân loại từng chút một lần lượt bị phơi bày trước thảm họa của chiến tranh và dịch bệnh qua những trang viết ám ảnh của Huỳnh Trọng Khang.
2. Con người trong chiến tranh và dịch bệnh - đối diện và lựa chọn trước nghịch cảnh
Trước nghịch cảnh, con người buộc phải đối diện và lựa chọn. Song không phải ai cũng đủ sức đối diện và có được lựa chọn hợp lí. Một trong những nỗi đau khá phổ biến của con người trong chiến tranh và dịch bệnh là tình trạng mất phương hướng và lạc lối trong những loay hoay lựa chọn hiện sinh, liên quan đến các tình huống lịch sử cụ thể. Cuộc chiến đến hồi tàn ở miền Nam đầu những năm 1970, đại dịch covid với tình trạng cách li và hàng chục ngàn người chết đầu thế kỉ XXI khiến các nhân vật trong tiểu thuyết của Huỳnh Trọng Khang rơi vào tình trạng mất phương hướng trong đời thực và lạc lối trong những mê lộ của lí tưởng, niềm tin. Mang mối tình vô vọng, anh Tư lao vào chiến tranh mà không có chút lí tưởng, cũng chẳng màng vụ lợi và nhanh chóng trở về trong điên dại, “một sự trở về còn nghiệt ngã hơn cái chết”. Anh đốt sách “với vẻ man dại, say mê của vị giáo sĩ cuồng tín trong nghi thức tế lễ ma quái cổ xưa” bởi “Sách vở không ngăn được chiến tranh, chẳng ngăn được người giết người, chẳng ngăn được cái tàn khốc của thời đại”. Kể cả khi có tình yêu, chiến tranh cũng khiến tình yêu trở nên lạc lối. Sylvia yêu K, một người đàn ông Việt Nam. Cô dành toàn bộ thanh xuân ở một miền Nam bom đạn, đổ nát những năm cuối cùng trước sự kiện 30/4/1975 và dành cả cuộc đời còn lại để tìm kiếm, chờ đợi K. Song rốt cuộc, cái cô có từ K chỉ là một kí hiệu. Cô không biết tên thật của anh, nghề thật của anh, gia đình thật của anh. Cả cái chết và giọt máu của anh cũng lướt qua cô mà cô không hề hay biết. Sylvia lạc lối trong chiến tranh và tình yêu, cô vô vọng và vô phương trong tìm kiếm K và xâu chuỗi những sự kiện, bi kịch trong những ngày tháng cận kề cái chết (Những vọng âm nằm ngủ). Kể cả chú tiểu nhỏ vốn có Phật là tâm đạo, cũng loay hoay trong chặng đường đến với Sa Mạo “vốn chẳng hề có“trên bản đồ Google hay trên những địa danh nhấp nháy nối nhau bằng mũi tên đỏ, bị cố định trên tấm biển điện tử báo giờ xe chạy hiện diện sặc sỡ, lặng im ở bến xe”. Sa Mạo từng là đích đến của Huyền Trang, là điểm đến của sư phụ - điểm cuối trong hành trình thực hành im lặng của chú. Nhưng “Còn đích của chú? Chú có định rời đi? Và đi đâu?”. “Chú đi. Và chú đi” - một khi hành trình hiện sinh của mình chưa thể khép.
Lựa chọn chưa bao giờ là dễ dàng, nhất là lựa chọn trước các vấn đề sống chết mà chiến tranh và dịch bệnh đem lại. Không lao vào chiến tranh để quên đi cảm giác bất lực, cảm giác bị bội phản như những người anh trai, “tôi”, con trai tướng quân, người kể chuyện trong tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ đã chọn trốn chạy khỏi cuộc chiến. Song, chạy trốn vẫn không làm “tôi” bớt chán chường và hoang mang, “tôi” trở thành một trong những đứa con lạc loài của thời đại và lao vào hưởng thụ, sa ngã, chỉ vì cần phải sống, và tự hủy trong các thứ chủ nghĩa tự tạo dựng. Để thoát ra khỏi đời sống vô nghĩa ấy, cứu cánh duy nhất của tuổi trẻ chỉ có thể là tình yêu. Chọn ở lại vào thời điểm nhiều xáo trộn của sự kiện 30/4/1975, trong khi có khả năng rời Việt Nam từ sớm, với Sylvia trong Những vọng âm nằm ngủ, tình yêu mạnh hơn cái chết. Tình yêu đủ mạnh để Sylvia tiếp tục sống và chờ K, dù vào “11 giờ 30 ngày 29 tháng 4 năm 1975, Sylvia đã lái xe đến bệnh viện, bình thản, đau đớn. Cô biết nó là con trai, nó đang cố để rời khỏi cơ thể cô và cuối cùng nó đã chết ngay khi chào đời”. K không trở lại, đứa con trai của họ chưa kịp đón ánh mặt trời. Nhưng những kí ức, những khoảnh khắc cùng K đủ để với Sylvia, phần đời tươi đẹp nhất của cô là Việt Nam cùng những năm tháng của tình yêu, tuổi trẻ, bất chấp bóng ma của chiến tranh luôn lơ lửng trên đầu.
