Người trai làng từ chiến trận trở về…

Thứ Sáu, 16/01/2026 16:57

HOÀNG THỊ KIM OANH
 

Trong dòng chảy của văn học hiện đại, hình tượng người lính sau chiến tranh luôn là một đề tài giàu sức hút. Không chỉ phản ánh hiện thực khốc liệt nơi chiến trường, các tác phẩm còn đi sâu khai thác những biến đổi tâm lí, số phận và sự hòa nhập của họ khi trở về với đời sống quê hương. Đối với tiểu thuyết viết về nông thôn đầu thế kỉ XXI, bên cạnh rất nhiều tác phẩm phản ánh kịp thời những biến chuyển trong đời sống hiện thực nông thôn và người nông dân đương đại, một số tác phẩm đã khắc họa hình tượng người lính về làng với tư cách là thành viên của làng xã. Họ mang trong mình nhiệt huyết được cống hiến, xây dựng làng quê giàu đẹp hơn.

Song có lẽ, “cuộc chiến” không có kẻ thù trong cuộc sống đời thường của cơm áo, gạo tiền cũng không dễ dàng so với cuộc chiến đối mặt với kẻ thù trước đây, thậm chí có phần khốc liệt hơn, khó khăn hơn. Trở về từ rừng xanh khói lửa một thời với cảm xúc hào hùng của những buổi hành quân “đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật) đã được thay thế bằng những chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở và cả những đau đớn, giằng xé của chính những người lính ngày ấy trước cuộc đời hôm nay. Trong bối cảnh nông thôn hậu chiến – nông thôn đang trở mình trong quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ – hình ảnh người trai làng trở về từ chiến trận càng mang tính biểu tượng, thể hiện sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa những giá trị truyền thống và sự biến chuyển của thời đại. Nó ở đâu đây, ngay trong trái tim, hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của người lính.

Người lính mang trong mình khát vọng đổi thay và bi kịch bị “trật khớp” với thực tại

Từ chiến trường trở về, “những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” (Chính Hữu) không chỉ mang theo kí ức về những năm tháng chiến đấu gian khổ mà còn ấp ủ mong muốn góp phần xây dựng cuộc sống mới. Họ không cam chịu trước cảnh nghèo đói, lạc hậu của làng quê mà tìm cách đóng góp cho sự phát triển của quê nhà. Đó là nghị lực, sức sống, bản lĩnh và phẩm chất người lính.

Trở về làng sau những năm tháng chiến tranh, Khuê (Dòng sông Mía – Đào Thắng) quyết tâm khôi phục nghề làm mía gia truyền và vực dậy thanh thế dòng họ Đoàn. Anh ngày đêm hì hụi phục dựng “ông bà hàng” để ép mía, khao khát được nghe lại tiếng bã mía rít lên đều đều ở khu lò sát bên sông của ông nội một thời. Dòng sông Châu đầy ắp phù sa cho những con người nơi đây vị ngọt của mía đường, vậy mà người dân làng Mía vẫn không sống nổi với nghề. Lịch sử chuyển mình nhưng đói nghèo vẫn bám riết vận mệnh người nông dân.

Gánh nặng trách nhiệm với người mẹ phát bệnh điên, với việc tìm kiếm người em cùng mẹ khác cha đi bộ đội hi sinh đã dẫn đến xung đột với vợ con khi anh chưa thể làm tròn trách nhiệm của người cha, người chồng. Anh rơi vào chuỗi bi kịch: nhà cháy, mẹ chết, vợ con coi thường. Cuối cùng, Khuê quyết rời khỏi làng Mía – mảnh đất anh gắn bó máu thịt – mang theo không ít tổn thương, mất mát. Cái gia tộc mười đời xưng hùng xưng bá ở làng Thanh Khê ấy cuối cùng đã “vỡ tung tóe”. Những ước mơ, hoài bão và khát vọng đổi thay đều đóng sập trước cánh cửa hiện thực quá nhiều bất an.

Sự “trật khớp” với những biến động khôn lường của thực tại khiến nghị lực, sức sống, bản lĩnh kiên cường của người lính – dù từng chiến thắng bom đạn, kẻ thù – cũng không thể chống cự. Mâu thuẫn giữa khát vọng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu và sự “trật khớp” với thực tại trở thành nỗi ám ảnh giày vò người trai làng từ chiến trận trở về cả thể xác lẫn tinh thần.

Võ Quang Hiền (Cọng rêu dưới đáy ao – Võ Văn Trực) là nhân vật phản chiếu đầy đủ nhất cho hình tượng người lính mang trong mình khát vọng thay đổi chính mình và làng quê. Hiền hiến cả tuổi thanh xuân cho Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Rời quân ngũ, về làng, anh chỉ mong “vui thú điền viên”, góp sức nhỏ bé để xây dựng gia đình và xóm làng no ấm, yên vui. Nhưng thực tế hoàn toàn khác xa mong đợi.

