Dù có quan điểm khác biệt về nam tính trong chiến tranh, nhưng Salinger và Hemingway có sự ngầm hiểu đặc biệt về những tổn thương và các mất mát do xung đột thường trực mang lại. Ẩn sau những gì họ viết là câu chuyện gì?
Trong số những vật dụng mà binh lính mang đến với chiến trường Đệ nhị Thế chiến, nổi tiếng bậc nhất về mặt tinh thần đó là "Kinh Thánh bảo vệ trái tim" - một cuốn Kinh Thánh nhỏ gọn, do chính phủ phát hành, đôi khi có bìa kim loại, được đặt vừa khít trong túi áo tiêu chuẩn của những người lính. Trong nhiều trường hợp, cuốn sách thiêng liêng này đóng vai trò như lớp áo giáp cứu mạng, tuy nhiên, nhìn chung, văn bản này vẫn được biết đến nhiều nhất với mục đích chính: làm dịu lương tâm cũng như giúp đỡ tìm kiếm ý nghĩa thiêng liêng.

Trải nghiệm chiến tranh được J.D.Salinger mang vào nhiều tác phẩm quan trọng của mình.
Khi Jerome David Salinger, một người lính mới 23 tuổi, được gửi ra tiền tuyến, anh đã từ chối những câu chuyện ngụ ngôn Kitô giáo và tự viết nên câu chuyện của mình. Vì vậy anh đã bổ sung vào balo chiến trường giấy trắng cùng với chiếc máy đánh chữ. Có lần, khi đơn vị của anh bị tấn công dữ dội, một đồng đội đang chạy tìm chỗ trú ẩn đã thoáng thấy Salinger đang cúi gập người bên dưới gầm bàn, gõ máy đánh chữ vô cùng nhập tâm như một phóng viên chạy đua với chính thời gian.
Giờ đây dù được biết đến trên toàn thế giới với bút danh J.D. Salinger, nhưng ít người biết người lính trẻ này đã từng trải qua nhiều chương kinh hoàng của chính chiến tranh. Anh đã đổ bộ lên bãi biển Normandy, chiến đấu trong Trận Bulge và giúp giải phóng Kaufering - trại phụ của Dachau. Không ngoa khi nói những bản thảo dở dang ông mang theo mình thấm đẫm mồ hôi cũng như phản ứng mang tính bản năng. Những suy ngẫm của ông, đến lượt mình, đã được trau chuốt thành một số văn bản đầu tiên dám thách thức hình ảnh được lí tưởng hóa về người lính Mĩ và những huyền thoại đẹp đẽ xoay quanh chiến trận. Lời văn của Salinger cũng làm suy yếu mô hình nam tính đầy mê hoặc của nước Mĩ – điều vốn là động lực thúc đẩy hành động tuyển quân từ trước đến nay một cách mạnh mẽ.
Những câu chuyện sắc sảo của Salinger nhanh chóng biến ông trở thành một trong những tiếng nói thành công nhất của điều gọi là Thế hệ im lặng. Như nhiều người khác, vị nhà văn này bị tổn thương tâm lí nặng nề sau cuộc chiến, từ đó ông đã xem xét trải nghiệm thông qua việc viết. Ông hiếm khi nói hay viết về thành tích phục vụ trong quân đội, thế nhưng những khoảnh khắc thẳng thắn hiếm hoi lại khiến người ta cảm thấy rùng mình: "Con không bao giờ loại bỏ được mùi thịt cháy ra khỏi mũi mình," ông từng tâm sự với con gái, "cho dù có sống bao lâu đi nữa."
Không dừng ở việc nói với người thân, những suy nghĩ và quan điểm của ông về Thế chiến II cũng được ngụy trang trong các cốt truyện đời thường hoặc lấy bối cảnh ở những địa điểm cách xa chiến tuyến. Chỉ một lần duy nhất Salinger viết về chiến sự hiện đang diễn ra, và đó là trong truyện ngắn chưa xuất bản có tên The Magic Foxhole (tạm dịch: Hầm trú ẩn kì diệu). Trong tác phẩm này, ông đã khai thác cảm giác mất mát (cả về thể xác cũng như tinh thần) của một số “binh sĩ trẻ tuổi” trong vụ đánh bom Normandy. Đó là một câu chuyện rùng rợn và đầy suy ngẫm xoay quanh sự dằn vặt của Salinger về mặc cảm của người sống sót. Có lẽ khi viết tác phẩm này, ông đang cố gắng suy ngẫm về sự sống sót đáng kinh ngạc của bản thân qua những trận chiến khốc liệt nhất, và rồi cho rằng có 2 con đường: may mắn và sự can thiệp của những vị thần.
