. TRÌNH QUANG PHÚ
Trong những năm tháng dặm dài tìm đường cứu nước, Bác Hồ kính yêu đã có 30 mùa xuân, 30 lần đón tết ở xứ người. Điểm lại thì phần lớn là chuỗi ngày xuân cô đơn mà có lần Bác nói: những cái tết nhắc nhở, giục giã Bác mau trở về cứu nước.
Tết Nhâm Tý năm 1912, lần đầu tiên xa quê hương, Bác lênh đênh trên tàu vòng quanh châu Phi để rồi cuối năm dừng chân ở thành phố Boston của Hoa Kì. Tết thứ hai, Bác cô đơn một mình nhưng lại tìm thấy niềm vui khi đọc được bản Tuyên ngôn đầu tiên của nước Mĩ khẳng định: “Con người sinh ra có quyền được làm người, được tự do bình đẳng”. Năm 1945 trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam, Bác đã nhắc lại với đồng bào cả nước như một chân lí: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Những năm tháng vất vả ở nước Anh, Bác đã trải qua bao cái tết lặng lẽ và miệt mài bên các pho sách kinh điển của các tác giả nổi tiếng như: Shakespeare, Dickens, Johnathan, Swist... Thời gian tĩnh lặng thiêng liêng dành cho những trang đời về cuộc sống ở thế giới tư bản. Khi người châu Âu đón năm mới, Bác một mình lạc vào cánh đồng chữ nghĩa của Voltaire, Rousseau... mà Người đã gặp khi còn ở Huế; thấy được tư tưởng về khai hóa, giải phóng con người. Sau 1917, chiến tranh tạm lắng xuống, Bác trở lại Paris sau 6 cái tết cô đơn vất vả ở Hoa Kì và Anh quốc.
Từ tết Mậu Ngọ 1918, chẵn 6 cái tết Bác ở trên đất Pháp thì có 3 tết sống chung với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư Phan Văn Trường trong tình người Việt Nam xa quê. Tết đến vẫn có bánh tét, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, nhưng trong bầu trời ngạt thở của chủ nghĩa thực dân và hoàn cảnh bị mật thám đeo bám, phải sống bằng cái thật trong cái giả. Sáu mùa xuân này đã mang lại ý chí và niềm tin bất tận giúp Bác tạo nên nhiều dấu ấn vĩ đại sau này.
Năm 1919, tại căn nhà số 6 trong con đường nhỏ vắng vẻ Villa des Gobelins, Bác đã cặm cụi viết nên 8 điểm yêu sách của nhân dân Đông Dương với sự góp ý trí tuệ của cụ Phan Châu Trinh sau đó chuyển ngữ ra tiếng Pháp của luật sư Phan Văn Trường. Bản yêu sách được gửi đến lâu đài Versailles nổi tiếng của nước Pháp, nơi nguyên thủ các cường quốc đang đến họp, tạo nên quả bom chính trị nổ tung giữa thủ đô của chính quyền Pháp. Cũng tại căn nhà số 6 này, mùa xuân năm 1920, Bác đã có Tết Canh Thân vui vẻ với nhóm người yêu nước trong đó có hai vị cao niên là Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường cùng bao thanh niên đầy nhiệt huyết như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền...
Năm Canh Thân đã cho Bác hai niềm vui lớn. Người đọc được luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Bác đã đọc đi đọc lại mười hai điểm của Lenin và reo to một mình: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tối thứ bảy ấy, Bác cùng nhóm Ngũ Long yêu nước mở sâm panh để ăn mừng. Dù là tháng bảy và không có lễ lộc gì, Phan Văn Trường vẫn nói:
- Tôi thấy anh Nguyễn đã tìm đường chân lí mới, li rượu này xin chúc mừng.
Đó là một ngày còn vui hơn ngày tết, bởi từ đây, Bác bước sang ngã rẽ mới, chọn cho mình con đường đi theo Lenin.
Cuối năm 1920 Bác là một trong số những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; chính thức được ghi nhận là người Việt Nam đầu tiên trở thành đảng viên cộng sản ở xứ người.
