Danh họa Paul Gauguin trong Vầng trăng và sáu xu

Thứ Sáu, 11/09/2026 06:30

.BẠCH DƯƠNG


The moon and sixpence (Vầng trăng và sáu xu) xuất bản lần đầu năm 1919 của nhà văn hiện thực Anh Somerset Maugham là tác phẩm rất đỗi quen thuộc với độc giả Việt Nam nhiều thế hệ. Bản thân tác phẩm đã xuất hiện dưới nhiều bản dịch, được tái bản nhiều lần ở các đơn vị xuất bản khác nhau, và chiếm được lòng độc giả nhờ câu chuyện độc đáo về một quý ông lập dị, bỏ cuộc đời đang “sang - xịn” để làm kẻ lang thang, rồi đi vẽ tranh. Nhân vật Strickland ấy chính là danh họa Paul Gauguin (1848-1903).

Nhiều năm đã trôi qua kể từ cuốn sách mà tuổi thơ tôi yêu mến, giờ khi đã có thể đọc tốt các tác phẩm tiểu sử chân thực của Gauguin, chúng ta hãy cùng xem câu chuyện lập dị nhưng truyền cảm hứng của Paul Gauguin ngoài đời và Strickland trong sách có gì khác nhau. Năm 1916, William Somerset Maugham đặt chân đến Tahiti với mục đích lùng cho ra những dấu tích còn sót lại từ cuộc đời của Paul Gauguin, danh họa Pháp đã trút hơi thở cuối cùng trong cảnh cô độc tại quần đảo Marquesas trước đó mười ba năm. Chuyến đi này nhằm để viết tiểu thuyết mới về một trong những số phận kì lạ nhất trong mắt người thường (vả chăng Maugham cũng là người thông thạo và yêu thích các hòn đảo nhỏ viễn đông). Tại ngôi làng hẻo lánh Mataiea, Maugham tìm thấy và mua lại một tấm kính vẽ tay của Gauguin từ một gia đình bản địa với giá vài trăm franc. Miếng kính này vốn là một phần của cánh cửa căn chòi gỗ, từng bị lũ trẻ dùng làm mục tiêu ném đá, ghi dấu những nét vẽ nguyên sơ về những bông hoa dâm bụt và gương mặt một người đàn bà Polynesia. Đối với Maugham, tấm kính là dấu chỉ cho hiện diện của một con người đã dám từ bỏ mọi tiện nghi để đuổi theo một thứ “địa đàng” xa xăm. Tấm kính nứt ấy sau này trở thành biểu tượng cho cách Maugham nhào nặn sự thực trong cuốn tiểu thuyết Vầng trăng và sáu xu, một quý ngài Pháp tước bỏ lớp vỏ vật chất bụi bặm, trần trụi của đời thực để giữ lại phần cốt tủy của một lí tưởng nghệ thuật cực đoan.

Paul Gauguin đời thực - như bao người - có một bản lí lịch phức tạp, nhiều mâu thuẫn giữa kiểu cách quý phái tư sản và bản năng hoang dã. Sự phức tạp của Gauguin hấp dẫn chúng ta. Trước khi trở thành một kẻ bị xã hội ruồng bỏ (hoặc chính xác hơn là Gauguin ruồng bỏ xã hội), ông là một nhà môi giới chứng khoán thành đạt tại Paris với mức thu nhập cho phép ông thoả thuê ăn vận đắt tiền như một kẻ dandyism (thuật ngữ cổ chỉ các quý ông ăn diện trưng trổ) trong sách của D’Aurevilly, một căn hộ sang trọng và bộ sưu tập tranh ấn tượng gồm những tác phẩm của Manet, Pissarro và Renoir. Gauguin có một gia đình ổn định trong mắt nhiều người, với người vợ Mette Gad và năm đứa con. Tuy nhiên, lòng kiêu hãnh của ông có gốc rễ sâu xa từ những năm tháng thơ ấu sống tại Lima, Peru. Tại đó, ông lớn lên giữa những pho tượng gốm Moche kì quái, những món đồ cổ của nền văn minh tiền Colombo và sự bảo bọc của người bà Flora Tristan - một nhà hoạt động xã hội lừng lẫy với tư tưởng nổi loạn. Ý niệm về một “kẻ hoang dã từ Peru” đã nằm sẵn trong dòng máu Gauguin từ trước khi ông cầm cọ vẽ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1882 khiến sự nghiệp kinh doanh của ông sụp đổ hoàn toàn. Thay vì là một tai nạn nghề nghiệp đơn thuần, sự kiện này đóng vai trò như một cú hích định mệnh, đẩy ông vào thế không còn gì để mất và buộc ông phải chọn nghệ thuật làm phương thức duy nhất để khẳng định sự tồn tại của bản thân.

