.CHUNG TIẾN LỰC
Tháng 2/1984, tôi đang nghỉ phép ở nhà. Ngày ấy mỗi lần đi phép, chuyện trả phép chậm vài ba chục ngày là bình thường vì từ Bắc vào Nam phải đăng kí chờ lấy vé tàu. Từ thành phố Hồ Chí Minh sang Campuchia cũng phải đăng kí chờ xe của Cục vận tải. Tôi nghĩ chắc thủ trưởng lo ngại tôi chậm phép nên điện nhắc tôi chủ động vào sớm. Thời gian này đang là mùa khô, bọn tàn quân Pol Pot tăng cường đánh phá các khu vực biên giới phía Tây Campuchia. Tá túc bên đất Thái Lan, chúng mò sang cướp phá, quấy rối và rải mìn lá, một loại mìn rất nhạy nổ, khi nổ chỉ phá nát hai cẳng chân, gây thương vong cho người dân.
Đăng kí lấy vé tàu Thống Nhất, tôi trở lại đơn vị là đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam 478 ở Phnom Penh. Nơi làm việc của chúng tôi là Trường Kĩ thuật Quân sự Phnom Penh. Vừa vào đến nơi thì nhận ngay nhiệm vụ đưa học viên của trường đi thực tập cuối khóa tại Sisophon. Đoàn đi do tôi phụ trách là một đoàn tổng hợp có 33 học viên thuộc Quân đội nhân dân Campuchia, học các chuyên ngành về Kĩ thuật vũ khí - đạn, Kĩ thuật ô tô - xe máy và Kĩ thuật Tăng - Thiết giáp. Đoàn được trang bị một xe Gát 66 chở quân, 3 trung liên RPD và 25 khẩu tiểu liên AK cùng 2 cơ số đạn chiến đấu. Giúp việc cho tôi gồm ba cán bộ là học viên kiêm chức người Campuchia, anh Chan Đa phiên dịch tiếng Khmer. Thực phẩm mang theo gồm gạo, cá lóc khô, muối và bột ngọt cùng dụng cụ nấu ăn. Trước ngày lên đường, những chuyên gia quân sự Việt Nam được Đoàn 478 phổ biến tình hình địch trên toàn tuyến biên giới Campuchia với Thái Lan. Trong các buổi giao ban trước đây, tôi đã nghe nói nhiều lối đánh du kích của tàn quân Pol Pot dai dẳng, tàn ác như thời mông muội. Phần lớn chúng là trẻ con từ mười bốn đến mười bảy tuổi, thấp bé, mặc quần áo màu đen, tóc rễ tre đỏ hoe, da đen đúa như những bóng ma, lủi nhanh như quỷ và dã man nhất thế giới. Chúng được nhồi sọ tư tưởng chống Việt Nam và nhà nước Campuchia mới. Tháng trước, thầy và trò Trường Kĩ thuật Thông tin Campuchia và Trường Chính trị đi thực tập đã có thương vong. Lúc này vợ tôi đang mang thai đứa con đầu. Chuẩn bị cho chuyến đi, đầu óc tôi cứ bị ám ảnh bởi ý nghĩ liệu có được biết con mình là trai hay gái…
Xuất phát từ 5h sáng trên quốc lộ số 5, xe bon bon chạy qua những cánh đồng bằng phẳng rộng mênh mông nhưng toàn cây cỏ dại mọc lúp xúp. Người dân Campuchia có phong tục hỏa thiêu khi chết, tro cốt được gửi vào chùa, đồng ruộng bao la không hề có gò đống mồ mả. Đi hàng trăm cây số không gặp một nghĩa địa nào. Tất cả đều hiện diện trên một mặt phẳng, trên là trời mây mênh mang, dưới trải thảm xanh hoang vu bất tận. Tôi thoáng nghĩ người lái máy bay có thể hạ thấp, bay là là sát mặt ruộng mà không sợ vướng chướng ngại vật nào. Lác đác có những phum sok (làng mạc) giống nhau, đều có cây thốt lốt, rồi cây so đũa, dừa, xoài... và những mái chùa Khmer hoang tàn, đổ nát chưa kịp dựng lại.