Những người từng không tham gia kháng chiến lại có địa vị trong chính quyền địa phương, các chính sách sai lầm, quan liêu khiến người dân tiếp tục nghèo đói. Hiền bị quy chụp là “ý thức trách nhiệm kém”, là “phần tử bất mãn”, mọi đề xuất đều bị gạt bỏ. Bị triệt đường sống này, anh nảy ra con đường khác. Anh như cọng rêu nhỏ bé oằn mình dưới lớp bùn đáy ao nhưng vẫn không ngừng vươn lên duy trì sự sống. Từ dạy học, mở hiệu thuốc bắc, may vá, cắt tóc, nung dao, sửa nhà, cho thuê âm-li…, nghề nào cũng bị tìm cách triệt hạ.

Hiền nhận ra cuộc chiến chống đói nghèo, lạc hậu còn gian nan hơn cả cuộc chiến giành độc lập. Anh rơi vào cô đơn, mất dần niềm tin và cuối cùng qua đời trong nghèo khó, bệnh tật. Bi kịch “bị trật khớp” với thực tại trở thành nỗi đau âm ỉ không thể hàn gắn.

Khai thác số phận cá nhân vênh lệch với đời sống cộng đồng không phải là chủ đề mới. Bi kịch của Nguyễn Vạn (Bến không chồng – Dương Hướng), Giang Minh Sài (Thời xa vắng – Lê Lựu) phần nào bắt nguồn từ nhận thức ấu trĩ của chính họ. Còn Khuê (Dòng sông Mía), Hiền (Cọng rêu dưới đáy ao) là những hình tượng mang bi kịch sâu sắc hơn – bi kịch của sự cam chịu và khát vọng bị dập tắt, của những người bị đẩy ra ngoài lề xã hội mà họ từng chiến đấu để bảo vệ.

Người lính với hành trình tìm kiếm giá trị và bi kịch bị tha hóa đến tự tha hóa

Trong tiểu thuyết nông thôn đầu thế kỉ XXI, người lính trở về làng không chỉ đối diện với mất mát mà còn bước vào hành trình tìm kiếm giá trị mới. Không phải ai cũng tìm được lối đi đúng. Nhiều người rơi vào bi kịch tha hóa, thậm chí tự tha hóa.

Thao, Lôi, Thỏa (Thần thánh và bươm bướm – Đỗ Minh Tuấn) là những cựu binh trở về với lòng trung thành, chính trực nhưng bị cuốn vào xã hội ngày càng thực dụng. Bi kịch của họ bắt nguồn từ nghèo đói và lạc hậu. Thao giằng xé giữa việc giữ gìn giá trị truyền thống và thích nghi với hiện đại. Anh luẩn quẩn trong hào quang quá khứ, “vô nghĩa, trống trải và ngao ngán” khi bị cả người ngoài lẫn con cái khinh thường.

Sự “lệch pha” giữa cá nhân và cộng đồng đẩy Thao vào bi kịch tự tha hóa, đỉnh điểm là vô tình giết người và phải trả giá bằng bảy năm tù. Những đồng đội khác cũng chịu hệ lụy hậu chiến: con của Lôi là quái thai, Vinh giả sư cướp tàu, Thỏa bắt bươm bướm với hi vọng đổi đời. Đứng trước đời thường, người lính phải đối mặt với nhiều lựa chọn khắc nghiệt hơn cả chiến tranh.

Sự xuất hiện của người lính trở về trong tiểu thuyết nông thôn đầu thế kỉ XXI không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đặt ra những vấn đề xã hội sâu sắc. Làm thế nào để họ không bị lãng quên, không bị đẩy ra bên lề? Làm thế nào để họ giữ vững phẩm chất, dung hòa giữa quá khứ và hiện tại? Đây không chỉ là câu chuyện của người lính mà còn là câu chuyện của cả dân tộc trong quá trình phát triển.

H.T.K.O

VNQD
Thống kê
Bài đọc nhiều nhất
Khi tác giả là nguyên mẫu

Khi tác giả là nguyên mẫu

Trong thời gian này tôi cùng trung đội ở trên chốt rất gần địch. Trận địa tôi chỉ cách khu nhà hòa hợp chừng 1 cây số... (NGUYỄN TRỌNG LUÂN)

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Những người tôi gặp, những chuyện tôi viết

Tôi từng hình dung viết văn là công việc của sự hư cấu, một hành trình phác dựng thế giới từ trí tưởng tượng, nơi nhà văn tự do tạo hình mọi thứ theo ý mình... (TRẦN THỊ TÚ NGỌC)

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Nguyên mẫu của tôi là những người đã phất cao cờ hồng tháng Tám năm 1945

Là người đi dọc biên giới phía Bắc, tôi có thế mạnh khi hình dung, mở ra không gian của giai đoạn lịch sử đó... (PHẠM VÂN ANH)

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Các nguyên mẫu trong "Trăng lên"

Cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời của mình. Cụ nguyên là một võ sư. Cuộc đời cụ có thể viết thành một thiên tiểu thuyết... (THẾ ĐỨC)