Giai đoạn Gauguin ở Đan Mạch là một quãng tủi nhục, điều mà Maugham đã chủ ý lược bỏ để giữ cho nhân vật của mình sự lạnh lùng gây tò mò từ đầu - tuy cũng không phải là tuyệt đối lược bỏ. Tại Copenhagen, Paul Gauguin phải sống dựa vào sự thương hại và khinh miệt của gia đình vợ, những người coi hội họa của ông là trò phù phiếm và bản thân ông là một kẻ thất bại không thể chu cấp cho vợ con. Ông phải đi bán vải bạt và bảo hiểm nhưng thất bại thảm hại do không thể nói được tiếng Đan Mạch và luôn giữ thái độ ngạo mạn trước giới tư sản bản địa. Sự chia rẽ với Mette Gad không chỉ là sự tan vỡ của một cuộc hôn nhân mà còn là sự khước từ triệt để những giá trị của đạo đức gia đình Bắc Âu. Khi trở về Pháp, Gauguin sống lang bạt, thậm chí phải làm công việc dán áp phích quảng cáo trên các đường phố Paris trong mùa đông lạnh giá để có tiền nuôi con trai Clovis đang lâm bệnh. Ông đã tự tay khâu tất cho con trong một căn phòng không có lò sưởi, một chi tiết cho thấy Gauguin vẫn là một con người bị ràng buộc bởi trách nhiệm và tình thân. Chỉ sau khi những sợi dây liên kết này đứt gãy hoàn toàn qua những bi kịch cá nhân và sự thất vọng với châu Âu, ông mới dấn thân vào hành trình đi tìm con người mình ở vùng Polynesia.

Hậu vận của Paul Gauguin tại quần đảo Marquesas là một chuỗi nỗ lực sáng tạo cuối cùng trong sự suy kiệt về thể xác. Tháng 9 năm 1901, Paul Gauguin rời bỏ Tahiti trên con tàu hơi nước “Croix du Sud” để thực hiện chuyến hành trình cuối cùng đến Atuona, một thung lũng hẻo lánh và xanh mướt trên đảo Hiva Oa thuộc quần đảo Marquesas. Gauguin mua luôn một mảnh đất nhỏ rộng khoảng một mẫu từ nhà thờ Công giáo với giá bảy trăm franc và bắt đầu dựng lên “Maison du Jouir” (Khoái lạc phủ). Ngôi nhà là một tác phẩm điêu khắc tổng thể: nó được dựng trên những cây cột cao hai mét để tránh ẩm thấp, mặt tiền được trang trí bằng năm tấm gỗ đỏ lớn chạm khắc thủ công với những khẩu hiệu mang tính tuyên ngôn: “Cứ yêu đi đã, rồi sẽ hạnh phúc” và “Hãy huyền bí”. Nội dung bên trong ngôi nhà là một sự pha trộn kì quái phản ánh tâm hồn phức tạp của Gauguin: những bức họa phong tình cắt từ tạp chí Paris dán cạnh các biểu tượng tôn giáo, những bức tượng gỗ mang hình hài thần thoại Polynesia đầy ám ảnh, và một thư viện nhỏ chứa các tác phẩm của Mallarmé, Poe và những bản thảo triết học của chính ông.

Thân thể Gauguin lúc này đã bước vào giai đoạn suy kiệt trầm trọng và đau đớn. Đôi chân toàn những vết loét hôi thối của bệnh chàm bội nhiễm kết hợp với di chứng giai đoạn cuối của giang mai, luôn được quấn chặt bằng những dải băng dơ bẩn thấm đẫm mủ và máu. Để chống chọi cơn đau thấu xương kéo dài từ hông xuống bàn chân, ông phụ thuộc hoàn toàn vào hỗn hợp cồn thuốc phiện (laudanum), morphine và rượu rẻ tiền. Mỗi sáng, Gauguin cần một lượng lớn rượu vang đỏ để có đủ sức cầm cọ vẽ trong vài giờ trước khi cơn đau lại quật ngã ông. Mùi hôi thối từ những vết thương hở và mùi thuốc phiện nồng nặc bao trùm lấy không gian làm việc, nhưng chính trong sự thối rữa của thể xác ấy, ông lại vẽ nên những bức tranh rực rỡ nhất về một thế giới nguyên sơ.