Giữa năm 1923, Bác sang Liên Xô. Năm 1924, Tết Quý Hợi dù chỉ một mình là người Việt Nam ở xứ người, nhưng Bác thấy không cô đơn vì lần đầu tiên trong đời Bác được đón tết trong bầu trời Xô-viết độc lập tự do, được sống giữa những anh em đồng chí cộng sản quốc tế. Thời điểm đó đánh dấu 12 năm (từ Tân Hợi đến Quý Hợi), Bác đã tìm được con đường cứu nước. Biết phong tục của Á Đông, các bạn Liên Xô, các bạn Quốc tế Cộng sản đã có bữa cơm, rượu để chúc năm mới các đồng chí Việt Nam và Trung Quốc. Đây cũng là mùa xuân định hình con đường trở về đất nước để cứu nước của Người.
Những năm 1925 đến 1927, Bác ở Quảng Đông lãnh đạo nhóm Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Ba mùa xuân, Bác trực tiếp lãnh đạo, truyền dạy cho nhiều lớp cán bộ lãnh đạo của đất nước. Tại đây, tờ báo cách mạng đầu tiên của Đảng ta, Báo Thanh niên đã ra đời. Những người con ưu tú của đất nước như Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Cung, Lê Mạnh Trinh, Nguyễn Sĩ Sách, Phùng Chí Kiên, Phan Trọng Bình, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du… đã dự những lớp huấn luyện do Bác trực tiếp giảng dạy và cùng Bác đón tết. Mùa xuân Đinh Mão 1927 ấy là một cái tết ấm cúng với Bác, sau 16 năm ra đi tìm đường cứu nước. Bác đón Tết giữa những hạt giống đỏ của ba miền Trung, Nam, Bắc, trong khí thế cách mạng và đầy tình anh em đồng chí.
Chiều ba mươi, mọi người quây quần trong phòng học. Mấy tiết mục văn nghệ tự biên tự diễn, có làn điệu quan họ Bắc Ninh, chèo Thái Bình, chòi Nam Trung Bộ và cải lương Nam Bộ với những giọng ca mộc mạc, chan chứa tình yêu cách mạng. Kết thúc là tiết mục Táo quân do Hồ Tùng Mậu đóng vai Ngọc Hoàng. Những sớ lên án bọn thực dân Pháp và sự ngu xuẩn đến ngớ ngẩn của bọn tay sai. Lê Hồng Sơn pha trò làm mọi người cười đến chảy nước mắt. Bỗng “Ngọc Hoàng” Hồ Tùng Mậu nghiêm giọng:
- Chuyện này ta đã nghe đầy tai. Bây giờ, các táo cho ta biết các người sẽ làm sao để dẹp cái bọn thực dân và lũ bán nước ở xứ mình.
- Dạ, thưa Ngọc Hoàng, chúng con nhất trí đồng tâm đoàn kết đứng lên làm cách mạng ạ.
Ngọc Hoàng vuốt râu:
- Tốt, nhưng nhớ lời ông Lenin: Không có đảng cách mạng tiên phong lãnh đạo thì không có cách mạng thành công. Hiểu chưa?
Ngọc Hoàng quay qua mọi người:
- Các ngươi có nhất trí không?
Tất cả vui vẻ vỗ tay và hô to: Nhất trí ạ.
Bác đứng lên hỏi thêm mọi người:
- Có quyết tâm không?
- Quyết tâm ạ.
Và không ai bảo ai, cả hơn sáu mươi con người của ba miền đất nước đều đứng dậy nắm chặt bàn tay, giơ cao hô to:
- Quyết tâm! Quyết tâm! Quyết tâm!
Bác đưa cao tay ra dấu, mời mọi người ngồi xuống:
- Tốt, rất tốt. Tôi nhắc thêm lời mà “Ngọc Hoàng” chưa nói. Đó là Lenin dặn: Thua hay thắng là ở mưu lược, quyết sách và quyết định của người lãnh đạo, người đứng đầu. Bây giờ ta khai xuân. Đây là một ngày tết đặc biệt. Tôi chúc các chú sức lực khỏe, ý chí khỏe, trí tuệ khỏe để làm cách mạng. Tôi mong rằng, mỗi chú ở đây sẽ trở thành hạt nhân, người lãnh đạo cho đất nước và cho mỗi kì ở Việt Nam.
Bác vừa nói xong, Hồ Tùng Mậu vẫn trong trang phục Ngọc Hoàng giơ tay:
- Còn bây giờ Ngọc Hoàng ra lệnh thần dân! - Hồ Tùng Mậu dừng lại quay qua phía Bác - Chỉ miễn trừ đồng chí Vương, còn tất cả ra tay dọn kê bàn tiệc.
