Hiểu văn hóa Pháp để chống lại thực dân Pháp xâm lược – bài học lớn của Bác Hồ cho đối ngoại hôm nay

Thứ Sáu, 31/03/2023 07:00

. CAO HẢI THANH

 

Với quan niệm tất cả vì mục đích “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi” nên khi còn hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt là trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất có ý thức tiếp thu văn hóa nước ngoài, để rồi coi đấy là thứ vũ khí đấu tranh để phục vụ cho mục đích cao cả của mình. Ở ngày hôm nay khi mà xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, toàn diện, đứng trên quan điểm tiếp biến văn hóa chúng ta càng nhận thấy rõ hơn tư tưởng này của Hồ Chí Minh là đi trước thời đại. Việc làm chủ ngôn ngữ, am hiểu văn học Pháp như một phương tiện hiệu quả đã góp phần giúp Người sáng tạo những kiệt tác văn chương viết bằng tiếng Pháp, đồng thời có được sự thành công vẻ vang trong công tác hoạt động cách mạng.

Cùng một thái độ tôn trọng các sắc thái văn hóa, qua ví dụ sau, khi Người khi sang thăm Pháp năm 1946: “Tướng Tetit còn mời Bác đi coi các vũ nữ nhảy điệu Cancan ở Pôli Bécgierơ, một rạp tạp kỹ lừng danh, được cả thế giới biết đến. Nhìn các vũ nữ đẹp, khá hở hang, nhảy múa uyển chuyển, Bác cười vui, chứ không chê bai, kể cả khi đã về tới nhà. Rất dân tộc, Bác biết cái đẹp của dân tộc khác, không bao giờ lấy mình ra làm thước đo”[1].

Hồ Chí Minh tiếp thu văn học Pháp ở ba phương diện: văn học dân gian, văn học hiện đại và các biểu trưng, khái niệm văn hóa.

Báo L’Humanite’ ngày 30 và 31-5-1922 đăng tiểu phẩm Pari mang một phong cách lạ. Bằng lối kể trữ tình, thân mật hoá, người gửi thư kể cho cô em họ biết về một Pari bên cạnh cái vẻ sang trọng là những cảnh nghèo hèn thảm hại. Đặc tả những ống khói – một đặc trưng của Pari thời ấy, tác giả có một so sánh thú vị: “Lôi thôi và gầy guộc như ngón tay khoằm khoằm của con mụ phù thuỷ già”[2]. Trong truyện cổ dân gian Pháp hay xuất hiện hình tượng con mụ phù thuỷ già “lôi thôi và gầy guộc”. Coi những ống khói xấu xí như những “ngón tay” của “mụ phù thuỷ già” đã làm bật ra một liên tưởng ở người đọc: cả vùng ấy cũng giống như “mụ phù thủy già” vậy, xấu xí và khó tính.

Say mê tìm hiểu, học tập ngôn ngữ văn hoá, ngoài văn học viết, Hồ Chí Minh có một vốn liếng lớn về lời ăn tiếng nói của người Pháp. Sự hiểu biết ấy đóng vai trò rất quan trọng cho cả cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại của Người. Ví như để diễn tả sự thắng lợi của Đảng Cộng sản Pháp trước sự “la ó” của báo chí phản động Pháp và Mỹ, Người dùng một tục ngữ Pháp thật đích đáng: “Chó sủa mặc chó, xe cứ tiến lên”. Năm 1929 từ châu Âu về nước Xiêm, một hôm trên đường đi công tác Bác kể một ngụ ngôn Pháp Trẻ con không nên nghe trộm. Chuyện rằng: “Có hai em bé vào chơi trong rừng. Mải mê nghe chim kêu, xem bướm lượn cùng những thú rừng kỳ lạ khác, trời sập tối lúc nào không hay. Hai em đang lo lắng thì gặp một ông cụ tiều phu. Cụ đưa hai em về nhà cho ăn và ngủ. Đến đêm, cụ ông bàn với cụ bà làm thịt gà để ngày mai thết hai em bé. Cụ ông nói: “Thịt con lớn hay con bé?”. Cụ bà bảo: “Nói khẽ chứ! Nói to, chúng nghe, chúng chạy mất…”. Lúc này hai em vẫn còn thức, nghe thấy thế, đinh ninh là các cụ bàn cách thịt mình, nên lo sốt vó…”[3]. Tưởng chỉ là câu chuyện vui nhưng đấy lại là một bài học chính trị về nhận định con người để gây dựng cơ sở cách mạng, mà như lời bình luận của Bác, có những người “có thái độ bề ngoài tuy thô lỗ như cục sắt nhưng bên trong lại là một tấm lòng vàng”. Những câu chuyện như vậy sinh động và thuyết phục hơn nhiều những bài học lý thuyết chay về mối quan hệ giữa hiện tượng và bản chất, giữa hình thức và nội dung… trong việc nhận xét cá nhân, xây dựng tổ chức cách mạng.