Chọn lựa hiện sinh là những chọn lựa không dễ dàng, nhất là khi phải đối diện với nghịch cảnh, với các vấn đề sinh tử: chọn cầm súng khi đã thấy sự vô nghĩa lí của chiến tranh, hay chọn tình yêu, bất chấp mối thù giữa hai chiến tuyến; chọn thực hành sống với ý niệm tôn giáo hay chọn giữ Đạo trong tâm để cứu mình, cứu người trong dịch bệnh. Chọn cho mình đã khó, chọn cho người khác chắc chắn còn khó khăn hơn. Song, với trách nhiệm, tình yêu và những thấu hiểu lẽ đời, nhiều lựa chọn đã làm dịu đi cái khủng khiếp của chiến tranh và dịch bệnh. Trong tiểu thuyết Bể trăng côi, cả gia đình Cẩm đã để chú tiểu ở lại cùng họ khi lệnh giới nghiêm đã được áp dụng cho toàn thành phố, dù họ chẳng còn việc làm, chẳng còn lương thực, và chẳng có một chỗ nào để chú tá túc, ngoài cái sân thượng không có mái che. Song, sau rốt, người đi chống dịch, người bị cách li, chỉ còn mỗi chú tiểu ở nhà và tiễn đưa bà nội vào những giờ phút cuối. Chú cũng là người lần lượt đón nhận tro cốt, gom lại những dấu hiệu cho biết cả một gia đình đã từng hiện diện và giờ lại cùng nằm bên nhau bằng những ảnh cận kề. Bao đêm như một trong căn nhà của những người xa lạ, chú cuộn mình lại như con sâu, cái kén chỉ để lắng nghe sự cô độc, nghe “ở dưới đáy của sự im lặng, tiếng người đang gào thét”. Song, sự cô độc và cái chết đang đến dần cuối cùng đã không đánh gục được chú. Chú có niềm tin tôn giáo để giữa lằn ranh giữa sự sống và cái chết “chú thả lỏng cơ thể, nằm ngửa lên nhìn những đôi mắt Bồ Tát”; chú có lời dạy của sư phụ để biết rằng “Từ xưa đến nay, không có đường nào khác, sống chỉ như mặc áo, chết cũng tợ cởi quần. Cởi quần, mặc áo là chuyện bình thường ở đời, đừng lấy đó mà đau khổ”. Chú cũng biết khi đặt tình yêu vào giữa lòng vạn vật, tình yêu đó sẽ tan ra nhưng không mất đi. Và tình yêu, niềm tin tôn giáo đã giúp chú vượt qua những ngày tháng dịch giã - nâng đỡ cả những kiếp người hữu duyên mà chú đã gặp trong những ngày tháng cái chết không làm mất đi tình người.