- Tôi cũng là thần dân! Thưa Ngọc Hoàng. - Bác cười vui nói. Mọi người vỗ tay thỏa thích.
Mỗi người một tay, phòng hội trường trở thành phòng ăn. Các món ăn ngày tết được dọn lên: cũng thịt mỡ dưa hành, cá chép hấp miến tàu, gà luộc, xôi ngũ sắc của Quảng Châu và thịt heo kho gọi là “khâu nhục”.
Phương Liên và Lý Phương Thuận khiêng lên một rổ bánh chưng. Phương Thuận nói lớn:
- Bánh chưng đây!
Giơ cao chiếc bánh, Phương Liên nói bằng tiếng Quảng Đông và Hồ Tùng Mậu dịch lại: Người Trung Quốc chỉ ăn bánh chưng trong Tết Đoan Ngọ và chiếc bánh bé chỉ vừa một người ăn. Biết các anh ngày tết phải có bánh chưng theo kiểu Việt Nam nên em đặt người Việt ở Quảng Châu nấu.
Bác cầm chiếc bánh giơ cao nói to trong xúc động dâng trào:
- Bây giờ chúng ta phá cỗ. Chúc mừng năm mới đại thành công!
*
* *
Mùa xuân năm 1930, Bác từ Nga qua Đức, Italia để về Thái Lan, rồi từ Thái Lan qua Hồng Kông. Tết Canh Ngọ đó Bác đã khai mạc hội nghị để thống nhất các tổ chức Đảng ở Việt Nam vào ngày mồng 5 tết (lịch Trung Quốc là mùng 6 tháng Giêng). Suốt cả tháng Giêng đó, giữa lúc người Hồng Kông nhộn nhịp lễ tết thì Bác chủ trì hội nghị để thành lập ra Đảng Cộng sản. Mãi đến ngày 7/2, hơn một tháng hội nghị mới kết thúc. Bác tổ chức bữa tiệc nhỏ ở một quán trên đường Tam Kung để mừng thành công của hội nghị. Trong lời khai tiệc, Bác nói: Hôm nay chúng ta ăn tết, đây là cái tết lịch sử. Dân tộc ta, nước ta từ nay đã có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mỗi chúng ta hãy nhớ mùa xuân đặc biệt này.
Sau đó là cái tết Bác phải ngồi trong nhà tù đế quốc và năm cái Tết ở Liên Xô để đợi chờ. Năm mùa xuân trôi qua, thời gian “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong Bác. Cho đến xuân Kỷ Mão 1939, Bác mới được phân công trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã đi xuyên Trung Quốc về tới Vân Nam và liên lạc được với Ban Hải ngoại của Quốc tế Cộng sản.
Mùa xuân Canh Thìn 1940, Bác trực tiếp chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Giữa những ngày người Trung Quốc nô nức đón tết thì Bác trong vai nhà buôn được sự hỗ trợ của các đồng chí bạn, đã đến tiệm dầu cù là Vĩnh An Đường, nơi bộ phận Hải ngoại của Đảng ta bố trí đồng chí Vũ Anh trực chờ đón. Đã 29 mùa xuân ra đi, chịu bao gian nan khổ cực cũng là 29 năm mong ước và đợi chờ, nay cơ đồ ở ngay trước mặt, Bác đã về gần biên giới, gặp Ban Hải ngoại của Đảng. Tại Côn Minh, bên Thúy Hồ lung linh, huyền ảo, Bác cùng Phùng Chí Kiên, Cao Hồng Lĩnh và chú cận vệ bé nhỏ Phùng Nghĩa (sau này là tướng Phùng Thế Tài) gặp lại Phạm Văn Đồng và lần đầu gặp Võ Nguyên Giáp từ trong nước cử ra gặp Bác. Bác nói: “Tết này, gặp các đồng chí tôi vui lắm”. Mùa xuân đó, tại thị trấn bé nhỏ của vùng rừng núi Côn Minh cao 1.500m, những nhà cách mạng quây quần bên Bác, tranh thủ chớp thời cơ để trở về Tổ quốc.
Tết Tân Tỵ 1941 có thể nói là cái tết vui nhất, đã kết thúc 30 năm ngàn dặm của Bác.