Hồ Chí Minh đặc biệt ưa thích ngụ ngôn của La Phông ten (La Fontaine), nhà ngụ ngôn Pháp nổi tiếng thế giới với những câu chuyện đậm tính chất giáo dục, triết lý đã trở thành cổ điển cho mọi dân tộc trên thế giới. Tác giả lấy ngụ ngôn La Phôngten để mỉa mai “những con chuột An Nam” đớn hèn: “Khi tôi đọc đến phần này, tôi liên tưởng ngay đến bài thơ ngụ ngôn của La Phôngten: Hội đồng chuột. Thơ ngụ ngôn ấy đại thể kể như sau: Trong một nhà kia có một chú mèo cật lực săn diệt chuột không thương tiếc. Chuột ra quyết định sẽ treo chuông lên cổ mèo để khi bị mèo săn bắt, nghe tiếng chuông, chuột biết mà kịp chạy trốn. Nhưng không có chuột nào dám tình nguyện treo chuông lên cổ mèo cả.

Phải, không một con chuột nào của La Phôngten nói trong thơ ngụ ngôn dám buộc chuông lên cổ mèo; tuy vậy, chúng đều căm ghét kẻ thù của chúng và đồng tình sẽ treo cổ nó lên. Những con chuột ấy thật là hơn hẳn “những con chuột An Nam” không biết căm thù “những con mèo Pháp” vì những con chuột này không biết đoàn kết lại để bàn việc tiêu diệt những con mèo kia, chúng sợ rằng trong hàng ngũ chuột của chúng sẽ có con đi báo với “mèo” Tây. Con Rồng mà chẳng bằng nòi chuột, đã xấu hổ nhỉ?”[4].

Lấy truyện ngụ ngôn như là một thứ vũ khí cách mạng, Nguyễn Ái Quốc phê phán, tố cáo kẻ thù, vạch trần thủ đoạn, âm mưu, phản bác luận điệu: “Lại cũng phải nhận rằng các nhà đi khai hoá của chúng ta đã không từ một sự cố gắng nào để cắm cho mấy con chim sẻ bản xứ - rất dễ bảo và rất ngoan ngoãn - vài cái lông công làm cho chúng trở thành những con vẹt hay những con chó giữ nhà. Và nếu nhân dân châu Phi và châu Á mà đ­ược “hoà bình” và “thịnh v­ượng” đến nh­ư thế này, thì chính những “vị đi gieo rắc dân chủ” không biết mỏi mệt đó là con nhặng đánh xe chứ còn ai vào đó nữa?”[5]. Con nhặng đánh xe (la mouche du coche), tức câu chuyện con nhặng trong ngụ ngôn La Phôngten tự khoe mình có công đẩy chiếc xe nặng v­ượt lên con dốc. Mượn câu chuyện này để mỉa mai những kẻ đi khai hoá thuộc địa cũng chẳng khác gì con nhặng ấy. Cái xe “dân chủ” châu Phi châu Á phải tự nhân dân ở đó kéo lên dốc chứ đâu cần (và cũng không thể là) những “con nhặng” các nhà khai hoá!

“Hãy nói đến vụ âm mưu gần đây nhất. Trong khi ở mẫu quốc có một vụ âm mưu bônsêvích nổi tiếng thì ở Đông Dương các ngài thực dân cũng muốn có một vụ âm mưu tương tự và... cuối cùng các ngài ấy cũng nặn ra một vụ âm mưu thật sự, chẳng khác nào như trong câu chuyện ngụ ngôn con nhái muốn phình to bụng như con bò”[6]. Một ngụ ngôn của La Phôngten: con nhái nhìn thấy con bò to hơn mình liền cố sức phình bụng để cũng to bằng con bò, rốt cuộc nhái vỡ bụng mà chết. Tác giả chỉ so sánh “một vụ âm mưu” với câu chuyện ngụ ngôn nhưng người đọc sẽ hiểu ngay kết cục của nó: câu chuyện bịa đặt âm mưu “bônsêvích” nọ cũng như con nhái vỡ bụng kia, tức là vì không có sự thật, dựa vào ảo tưởng nên thất bại, lại để cho mọi người chê cười.

