Vào ngày 30 tháng 4 năm 2024, Paul Auster, một trong những nhà văn đương đại lớn nhất nước Mĩ, nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ tác giả đã trút hơi thở cuối cùng. Đầu tiên là bi kịch kép xé nát gia đình rồi đến chẩn đoán căn bệnh hiểm nghèo, không chỉ Auster mà người vợ Siri Hustvedt cũng đã chịu đựng nhiều nỗi đau buồn. 2 năm sau cơn khủng hoảng, bà đã suy ngẫm về những gì đã qua.
*
Tôi vẫn còn sống, thế nhưng chồng tôi, Paul Auster, thì không còn nữa. Anh ấy qua đời vào ngày 30 tháng 4 năm 2024, lúc 6 giờ 58 phút chiều tại ngôi nhà ở Brooklyn này, nơi tôi đang lọ mọ viết những dòng này. Anh ấy được chẩn đoán mắc ung thư phổi vào tháng 1 năm 2023, nhưng trước đó, vào đầu tháng 11 năm 2022, anh đã chụp CT tại phòng cấp cứu của bệnh viện Mount Sinai West. Bác sĩ X quang phát hiện một khối u ở phổi phải và nghi ngờ đó có thể là ung thư.
Tất cả chúng ta rồi sẽ chết thôi, nhưng chỉ một số ít người biết rằng cuộc sống vốn dĩ vô thường. Dù vẫn thường nghĩ về việc sống mà không có Paul sẽ như thế nào, nhưng tôi cũng chỉ bắt đầu hình dung rõ hơn vào thời điểm đó. Tôi thường tưởng tượng mình đi quanh nhà chỉ một mình thôi. Tôi cũng mường tượng bản thân đau buồn ra sao. “Nếu bố con mất”, tôi nói với con gái Sophie của chúng tôi, “mỗi ngày với mẹ sẽ là địa ngục”.

Siri và Paul tại ngôi nhà của họ vào mùa xuân năm 2024.
Điều tôi không ngờ là sau cái chết của Paul, thời gian bỗng dưng trở nên hỗn loạn đến mức không thể nhận ra. Tôi nhớ rồi lại quên mất hôm nay là ngày thứ mấy. Có lúc tôi nhớ giờ là tháng Năm, nhưng rồi chỉ vài giây sau thì không biết nữa. Từng tiếng đồng hồ cứ thế trôi qua nhanh như tên bắn, thế nhưng nếu tính theo phút thì lại chậm chạp. Tôi muốn neo mình vào lịch cũng như đồng hồ - những dấu mốc thời gian đáng tin cậy, dù cho đó cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi, nhưng tôi không thể hiểu được nhịp điệu đều đặn của chúng. Tôi sợ nếu không kiểm tra liên tục ngày, tháng và giờ, bản thân sẽ mất phương hướng, vấp ngã trên cầu thang, ngã xuống đâu đó hoặc là trôi dạt đi mất.
Tôi cũng thường xuyên khó thở, tim đập quá nhanh, không phải liên tục mà là từng cơn. Các xương sườn của tôi đau nhức, đôi khi là rất dữ dội. Cổ và đầu tôi nóng bừng. Các dây thần kinh căng lên hết cỡ và có cảm giác như có dòng điện chạy dọc các chi.
Tôi thường nhờ thuốc để đi vào giấc.
Có đôi khi tôi cầm lấy một tờ giấy hay một vật gì đó để rồi lại thấy thu hút bởi một thứ khác. Tôi đặt vật đầu tiên xuống, để rồi vài giờ sau mới nhận thức được nó - một nạn nhân vô tri vô giác của hành động dang dở. Một chồng thư và thiệp chia buồn chưa mở vẫn còn nằm đó trên chiếc bàn đỏ trong phòng ăn của chúng tôi. Tôi không nỡ mở chúng ra. Không phải hôm nay. Tôi sẽ chờ thêm. Để ngày mai vậy!