Tại Năm Quang của tỉnh Quảng Tây, sáng mùng 1, Bác cùng anh em đi chúc mừng năm mới theo phong tục của người Choang. Lương y Đặng Văn Cáp chuẩn bị những đồng bạc tròn bọc trong giấy đỏ để Bác mừng người cao tuổi và kẹo lì xì cho các cháu bé. Sau đó, ai ở nhà nào về chúc tết nhà ấy và dự bữa cơm đầu năm. Người Choang nổi tiếng với món cơm nếp ngũ sắc và các loại cơm nếp nấu với bí đỏ, cơm nếp nấu với khoai lang, các loại bánh để ăn với thịt heo quay. Họ còn có món cơm trắng ăn cùng với thịt kho truyền thống. Đồng bào dân tộc Choang rất hiếu khách. Theo phong tục ngày đầu năm càng tiếp được nhiều khách xa thì cả năm càng có nhiều lộc, nên họ chào đón anh em Việt Nam rất nhiệt tình. Đoàn phải đi chúc, ăn tết uống rượu đến chục nhà trong ngày đầu năm.
Cuối chiều, Bác cho hội ý, phân công các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và vài anh em nữa ở lại, trong đó có Phùng Nghĩa, người cận vệ trong suốt những tháng Bác ở Côn Minh. Sáng mùng 2 tết, trong trang phục người Nùng, quần áo màu chàm, khuy cài bằng vải, khoác áo lông chồn, Bác chào tạm biệt bà con Nặm Quang, cùng cả nhóm lên đường. Sáng sớm trời rét, sương mù còn phủ trắng. Đoàn có Bác và các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Hoàng Văn Lộc, lương y Đặng Văn Cáp, do anh Thế An vừa về Cao Bằng trở qua dẫn đường.
Đi được vài tiếng đồng hồ trong sương mù dày đặc như trong mây, cách một thước đã không nhìn thấy nhau, Bác cho cả đoàn dừng chân ăn sáng. Hoàng Văn Lộc giở mo cau đựng món cơm nếp ngũ sắc và gói thịt lợn quay của đồng bào tặng cả đoàn. Ăn xong, mọi người uống nước trong các ống bương lấy lộc đầu năm mang theo. Ai cũng thỏa thuê. Bác nói vui bằng tiếng Hán: “Lộ trung độ tuế”. Đặng Văn Cáp tiếp lời Bác: “Tết vẫn theo đoàn chúng ta”. Bác gật đầu và cười vui vẻ.
Lên dốc, lại lên dốc. Cả đoàn phải vượt qua sườn núi đá lởm chởm. Hàng lau ngả màu nâu, đứng thẳng rung rinh trước gió. Một cây si to sum suê hiện ra trước mặt. Thấy cây có bóng mát, mọi người định xin Bác dừng nghỉ chân, thì anh Lê Quảng Ba bước lên và reo to: “Cây mậy rẩy đây rồi, sắp đến rồi!”. Một cột mốc biên giới bằng đá hiện ra. Bác bước đến, xúc động đặt tay lên bia đá, cúi nhìn và reo lên: “Cột mốc 108”. Nói xong, Bác quỳ xuống đặt một tay xuống nền cỏ xanh trên đất, tay phải đặt lên cột mốc, im lặng mấy giây như muốn nói với giang sơn đất trời: Bác đã về đến Tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Phùng Chí Kiên thấy mắt Bác ngấn lệ cũng quay mặt lau nước mắt. Cả đoàn xúc động theo. Đã gần mười một ngàn ngày, 29 mùa xuân, Bác đã đi bằng cả chu vi địa cầu, để hôm nay, giữa ngày xuân của năm thứ ba mươi, Bác về với Tổ quốc thân yêu. Người đứng nhìn về phía Nam, núi non trùng điệp lòng lâng lâng vui sướng. Không xa lắm, mấy bụi mận rừng đang nở hoa trắng xóa, có cả hoa đào và một mùi thơm thoang thoảng theo gió đưa đến.
Trọn đúng 30 mùa xuân xa quê, mùng 2 Tết Tân Tỵ, Bác về đến Tổ quốc, về Pác Bó (tiếng Tày là “đầu nguồn”) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có thể nói vì vậy mà nơi này trở thành đầu nguồn của cách mạng Việt Nam. Sau đó, từ Pác Bó, Bác về Thái Nguyên, rồi qua Tân Trào khai sinh ra chính phủ lâm thời của nhà nước cách mạng.
T.Q.P
VNQD