Hầm trú ẩn kì diệu mở đầu bằng biểu tượng mạnh mẽ về sự tàn khốc của xung đột: một vị linh mục quân đội lê lết điên cuồng giữa tiếng bom đạn, tìm kiếm kính mắt. Sau đó, chúng ta được gặp một người lính trẻ tên là Gardner, người tìm được đường vào hầm trú ẩn một cách kì diệu mà không có vết thương nào. Tuy thể chất hoàn toàn bình thường, thế nhưng tâm trí của bản thân anh bắt đầu rối loạn. Có lúc anh ảo giác thấy một người đàn ông đội mũ bảo hiểm có kiểu dáng tương lai mà bản thân tin là con trai Earl còn chưa chào đời. Mặc dù Gardner "trông có vẻ điên rồ", nhưng bằng ngôn từ, Salinger làm rõ rằng anh "không phải một kẻ mất trí." Thay vào đó ông viết Gardner bị áp lực bởi một dạng mệt mỏi chiến tranh "khi ta trông như đã qua đời rồi, hoặc khi bắt đầu nói thật to rằng bản thân ước mình là một thường dân chứ không hiện diện ở nơi chiến trường."
Tuy không trực diện, nhưng phần lớn tác phẩm của Salinger trong thời chiến cũng được sáng tác thông qua một phiên bản hư cấu hóa mỏng manh của bản thân và được đặt tên là Holden Caulfield. Holden. Theo đó, là một người hóm hỉnh, hoài nghi và cực kì cay độc, tự nhận là người vô thần và thẳng thừng chỉ trích chiến tranh cùng các thể chế đi kèm. Sau khi hiệp định đình chiến được kí kết, Salinger trở về Connecticut, trau chuốt những mảnh vụn cũ thành một tiểu thuyết hoàn chỉnh và kể từ đó, Bắt trẻ đồng xanh đã kịp ra đời đúng 75 năm trước. Trong tiểu thuyết, Holden theo học tại một trường tư thục ở ngoại ô Philadelphia tên là Pencey Prep được xem như là trường cũ thực sự của Salinger: Học viện Quân sự Valley Forge. Salinger lần đầu tiên đến Forge vào năm 1934 - khi đó ông 15 tuổi.

Tuy được đánh giá là khắc họa nam tính thiếu tính xét lại, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy Hemingway hiểu và đồng tình với quan điểm của Salinger.
Học viện Forge phần lớn dành cho những "kẻ ngỗ nghịch" và rất khắc nghiệt. Giống như nhiều học viên khác, Salinger có những cảm xúc mâu thuẫn về nơi này. Trên thực tế, ông từng viết một bài thơ đầy cảm xúc trong kỉ yếu của trường và thể hiện tình cảm sâu sắc đối với những học viên cùng khóa, nhưng cũng đồng thời trút bỏ những nỗi thất vọng về nơi chốn này trong cuốn tiểu thuyết Bắt trẻ đồng xanh. Trong tác phẩm của Salinger, trường Pencey bị ảnh hưởng bởi một đám thanh thiếu niên hư hỏng, những giáo viên biến chất và những đứa trẻ nhà giàu được nuông chiều - một sự kết hợp thường dẫn đến việc lạm dụng. Cũng vì lẽ đó Holden hăng hái nổi loạn chống lại trường Pencey Prep, bị đuổi học và đến New York. Không quá khó thấy Holden tuy còn trẻ nhưng ở tuổi 16, cậu lại nói chuyện với giọng điệu cam chịu của một cựu binh kiệt sức vì chiến tranh. Trong cuốn tiểu sử về Salinger ra mắt năm 2013, 2 tác giả David Shields và Shane Salerno cho rằng Bắt trẻ đồng xanh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ trải nghiệm của Salinger trên chiến tuyến, khi những gì đã qua khiến ông “không còn tin vào lí tưởng anh hùng”.