Rồi khi ngày đó đến, tôi mở thư ra, nhưng không phải lúc nào cũng hiểu những gì bản thân đọc được. Những lời nhắn ngắn gọn, tử tế là hay nhất; nhưng cũng có những bức thư dài, viết tay, nhiều trang từ những người tôi không quen biết. Paul chắc hẳn có mối liên hệ nào đó với họ, nhưng chính xác là như thế nào thì tôi không phải lúc nào cũng hiểu thấu được.

Siri Hustvedt và phòng làm việc của Paul Auster.
Vào những ngày ngay sau lễ tang nhỏ của Paul tại nghĩa trang Green-Wood vào ngày 3 tháng 5 vào hai năm trước, tôi bỗng cảm thấy một nỗi thôi thúc là phải sắp xếp, vứt bỏ và cọ rửa mọi thứ. Khi buồn phiền hay lo lắng, tôi thường dọn dẹp. Tôi sắp xếp thế giới nhỏ bé của mình thật ngăn nắp. Tôi kiểm soát được phần nào bằng cách loại bỏ bụi bẩn, xơ vải và những thứ nhỏ bé vô dụng. Tôi không muốn trở thành góa phụ để quần áo của chồng trong tủ hàng tháng, thậm chí là hàng năm trời. Người chết thì không còn cần áo sơ mi, chìa khóa hay kem cạo râu! Họ cũng không còn cơ hội để ốm, vì vậy thuốc thang cũng không cần giữ.
Nhiều năm về trước và cho đến nay, tôi vẫn kinh ngạc trước sự quyết tâm mà Paul dành ra cho việc nghiên cứu. Anh ấy thường dùng phần lớn thời gian trong ngày, từ sáng đến chiều, để viết trong một căn phòng nhỏ phía sau ngôi nhà, gần chỗ khu vườn. Tôi đoán rằng trên bàn làm việc của Paul có ít nhất 150 cây bút. Anh ấy cũng có đủ ruy băng máy đánh chữ cho chiếc Olympia vận hành bằng tay, số lượng đủ cho rất nhiều kiếp sống! Anh ấy cũng có một số cục tẩy đã dùng mòn vẹt và 35 cuốn sổ Clairefontaine, loại có giấy kẻ ô bên trong. Trước khi đánh máy các bản thảo trên chiếc máy cơ, anh ấy thường viết tay tất cả các cuốn sách trong những cuốn sổ đó.
Lúc sinh thời, chúng tôi không hề động đến không gian làm việc của nhau. Chúng là những nơi thiêng liêng. Anh ấy chưa bao giờ chạm vào bàn làm việc của tôi, và tôi cũng chưa bao giờ chạm vào bàn của anh ấy. Tôi không hề biết anh ấy sở hữu nhiều bút, ruy băng và sổ tay đến vậy. Anh ấy luôn có ít nhất một, thường là hai hoặc ba cây bút, trong túi quần jean phía trước. Nếu xót xa là cảm xúc nằm giữa sự dịu dàng nhẹ nhàng và nỗi đau hằn sâu, thì đó chính là cảm giác của tôi khi nhìn thấy những chiếc bút ấy và phát hiện ra tất cả những dải ruy băng này. Bút vẫn được bán ở khắp mọi nơi, nhưng những dải ruy băng máy đánh chữ và giấy xóa Tipp-Ex thì không dễ tìm, vì vậy việc Paul chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng mà chúng biến mất, không chỉ ở riêng New York mà còn trên toàn thế giới. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu.
Tôi thích âm thanh dồn dập của chiếc máy đánh chữ mà anh tạo ra mỗi khi gõ mạnh, lúc nhanh lúc chậm. Tôi nhớ anh vẫn thường nói: “Anh thích cảm giác ma sát của các phím chữ trên ngón tay mình”. Paul giữ nhịp cuộc sống cũng bằng cách đó. Trong thói quen viết lách, người thanh niên luôn luôn sống mãi trong cơ thể một người đàn ông bên kia dốc đời.