Trí tuệ của Gauguin lại phản kháng quyết liệt đối với các cấu trúc quyền lực thực dân. Gauguin dành hàng đêm để viết những bản kiến nghị dài dằng dặc, đầy rẫy sự mỉa mai và luận điểm sắc bén gửi đến thống đốc ở Papeete. Trong đó, tố cáo những vụ tham nhũng của viên hiến binh địa phương Deziré Guicheray và những luật lệ hà khắc, đạo đức giả của giám mục Joseph Martin - người mà Gauguin căm ghét đến mức gọi là “kẻ thiến tùng linh hồn”. Ông kêu gọi người bản địa ngừng nộp thuế và đấu tranh chống lại việc nhà thờ cấm đoán các điệu nhảy truyền thống. Sự nổi loạn này không chỉ là hành động chính trị, mà là nỗ lực cuối cùng của Gauguin để bảo vệ cái “bản ngã hoang dã” mà ông đã chọn để thay thế cho danh phận tư sản Pháp trước đây.
 

Bi kịch lên đến đỉnh điểm vào tháng 3 năm 1903. Ông bị tòa án thực dân kết án ba tháng tù giam và phạt nặng năm trăm franc vì tội vu khống viên hiến binh Guicheray. Bản án này là một đòn chí mạng đánh vào tinh thần vốn đã rệu rã của ông. Trong những tuần cuối cùng, khi không còn khả năng di chuyển và phải nằm liệt giường, Gauguin dành thời gian để lục lọi những mảnh kí ức về vùng Bretagne từ hai thập kỉ trước. Bức tranh cuối cùng tìm thấy trên giá vẽ của ông là Village breton sous la neige - một phong cảnh tuyết trắng xóa bao phủ lên những mái nhà tranh vùng nông thôn Pháp. Đó là một sự tương phản nghiệt ngã: trong khi mồ hôi ông đổ xuống vì cái nóng hầm cập của vùng nhiệt đới và hơi thở nồng mùi bệnh tật, tâm trí ông lại tìm về cái lạnh buốt của quê hương như một sự hòa giải cuối cùng trước cái chết.

Sáng ngày 8 tháng 5 năm 1903, người hàng xóm thân cận Tioka tìm thấy Gauguin đã tắt thở trong trạng thái cô độc và co quắp trên giường gỗ, mắt vẫn mở trừng trừng như đang nhìn vào một khoảng không vô tận. Một tháng sau cái chết của ông, toàn bộ tài sản tại “Maison du Jouir” bị đem ra bán đấu giá tại Papeete để trả nợ. Những bức họa vĩ đại, giờ đây là những kiệt tác trị giá hàng triệu đô la, lúc đó bị đem bán với giá vài franc mỗi bức. Sự nhạo báng cuối cùng đến từ việc các quan chức đấu giá đã treo ngược tranh của ông vì không thể hiểu nổi những gì ông vẽ. Những tấm gỗ chạm khắc trang trí ngôi nhà - linh hồn của Ngôi nhà Khoái lạc - đã bị giám mục Martin coi là vật phẩm đồi trụy và ra lệnh thiêu hủy ngay lập tức trong một đống lửa lớn. Di sản của Gauguin dường như đã bị xóa sổ ngay tại nơi ông gửi gắm những hi vọng cuối cùng, trước khi tin tức về “thiên tài hoang dã” bắt đầu lan tỏa và làm chấn động giới nghệ thuật Paris vài năm sau đó.