Battambang, Pursat, Sisophon… những địa danh đang nóng bỏng như úp chảo, nắng lửa từ trên trời hắt xuống và lửa tóe từ nòng súng quấy phá, man rợ của tàn quân Pol Pot. Cách xa thủ đô Phnom Penh 200km có những phum sok nhỏ trên đường, được rào dậu xung quanh bằng cây tre ken dày ngăn cản, che chắn sự quấy phá như cơm bữa của những bóng ma hắc ám; chỉ có hai cổng cho đường quốc lộ đi xuyên qua. Ban ngày hai cổng mở để bảo đảm giao thông. Ban đêm, từ 18h hai cổng sẽ được đóng lại, đường đi trở thành con đường chết. Trên đường đi, chúng tôi gặp nhiều xe ô tô bị cháy trơ khung sườn, lốp cháy đen chỉ còn tàn tro, vẫn còn âm ỉ khói, chứng tỏ vừa bị bắn mới đây. Bộ đội địa phương đi tuần tra cho biết tàn quân Pol Pot thường phục kích, xe ô tô đi qua là bắn B40 rồi lủi nhanh vào rừng. Trên sàn xe, tôi giao nhiệm vụ cho từng học viên căng mắt cảnh giới từ xa, đạn lên nòng, sẵn sàng bắn tiêu diệt.
Còn cách Battambang chừng 20km thì xe bị bó phanh, tang trống nóng đỏ, lốp cháy khét lẹt. Tôi cho dừng xe, chỉ định bốn tổ chiến đấu vận động chiếm lĩnh các vị trí địa hình có lợi thế để canh phòng. Giao cho năm học viên học chuyên ngành kĩ thuật ô tô kiểm tra khắc phục hư hỏng và thay lốp dự phòng. Khi tháo bánh xe ra ổ bi của trục bánh xe bị khô dầu phát sinh lực ma sát lớn là tác nhân gây nhiệt. Nếu dừng ở đây lâu sẽ rất nguy hiểm, tôi cử người vào nhà dân mua dầu ăn làm dầu bôi trơn (dặn kĩ nếu không có dầu ăn thì mua mỡ lợn) khắc phục tạm, rồi cố chạy về Battambang.
Khi xe lết về đến tỉnh đội Battambang thì đã gần 20h. Anh em bộ đội Việt Nam đang ở đó nhìn chúng tôi, nói điên liều sao lại chạy xe giờ cao điểm địch hay phục kích. Họ đâu biết chúng tôi vừa trải qua một thử thách chết người. Ở Battambang tôi cho đoàn nghỉ lại một ngày để chăm lo kĩ thuật xe thật chu đáo rồi mới lên đường.
Đến Sisophon, đập vào ngay mắt tôi, trong khoảng sân rộng ban chỉ huy trung đoàn là một đống mìn chống tăng thu được của địch to như những đống gạch ở những công trình xây dựng đủ hiểu địch chống phá ở mức độ nào. Tôi cảnh báo về sự nổ lây của thuốc nổ TNT nhồi trong mìn chống tăng để chỉ huy trung đoàn cho di chuyển ngay chỗ mìn đó đi chỗ khác. Ban chỉ huy trung đoàn nằm trong rừng khộp gồm những lều nửa nổi nửa chìm để tránh đạn bắn thẳng của tàn quân Pol Pot. Tôi thấy mình gặp may khi biết có đoàn cán bộ Việt Nam gồm sĩ quan tác chiến, chính trị, hậu cần đang làm nhiệm vụ ở đây giúp bạn làm công tác huấn luyện.