Mặc dù đến giữa những năm 1950 thì “cơn sốt” khẳng định bản lĩnh trong quân đội của các chàng trai Mĩ bắt đầu lắng xuống, nhưng không phải ai cũng vượt qua được. Ernest Hemingway, biểu tượng cho kiểu “lính cũ”, cũng giống như nhiều người đàn ông cùng thế hệ, đã định sẵn việc phục vụ trong quân đội từ khi còn nhỏ. Khi còn là một cậu bé vào đầu những năm 1900, ông đơn giản nghĩ chiến tranh là điều “đàn ông luôn làm”. Sau khi bị quân đội từ chối cho nhập ngũ ở tuổi 18 vì thị lực kém, ông gia nhập Hội Chữ thập đỏ với vai trò lái xe cứu thương trên chiến trường Ý trong Thế chiến I trước khi bị thương trong các vụ tấn công liên tiếp bằng súng cối và súng máy.
Sau này, Hemingway tìm thấy một con đường khác để tham gia chiến đấu, đó là trở thành nhà báo chiến tranh. Tháng 8 năm 1944, trong khuôn khổ đưa tin về Thế chiến II, Hemingway đã cầm vũ khí để ủng hộ việc giải phóng Paris. Không lâu sau, ông gặp Salinger tại thành phố vừa được giải phóng, cụ thể hơn là tại quán bar của khách sạn Ritz, nơi ông đã dành phần lớn thời gian kể từ ngày vinh quang ấy, trò chuyện và nhâm nhi rượu sâm panh Perrier-Jouët. Tại đây, Hemingway đã khen ngợi những truyện ngắn của Salinger (khi đó là một trung sĩ 25 tuổi) và hai người đã trò chuyện hàng giờ liền. "Cậu có một đôi tai tuyệt vời," Hemingway sau đó viết cho Salinger. "Và biết cách viết dịu dàng, trìu mến, không hề sướt mướt."
Dù xem Hemingway như một vị thần văn chương và người bạn tâm giao, tuy nhiên đôi khi Salinger cũng khó chịu với chủ nghĩa nam tính không chút xét lại của nhà văn này - điều khiến ông cảm thấy cuộc sống của một người lính đã bị che giấu hết thảy mặt tối. Đó cũng là lí do mà trong cuốn Bắt trẻ đồng xanh, Holden có lúc chế giễu Giã từ vũ khí là một "cuốn sách giả tạo". Thậm chí Salinger từng tâm sự với một người bạn rằng bản thân có cảm xúc tiêu cực với việc Hemingway "đánh giá quá cao lòng dũng cảm thể chất” (hay gọi là “gan”) trước khi thừa nhận "bản thân mình không [gan] mấy". Tuy vậy thật ra ẩn sâu bên dưới vẻ ngoài khoa trương của Hemingway là nỗi đau được che đậy vụng về. Tác phẩm của ông đầy rẫy sự căng thẳng xoay quanh mối quan hệ đầy sức sống nhưng thường mang tính tự hủy hoại giữa đàn ông Mĩ và chủ nghĩa quân phiệt. Và không nơi nào mà sự tương tác này rõ ràng hơn trong Mặt trời vẫn mọc, kể về một cựu chiến binh đánh mất khả năng sinh lí.
Mặc dù có những khác biệt giữa hai nhà văn, nhưng Salinger đã rời khỏi khách sạn Ritz và được tiếp thêm sức sống để viết. Ông cũng ngạc nhiên và phần nào được an ủi bởi thái độ ôn hòa của Hemingway ngoài đời. Hemingway rõ ràng đã nhìn thấy sự thật trong quan điểm chủ đạo của Salinger, rằng trong số nhiều thứ mà chiến tranh phá hủy có những phần quan trọng của bản thân, như sự ngây thơ thời thơ ấu, sự bình yên nội tâm và lòng lạc quan hướng về tương lai. Điều đó cũng được thể hiện bằng cách mặc dù Hemingway chưa bao giờ bình luận công khai về Bắt trẻ đồng xanh, nhưng ông vẫn luôn cất giữ một bản sách cũ đọc đến nát tươm trong căn nhà yêu quý của mình ở Havana. Cho đến sau cuối dù có cách thể hiện khác nhau, nhưng họ dường như có cùng cảm giác về điều đã qua, và còn trường tồn cho đến ngày nay.
NGÔ THUẬN PHÁT dịch từ Lit Hub
VNQD