Khoảng năm 1906, 1907 Nguyễn Tất Thành đang học tiểu học tại Huế đã đọc, học văn học Pháp. Sau này, trong một hồi ký, nữ văn sỹ Xtécnơ nhớ lại: “Tôi được biết rằng, Người rất am hiểu văn học Pháp, và trong thời thanh niên đã từng đọc với tất cả niềm say mê tác phẩm của Huygô, Dôla, Anatôn Franxơ”[7]. Thời kỳ hoạt động ở Pháp Nguyễn Ái Quốc đã “có ý muốn là viết truyện ngắn”. Rồi “Dám viết thử, là vì có một hôm xem hai quyển truyện nhỏ, một quyển của Anatôn Phrăngxơ, một quyển nữa là của ông Tônxtôi. Xem thấy các ông ấy viết giản đơn lắm, dễ hiểu lắm”[8]. Quyển truyện ngắn của Anatôn Phrăngxơ mà Người nói ở đây, rất có thể có truyện Trên đá trắng. Trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, chính tác giả đã khẳng định: “Anatôn Phơrăngxơ (Anatole France) và Lêông Tônxtôi có thể nói là ng­ười đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn”.

Trên tạp chí Nhân đạo năm 1904 đăng truyện Trên đá trắng của tác giả Anatôn Franxơ, với bút pháp viễn tưởng tác giả miêu tả cuộc sống của nhân dân lao động trong Liên bang các dân tộc châu Âu khi đang ở đỉnh cao của chủ nghĩa cộng sản năm 2270. Truyện Con người biết mùi hun khói của Nguyễn Ái Quốc có lẽ chịu ảnh hưởng từ Trên đá trắng khi miêu tả một viễn cảnh vào năm 1998 nhân dân kỷ niệm 50 năm cách mạng thành công của một nước Cộng hoà liên bang ở châu Phi. Soi lại tiểu sử của nhà văn Pháp nổi tiếng này càng thấy Nguyễn Ái Quốc chịu ảnh hưởng là rất có lý. Anatôn Phrăngxơ (1844-1924) được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1896, giải thưởng Nôben về văn học năm 1921. Chính năm 1921 này ông tham gia đảng Cộng sản Pháp. Tác phẩm của ông thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo, đặt ra những vấn đề xã hội chính trị sâu sắc với văn phong nhẹ nhàng trong sáng và giễu cợt thâm thuý.

Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến văn học đương đại Pháp. Tiểu phẩm phê bình văn học đầu tiên của Người in trên báo Le Paria, số 10, ngày 15-1-1923 có tên Những người bản xứ được ưa chuộng (Indigènes à la mode). Rất đúng với quan niệm văn học phục vụ chính trị, ở bài báo này tác giả dùng phê bình văn học vào mục đích mỉa mai chế giễu chính sách phản động của nhà cầm quyền thực dân và giễu luôn cả thứ văn học ăn theo chính trị phản động, xa thực tế, sáo rỗng. Đây là một đoạn Nguyễn Ái Quốc phê bình tiểu thuyết: “Ngay cả trong các trang tiểu thuyết đăng trên báo, người bản xứ cũng đã giành được địa vị của mình. Ông Angiabe - ấy xin lỗi, ông Anbe Giăng chứ - đã chẳng kể chuyện rằng ở Hội chợ Mácxây có một chàng An Nam kia làm nghề kéo xe đã lọt được vào mắt xanh của một bà đầm xinh đẹp nọ. Sau khi đi thăm hội chợ về, bà bèn cho gọi anh xe đến phòng ngủ lộng lẫy của bà. Và vân vân... Người yêu bị cắm sừng của bà bỗng nhiên tới. Bối rối, lẩn núp, v.v.. Nhưng cái chính của câu chuyện lại ở chỗ khác kia. Nguyên là chàng công tử kia đã đánh cắp được một viên ngọc bích bày ở gian thờ của Đông Dương và đến để khoe với người ngọc của mình. (Ôi! lương thiện vậy thay!). Người An Nam kia đứng nấp đằng sau trông thấy quả tang hành vi đầy tội lỗi ấy, liền nhảy ra đánh cho anh chàng ăn cắp ngã gục, rồi mang lễ vật quý đó về bàn thờ”[9].