Phải nói rằng, ở đây, ăn uống rất kham khổ, chủ yếu chỉ cơm với cá khô và rau rừng. Cá lóc được đánh bắt ở Biển Hồ, phơi khô, nuôi quân chặt khúc nhỏ cho vào nước và muối nấu sôi, mùi tanh mặn mòi. Mâm cơm của chúng tôi chỉ một xoong đựng cơm, một chiếc nữa đựng canh và một đĩa đựng thức ăn. Một chiếc muôi nhôm để thay nhau húp nước canh. Mười quân tướng ngón tay thò vào xoong bốc cơm và thức ăn đưa lên miệng ăn ngon lành. Các cấp chỉ huy cũng đều một kiểu ăn bốc truyền thống rất hồn nhiên. Tôi nộp tiêu chuẩn lương gạo mang theo để nhờ ăn tại bếp ăn của bộ đội Việt Nam…
Còn về ở, nhất là ban đêm không ai ngủ trong lều nửa nổi nửa chìm đề phòng bị bắn B40, chúng tôi có mắc màn nhưng là để nghi binh rồi luồn ra rừng mắc võng. Xung quanh vị trí ngủ gài mìn định hướng điểm hỏa bằng dây điện (pin). Trên người ai cũng có từ hai đến ba khẩu súng ngắn K54 lắp đầy đạn (có một viên đút túi áo dành cho mình nếu bị sa vào tay bọn quỷ đội lốt người). Người thức cảnh giới cho người ngủ, luân phiên nhau.
Thêm một điều nữa, chỗ chúng tôi cách không xa “cánh đồng chết”. Đấy là một đầm lầy, thuộc hạ lưu một con sông nhỏ, mọc đầy rau muống hoang. Những mảnh vải đen là quần áo còn vương rải rác trên những cành cây ngập nước. Một chiếc lều lợp bằng lá cây thốt nốt bên trong xếp thàng từng đống vuông vắn những khối xương người trắng ởn, chắc mới được khai quật lên từ hố chôn người tập thể. Nhiều xương ống tay và chân còn bám nguyên sợi dây thép gai là dây trói đã han rỉ. Không cần khám nghiệm cũng biết họ đều cùng một kiểu chết đó là bị một vật cứng đập mạnh vào sau gáy. Trên những hộp xương sọ có lỗ thủng hay vỡ mảng có thể là dấu vết của cuốc xẻng đập đầu từ phía sau. Mùi tử khí nồng, tanh tưởi. Trong đầm lầy rất nhiều cua, ốc và lươn. Những con ốc bươu to bằng chiếc bát sắt tráng men nhìn đến khiếp. Không ai dám ăn cua cá ốc trong “cánh đồng chết” vì nghĩ chúng ăn thịt người nên con nào con nấy to đến quái dị. Không thể tưởng tượng động cơ gì, máu lạnh cỡ nào… mà chúng lại giết chóc đồng loại không ghê tay…
*
* *
Những ngày sau, tôi khẩn trương lập kế hoạch cho các nhóm học viên theo chuyên ngành đào tạo đi bảo đảm kĩ thuật cho các đại đội trong toàn trung đoàn. Kiểm tra sửa chữa, hiệu chỉnh sai số, phân cấp chất lượng… vũ khí, đạn dược, ô tô - xe máy. Qua kiểm tra hầu hết vũ khí của đơn vị có từ nhiều nguồn, do trên cấp, do thu được của địch, có cả súng và đạn hệ hai nhưng đều đã bị xuống cấp do sử dụng và bảo quản kém. Trong nòng súng bị rỗ mòn giảm độ chính xác của phát bắn, hộp tiếp đạn bẹp móp, cần lẫy bị cong vênh do va đập nên khi bắn hay bị kẹt, hóc tắc… Việc kiểm tra, hiệu chỉnh, sửa chữa được làm luân phiên để các chốt phòng ngự, các mũi truy kích, phục kích của các đại đội không bị ảnh hưởng về kế hoạch tác chiến.
Xe máy của trung đoàn có số lượng ít, có hai chiếc xe chở quân Gat 66 mới được trang bị, còn lại là xe vận tải GMC và xe chỉ huy Jeep thu được của địch đều được học viên kiểm tra kĩ thuật, sửa chữa dự phòng bảo đảm công tác chỉ huy và vận tải trong đơn vị. Tôi đề xuất với chỉ huy trung đoàn, tổ chức một lớp ngắn ngày bồi dưỡng kĩ thuật sửa chữa xe cho thợ và bồi dưỡng tay lái cho đội ngũ lái xe.