Trong tiểu thuyết Vầng trăng và sáu xu (các bản dịch khác là Mặt trăng và đồng xu), Somerset Maugham xây dựng nhân vật Charles Strickland bằng những nhát cắt gắt gao vào tâm lí. Strickland không có quá khứ rực rỡ ở Peru hay những mâu thuẫn gia đình phức tạp như Gauguin. Anh ta chỉ đơn giản là một người đàn ông lầm lì, tầm thường, bỗng một ngày bỏ lại vợ và hai con tại London để sang Paris sống trong một căn phòng bẩn. Sự tàn nhẫn của Strickland mang tính bản năng và không cần lời giải thích. Khi nhân vật “tôi” chất vấn về lí do bỏ rơi gia đình, Strickland chỉ trả lời bằng những câu thoại cộc lốc: “Tôi bảo với anh là tôi phải vẽ. Tôi không thể cưỡng lại được. Khi người ta rơi xuống nước, không ai đặt thành vấn đề bơi như thế nào, giỏi hay dở; phải bơi, bằng không sẽ chết chìm”. Strickland phủ nhận mọi nhu cầu tình cảm thông thường bằng thái độ khinh khi: “Tình yêu là một chứng bệnh. Đàn bà chỉ là phương tiện đáp ứng thú vui của tôi. Tôi không chịu được việc họ đòi làm người cộng sự, người bạn đời, người bạn đồng hành”. Maugham mô tả ngoại hình của Strickland với “đôi bàn tay to lớn, thô kệch” và “ánh mắt của một kẻ đang nhìn thấu qua bạn để chạm tới một điều gì đó mà bạn không thể thấy”. Nhân vật này trở thành một thực thể gần như thần thánh trong sự tàn ác và cô độc của mình, một người đã đạt đến trạng thái tự do tuyệt đối bằng cách cắt đứt mọi liên hệ với luân thường đạo lí. Strickland còn mắng vào mặt ân nhân: “Anh là một thằng ngu, Stroeve ạ. Một thằng ngu đáng thương. Anh cho tôi mượn nhà, cho tôi thức ăn, chăm sóc tôi khi tôi ốm. Anh nghĩ tôi sẽ biết ơn anh sao? Tôi khinh bỉ sự tử tế của anh cũng như tôi khinh bỉ chính bản thân anh vậy”. Dĩ nhiên đoạn đó không phải để nói về sự vô ơn của nhân vật, mà chủ yếu là đẩy nỗi khác biệt của ông với phần đông xã hội con người lên mức cực đoan.

Cái chết của Strickland trong truyện cũng được thi vị hóa và đẩy lên thành một huyền thoại về sự tận hiến. Khác với cái chết do trụy tim vì bệnh tật tích tụ của Gauguin, Strickland chết vì bệnh phong - một căn bệnh khiến anh ta bị xã hội ghẻ lạnh và cô lập hoàn toàn trong túp lều ở Tahiti cùng Ata. Bác sĩ Coutras, người chứng kiến những giờ phút cuối cùng của Strickland, đã mô tả căn phòng nơi họa sĩ nằm chết như một không gian “vừa kinh tởm vừa huy hoàng”. Những bức tường được bao phủ từ sàn đến trần bằng những hình họa rực rỡ, kì quái, thể hiện một sự thấu thị mà mắt người thường không bao giờ chạm tới được. Strickland yêu cầu Ata đốt cháy toàn bộ ngôi nhà cùng kiệt tác cuối cùng ấy sau khi anh qua đời. Những kiệt tác không người biết.

Khác biệt cốt yếu giữa nguyên mẫu Gauguin và nhân vật Strickland nằm ở khả năng kết nối với nhân loại. Theo ghi chép của Sue Prideaux, Gauguin là một trí thức sắc sảo, một người viết lách dồi dào với cuốn Noa Noa đầy chất thơ. Ông suy sụp hoàn toàn khi nghe tin con gái Aline qua đời và luôn khao khát sự công nhận từ giới nghệ thuật Paris để chứng minh rằng sự hi sinh của mình là có nghĩa. Ngược lại, Strickland của Maugham hoàn toàn không có nhu cầu giao tiếp hay giải thích. Sự chuyển hóa từ Gauguin sang Strickland là quá trình thanh lọc mọi tạp chất của lòng nhân ái để chỉ còn lại một tinh thể nghệ thuật tinh khiết, rực rỡ nhưng tàn nhẫn. Nếu không có những giản lược đó, Strickland có lẽ đã không trở thành một nhân vật hấp dẫn và đáng suy ngẫm theo đúng cách mà Maugham muốn trong các câu chuyện bán rất chạy của mình.

B.D
--------
1. Bài viết tham khảo bản dịch tiểu thuyết The moon and sixpence của dịch giả Nguyễn Thành Thống, cùng cuốn tiểu sử Paul Gauguin mang tên Wild Thing của Sue Prideaux.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Những cái tên mang thân phận người của "Gió vẫn thổi qua rừng nhiệt đới"

Từ những đường dây lừa đảo xuyên biên giới, từ những căn phòng trọ ám mùi dây thừng và điện thoại bị tắt nguồn…, tôi muốn bạn đọc bước vào thế giới lạnh lẽo và dữ dội của thời đại dữ liệu,... (DƯƠNG BÌNH NGUYÊN)

Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)