3. Tự sự về chiến tranh và dịch bệnh - một diễn ngôn về những tồn tại nhân sinh
Mộ phần tuổi trẻ, Những vọng âm nằm ngủ và Bể trăng côi là ba tiểu thuyết có cấu trúc trần thuật độc đáo và phù hợp để trình hiện những diễn ngôn về chiến tranh và dịch bệnh, về những tồn tại nhân sinh trong những trạng huống bất thường và vô thường của con người. Ở cả hai tiểu thuyết về chiến tranh, Huỳnh Trọng Khang đã sử dụng hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong để nhận diện những bi kịch chiến tranh từ trải nghiệm của người trong cuộc. Ở Mộ phần tuổi trẻ, “tôi”, con trai một vị tướng quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã từ những mất mát của gia đình và những hoang mang của cá nhân, vẽ nên chân dung một thế hệ tuổi trẻ mất phương hướng, khi cảm thức lưu đày trên chính quê hương trở thành tiếng vọng chung của thời đại. Ở Những vọng âm nằm ngủ, Sylvia, từ công việc đặc thù của một phóng viên chiến trường người ngoại quốc và từ mối tình vô vọng với một người đàn ông Việt, cũng đã nhìn một miền Nam đau thương trước ngày thống nhất 30/4/1975 từ điểm nhìn vừa riêng tư vừa chân thực, gắn với sứ mạng kể lại các câu chuyện của con người trong chiến tranh. Những nỗi đau chiến tranh, những góc khuất của tâm hồn qua các diễn ngôn cá nhân trở nên sống động và ám ảnh. Đó là những khoảng cách không thể khuất lấp khi tình yêu bị xoay vần trong những mê lộ của đời sống mà sinh tử chỉ là vấn đề gang tấc. Người kể chuyện, nhân vật “tôi” trong Mộ phần tuổi trẻ không ngừng trăn trở: “Tôi có thể yêu em trong đêm nay, có thể bên em trong đêm mai, rồi xa nhau vĩnh viễn. Sự cách bức của chúng tôi, cuộc chiến mà chúng tôi phải đối diện, sau cuộc chiến này, thứ quan trọng nhất là thứ phía sau cuộc chiến này, chúng tôi còn lại gì khi bom đạn thôi rơi?”. Tình yêu và bạo tàn trộn vào nhau khi nơi này là tình yêu, và ở nơi kia, ngay bên ngoài nó, là cái chết: “Tôi chải tóc cho Neige. Cuộc biểu tình biến thành bể máu. Tôi chải tóc cho Neige. Những tay cảnh sát đang rửa máu bám trên đường… Tôi chải tóc cho Neige. Ai đó hô lên, ở đây có một cái xác. Tôi chải tóc cho Neige. Tóc em dài và mượt. Đó là một buổi sáng bình thường”. Cái bất thường đã trở nên bình thường như cuộc sống vốn phải thế. Song, liệu tình yêu thời chiến có thể bình thường bất chấp những điều bất thường đã trở nên tất yếu xung quanh? Kể chuyện bằng hình thức trần thuật camera, song không phải từ ngôi ba, mà từ điểm nhìn “bàng quan” của người trong cuộc với giọng điệu vô âm sắc, Huỳnh Trọng Khang đã lột tả được bi kịch của tình yêu, bi kịch của tuổi trẻ trong những ngày tháng vô phương trước chiến tranh và những đổ nát của lí tưởng, của tâm hồn. Có thể hạnh phúc được chăng trong những năm tháng được xem như “mộ phần” của tuổi trẻ? Không nhằm tố cáo chiến tranh, không rạch ròi phân chia thiện ác, chiến tranh chỉ là một trạng huống để nhìn sâu hơn các khả thể khác nhau của những tồn tại nhân sinh.
So với Mộ phần tuổi trẻ, tiểu thuyết Những vọng âm nằm ngủ có cấu trúc tự sự phức tạp hơn. Không chỉ kể chuyện bằng hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất với một điểm nhìn, một ngôi kể, Những vọng âm nằm ngủ là tiểu thuyết đa điểm nhìn, đa người kể chuyện, đa hình thức trần thuật và vì thế bề bộn các sự kiện, tình huống, các số phận bị nhàu nát bởi chiến tranh. Số phận của Diệu, của Kiểm, của Tuấn, của Lyly…, những nạn nhân và cả chứng nhân của thời cuộc, qua nhiều điểm nhìn, nhiều lời kể, rốt cuộc đều bị méo mó vì những chấn thương tinh thần hay thể xác. Diệu phải giết người để tự giải thoát cho mình và con trai. Kiểm phải vào đời bằng mối quan hệ thể xác phi luân với người xem anh như con ruột. Tuấn tự mình giết cha mà không hay biết. Lyly đã không cho đứa con của cô được chào đời chỉ để “tránh cái cảnh nhìn đồng loại nó giết chóc lẫn nhau”, để tay nó không dính máu, để khỏi phải mang tội lỗi. Và K, cuộc đời của K, người yêu của Sylvia cuối cùng chỉ còn lại ở những trang nhật kí ố vàng với những ghi chú bằng bút chì dần phai và những ghi chú viết bằng bút mực bắt đầu ăn mòn trang giấy. Sylvia yêu K nhưng hầu như không có gì nhiều để kể về anh. Cô không biết thân phận của anh, nghề nghiệp của anh và cả cái chết của anh vào ngày cuối cùng của cuộc chiến. Cái chết của K dưới tay của đồng đội, của chính con trai K là một khoảnh khắc mà lịch sử đã lãng quên. Những gì thuộc về K cũng không rõ ràng, đầy đủ khi Sylvia không thể tìm trang bắt đầu, càng không thể nào tìm trang kết thúc cho các câu chuyện anh ghi chép, cho cả cuộc đời K từ những trang nhật kí. Chiến tranh in hằn lên mỗi phận người. Trong tiểu thuyết của Huỳnh Trọng Khang, tự sự về chiến tranh chính là tự sự về thân phận con người.