Tác giả nhại một cốt truyện hư cấu của tiểu thuyết đăng báo qua cách tóm tắt, câu chuyện ấy có không gian: “Hội chợ Mácxây” và “phòng ngủ lộng lẫy”; có nhân vật: “một chàng An Nam kia làm nghề kéo xe”, “một bà đầm xinh đẹp”, “người yêu bị cắm sừng của bà”; có kịch tính cao trào, có cởi nút, có cả lời bình luận mỉa của người kể: “Ôi! lương thiện vậy thay!”. Một cốt truyện khó tin vì nó ngược đời: bà đầm xinh đẹp yêu một anh xe An Nam, anh xe An Nam đánh gục một kẻ cắp vốn “là chàng công tử”… Nhại lại câu chuyện ấy để châm biếm giễu cợt sâu cay sự giả dối của thực chất về cái gọi là “Hội chợ Mácxây” chẳng qua cũng là một sự “ngược đời”, chỉ là trò lừa bịp dư luận, đổi trắng thay đen, lộn sòng các giá trị…

Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc ngôn từ của giới quý tộc Pháp. Vào một buổi tối năm 1950 tại Việt Bắc, Bác mời Hội đồng Chính phủ họp để trao Huân chương cho Bác sỹ Tôn Thất Tùng, Người nói: “Chú Tùng là một Xidovan mà nay được Chính phủ ta tặng Huân chương. Chú phải cố gắng hơn nữa!”[10].

Cidovant - danh từ mà Cách mạng Pháp 1789 dành cho các nhà quý tộc. Chỉ một từ này mà có nhiều ẩn ý: Một là rất kính trọng tài năng, nhân cách của “Chú Tùng”; hai là “Chú Tùng” cũng đã từng là “một nhà quý tộc” Pháp, có công với nước Pháp, nay được Chính phủ ta tặng Huân chương, có nghĩa là Chính phủ rất biết trọng dụng nhân tài, dù người tài đó đã từng phục vụ nước Pháp, mà nay quân Pháp lại đang đánh ta. Và còn toát lên một ý khuyến khích, Bác sỹ Tôn Thất Tùng thật đúng như “một Xidovan”, một Xidovan của cách mạng Việt Nam.

Bài học cho đối ngoại hôm nay là gì? Thế giới hôm nay đang đi theo trào lưu thực dụng: không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn. Do vậy không hiểu đối tượng không thể chủ động trong đối thoại để hợp tác. Mà cách hiểu gần nhất, đúng bản chất đối tượng nhất chính là từ văn hóa và bằng văn hóa!

C.T.H


[1] Phạm Hoàng Điệp (biên soạn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp. Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.tr 159.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, tập 1, tr 88.

[3] Nhiều tác giả (1970) - Bác Hồ kính yêu – Nhà xuất bản Kim Đồng, tr 31.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd, tập 2, tr 177.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd, tập 1, tr 162.

[6] Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd, tập 1, tr 52.

[7] Báo Đại đoàn kết, ngày 12-5-1982

[8] Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd, tập 8, tr 211.

[9] Hồ Chí Minh toàn tập. Sđd, tập 1, tr 152.

[10] GS Trần Văn Giàu (2010) - Hồ Chí Minh vĩ đại một con người. Nxb Chính trị Quốc gia, tr 758.

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Nguyên mẫu trong hai truyện vừa đầu tay viết cho thiếu nhi của tôi

Nguyên mẫu trong hai truyện vừa đầu tay viết cho thiếu nhi của tôi

Khi viết cuốn Những tia nắng đầu tiên tôi đã hóa thân vào các em nhỏ học sinh lớp 6 của năm học 1969 - 1970 ở Hà Nội... (LÊ PHƯƠNG LIÊN)

Bà Minh của tôi

Bà Minh của tôi

Sống ở Hà Nội, trở thành một công dân có hộ khẩu đến nay đã hơn hai thập kỉ, nhưng chưa bao giờ tôi có cảm giác mình thuộc về Hà Nội... (ĐỖ BÍCH THÚY)

Đồng đội là nguyên mẫu trong các sáng tác của tôi

Đồng đội là nguyên mẫu trong các sáng tác của tôi

Có nhân vật chỉ là dáng dấp của nguyên mẫu, có nhân vật là nguyên mẫu đã sống và chiến đấu cùng tôi, suốt những năm tháng ở rừng... (VŨ NGỌC THƯ)

Hai nhân vật - một nguyên mẫu

Hai nhân vật - một nguyên mẫu

Mở cuốn “Nhật kí chiến trường” trong đó có những trang ghi chép về H, có cả địa chỉ gia đình H, tôi đã tìm đến địa chỉ ấy... (LÊ HOÀI NAM)