Cùng với việc sửa chữa và hiệu chỉnh chúng tôi đề xuất thủ trưởng đơn vị duy trì thực hiện nghiêm ba mươi phút mỗi ngày, một buổi mỗi tuần gọi là giờ và ngày công tác kĩ thuật để lau chùi, bảo quản vũ khí đạn dược và xe máy quân sự. Tôi cùng phụ trách trưởng ban kĩ thuật của trung đoàn hoàn thiện lại hệ thống sổ sách quản lí, bổ sung các kế hoạch bảo đảm kĩ thuật cho chiến đấu, kế hoạch sửa chữa thường xuyên và bảo đảm vật chất cho công tác kĩ thuật. Tổ chức các buổi hướng dẫn phương pháp bảo quản vũ khí trang bị kĩ thuật. Quy định bắt buộc thông nòng súng hàng ngày để tẩy khói thuốc và cát bụi… Quy định về định kì bổ sung, bơm dầu mỡ các ổ trục xe máy, nạp điện và bổ sung nước cho ắc quy... Đưa giáo dục tinh thần yêu quý giữ gìn và quản lí vũ khí trang bị kĩ thuật trong các buổi học tập chính trị.
Phụ trách trưởng ban kĩ thuật, một cán bộ vừa tốt nghiệp Trường Sĩ quan Vinhempic nói tiếng Việt khá sõi là trợ thủ đắc lực của tôi trong việc củng cố lại công tác kĩ thuật của trung đoàn. Đồng thời, tranh thủ vào các ngày chủ nhật, tôi thường cắt tóc cho anh em bộ đội Campuchia. Hầu hết các em không biết chữ, không biết một câu hát dân ca mặc dù tôi biết đất nước Chùa Tháp có nhiều làn điệu dân ca rất hay. Chợt nghĩ, trên thế giới rộng lớn này có lẽ duy nhất chế độ Pol Pot cho cuốc sân vận động lên để trồng khoai lang và với một câu kinh dị trong nghị quyết trung ương: “…Thể thao của chúng ta là cuốc đất”. Cuộc sống trước đây của các em là cuốc đất tập thể, ăn tập thể, ngủ tập thể, cưới vợ tập thể do Angkar xếp đặt, ngoài ra không biết gì nữa. Không bố mẹ, không người thân. Nhất nhất mọi việc đã có Angkar chỉ bảo. Tôi bùi ngùi khi biết các em đều có bố mẹ, anh chị bị đày ải trong lao động, đói khát trong cuộc sống và bị đánh đến chết trong công xã.
*
* *
Tồng kết lại, suốt ba tháng trời đầy ải nắng gió nơi chảo lửa, ăn uống kham khổ, làm việc vất vả… tôi bị sút năm cân, nhìn gầy khẳng đen đúa như quỷ đói. Cũng may, trong rừng khộp có rất nhiều tắc kè hoa béo mẫm. Chúng tôi dùng cần câu dài để câu vì cùng với tắc kè còn có cả rắn lục cực độc. Và tắc kè hoa câu về không cần nấu nướng cầu kì, chỉ cần sơ chế, tẩm ướp muối cùng ớt bột nướng trên than hoa đã đủ thơm ngon rồi. Cây cối trong các phum sok bỏ hoang sau bao năm dần ra hoa kết trái lại. Người dân kể, những năm bị dồn đuổi khỏi phum sok để vào ở tập thể trong các công xã, cây cối tuyệt nhiên “câm bặt”. Chỉ khi có người về cây mới đơm hoa kết trái. Dường như cây cối cũng cảm nhận được hơi thở sự sống hồi sinh nơi con người.
Chia tay chảo lửa Sisophon, thầy trò chúng tôi lên đường trở về thủ đô Phnom Penh. Ai mặt mũi cũng hốc hác vì đói ăn và đói ngủ, nhưng sâu thẳm ánh mắt lại ánh lên niềm vui mừng, vì cả đoàn không “sứt mẻ” gì ở nơi căng như dây đàn giữa sự sống và cái chết... .
C.T.L
VNQD