Chiếc máy đánh chữ vẫn nằm trên bàn làm việc của anh như xưa, một vật vô tri vô giác giờ đây đã mất đi vị trí trong nghi thức viết lách. Thói quen, nếp sinh hoạt, nghi lễ tạo nên ý nghĩa từ sự lặp lại, và những sự lặp lại đó có thể như một pháo đài chống lại lo lắng. Paul không bồn chồn hay cắn móng tay. Anh không bao giờ tỏ ra lo lắng để người khác thấy, nhưng cảm giác ấy đã nhuốm màu cuộc sống của anh. Đơn cử chúng tôi thường đến sân bay sớm đến hàng giờ, điều này là nguồn gốc của nhiều câu chuyện hài hước trong gia đình. Anh rất giữ gìn những món đồ vật mà bản thân coi như một phần cơ thể: bút, nhưng đó còn bao gồm cả chìa khóa nhà, cuốn sổ tay nhỏ mà tôi đặt mua hàng năm từ Charing Cross và cả ví tiền, cả ba thứ anh đều giữ trong túi trước bên phải. Đây giống như là “vật bất li thân”, không ai được phép động chạm vào chúng. Khi anh nằm viện và bị mê sảng, chìa khóa, sổ tay và ví tiền được cất trong một túi nhựa trong ngăn kéo cạnh giường, nhưng có đôi khi chúng không ở chỗ mà mình nên là. Khi tỉnh dậy trên chiếc giường xa lạ và không tìm thấy, anh sẽ gọi tôi hoặc là con rể để hỏi về chúng.
“Đối tượng của sự lo lắng chính là ‘hư vô’, thế nhưng hư vô không phải là một ‘đối tượng’,” Søren Kierkegaard đã viết như thế trong cuốn Khái niệm về sự lo lắng. Vị triết gia này nói rằng cảm giác đó giống như nhìn vào vực thẳm. Paul đã sử dụng từ đó để nói về cái chết nhiều lần trong những tháng cuối đời, chẳng hạn có lần anh nói: “Anh đã dành rất nhiều thời gian để nhìn vào vực thẳm.”
Lòng can đảm của Paul khi nhìn vào vực thẳm khiến tôi kinh ngạc.
Ngôi nhà bốn tầng ở Brooklyn, nơi tôi và Paul đã sống suốt 30 năm và là nơi con gái chúng tôi, Sophie, lớn lên, và cũng là nơi Daniel, con riêng của chồng tôi, sống khi không ở nhà mẹ cậu ấy, bỗng trở nên rộng lớn chỉ sau một đêm. Hai vợ chồng tôi đã sống trong không gian này một thời gian dài mà không có con, và ngôi nhà có cảm giác rộng rãi nhưng không quá lớn.
Khi mới sống chung vào năm 1981, chúng tôi đã thuê hai tầng trên cùng của một ngôi nhà ở số 18 Tompkins Place, khu Cobble Hill, Brooklyn. Lúc đó bọn tôi hầu như chẳng có gì ngoài sách. Chúng tôi cho đi những bản trùng lặp, mà số lượng đó thì là khá nhiều. Chúng tôi chọn ra những cuốn đẹp nhất để mà giữ lại. Tôi nhớ mình đã nghĩ thầm: “Điều này nghĩa là chúng ta phải ở bên nhau thật là lâu dài”.
Hiện tại Sophie sống trong nhà riêng của mình ở một khu phố khác tại Brooklyn, cùng chồng là Spencer và con trai nhỏ Miles, chào đời vào ngày đầu năm mới 2024. Sẽ hoàn toàn hợp lí nếu có thể dành một vài phòng trong ngôi nhà này cho chúng, nhưng tiếc là điều đó không thể.
Paul rất yêu thư viện ở tầng ba. Anh từng nói với tôi: “Anh muốn chết trong thư viện. Anh tưởng tượng sẽ đặt một chiếc giường bệnh ở đây” rất lâu trước khi điều đó trở thành sự thật và chúng tôi biết ung thư giờ đã di căn. Anh ấy biết mình muốn chết trong căn phòng tràn ngập ánh sáng đó, và quả thật, ánh sáng ngày càng trở nên quan trọng đối với anh ấy khi mà cái chết ngày càng cận kề.
NGÔ MINH dịch từ The Guardian
VNQD