Không nặng nề như hai tiểu thuyết viết về chiến tranh, Bể trăng côi là những chiêm nghiệm hiện sinh từ cái nhìn của những người có Đạo, có niềm tin tôn giáo. Phải chăng vì thế mà sự sống và cái chết trong tác phẩm này được nhìn nhẹ nhàng, thấu hiểu - dẫu câu chuyện về dịch bệnh không phải không khủng khiếp và đáng sợ qua những sự kiện, tình huống bất thường. Hai tuyến truyện hiện tại và quá khứ được đan cài vào nhau. Dịch Covid của hiện tại qua cái nhìn của chú tiểu và dịch Huyết nhiệt của hơn ngàn năm trước qua chiêm nghiệm của sư Huyền Trang cũng nhòe mờ thực ảo. Khác biệt về không gian, thời đại, khác biệt về văn hóa và lịch sử, song liệu nỗi đau của con người có khác nhau trước sự tàn phá của dịch bệnh, cái chết và sự phi nhân? Đi qua đại dịch và lần lượt chứng kiến những người thân ra đi, rất lâu sau này, chú tiểu vẫn thường tự hỏi mình “sao chú có thể sống được qua những ngày tháng đó”; “chú thấy mình giai đoạn đó như có một kẻ khác đang giãy chết trong lòng, một kẻ khác đang đòi tự sát trong chú. Và có lẽ kẻ khác đó đã chết. Chú thấy như chính mình đã giết kẻ khác đó”. Phải chăng đó là cách đoạn tuyệt để chú có thể sống tiếp, như sư Huyền Trang năm xưa đã từ chối ghi chép lại đại dịch Huyết nhiệt ở thành Virupakkha, để chôn đi những chứng tích về sự u mê lầm lạc của con người, để khỏi phải giải thích về sự biến mất của những tên đồ đệ và nhất là khỏi phải đối diện với kí ức về trận dịch kinh hoàng, bởi nó quá đau thương để ghi vào lịch sử nhân loại. Cuốn sách duy nhất không phải kinh Phật mà chú tiểu đọc là Đại Đường Tây Vực Kí của Huyền Trang. Và “điều quan trọng nhất chú học ở Huyền Trang, có lẽ là cách một câu chuyện có thể được dựng lên để che đậy câu chuyện lớn hơn. Sự hủy diệt và tái sinh. Một vòng tròn lớn, mà tâm của nó còn tỏa ra những vòng tròn nhỏ khác”. Tử mà không diệt, cuộc sống và sự hồi sinh vẫn tiếp tục diễn ra từ những tro tàn, đổ nát của dịch bệnh, cái chết. Tiểu thuyết Bể trăng côi của Huỳnh Trọng Khang đã mượn cái chết để nói cái sống, mượn sự hữu hạn của kiếp người để nói đến sự trôi chảy đời sống. Với giọng điệu nhẹ nhàng, giàu triết lí, Bể trăng côi đã khẳng định bản chất của những tồn tại nhân sinh: “Cuộc sống là một sự vượt qua, một sự vượt qua đầy đau đớn”, mà bất kì ai cũng phải tự dấn bước để đi hết được hành trình hiện sinh với những chiêm nghiệm sâu sắc về bản ngã.
Với ba tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề phổ quát của nhân loại khi tác giả chỉ vừa mới qua tuổi ba mươi, Huỳnh Trọng Khang là một cây bút già dặn ở thế hệ của mình. Sự già dặn ấy không chỉ thể hiện ở việc chọn đề tài về chiến tranh và dịch bệnh mà còn thể hiện ở cảm quan về đời sống và bút pháp nghệ thuật. Hoàn toàn không dễ khi từ độ tuổi hai mươi để cảm nhận không khí miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975. Cũng cần phải có một trải nghiệm Phật giáo đủ sâu để một nhà văn tuổi ba mươi có thể đưa chất thiền vào tác phẩm và khiến những suy tư về lẽ sống chết thấm đẫm những ưu tư hiện sinh tôn giáo. Huỳnh Trọng Khang đã làm được điều này với ba tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ, Những vọng âm nằm ngủ và Bể trăng côi. Sự lựa chọn đề tài về chiến tranh và dịch bệnh tưởng là liều lĩnh với tác giả, nhưng lại là một sự lựa chọn đắt.
T.P.V.A
VNQD