Thập niên 1850 thường được gọi là thời kì Phục hưng của văn học Mĩ, thập kỉ mà những giọng văn mới mẻ, độc đáo nổi lên trong cả văn xuôi cũng như thơ ca. Những tác phẩm vĩ đại ở giai đoạn này vẫn còn vọng tiếng cho đến ngày nay, từ Chữ A màu đỏ (1850) của Nathaniel Hawthorne đến Moby-Dick (1851) của Herman Melville. Nhưng ít người biết hai nhà văn ấy từng có một mối thâm giao vô cùng đặc biệt.
Theo đó, khi mới bắt đầu văn nghiệp, 2 tập truyện ngắn đầu tiên của Hawthorne tuy nhận được những đánh giá tích cực từ phía phê bình thế nhưng doanh số bán ra lại khá… lẹt đẹt. Vào mùa hè năm 1849, tình hình càng trở nên tồi tệ khi ông bị sa thải khỏi Cục Hải quan Salem vào tháng Sáu cùng năm. Khi biết tin, ông đã viết rằng: “Tôi đã bị đuổi. Than khóc cũng vô ích thôi!”. Khi ấy, Sophia - vợ ông - đã tiết kiệm được một ít tiền nhưng không đủ để duy trì cuộc sống lâu dài. Trước tình thế ấy, một người bạn đã tổ chức quyên góp từ những độc giả yêu thích ông và gửi cho ông một tấm séc lớn. Sau đó Hawthorne viết thư cảm ơn và nói rằng tình cảm của mọi người và tấm séc “khiến tôi phải rơi nước mắt – điều mà những rắc rối gần đây chưa bao giờ làm được… Thật ngọt ngào khi được bạn bè nhớ đến và quan tâm. Tuy nhiên, thật cay đắng khi cần đến sự hỗ trợ của mọi người. Tôi xấu hổ về điều đó, và tôi đáng bị như vậy.”

Việc Hawthorne bị mất việc tại Cục Hải quan Salem tuy khó khăn nhưng được xem là món quà của văn chương Mĩ.
Trong lúc Hawthorne cần nhất sự giúp đỡ thì James T. Fields đã tìm đến ông. Khi hay tin vị tiểu thuyết gia bị mất việc, Fields và William Davis Ticknor – hai người đứng đầu NXB Ticknor và Fields danh tiếng nhất lúc bấy giờ - đã cố gắng thuyết phục những người bạn chính trị tìm cho ông một vị trí mới nhưng không thành công. Thậm chí một người đã bác bỏ hoàn toàn ý tưởng để một nhà văn làm việc hành chính mặc cho chính Fields luôn luôn kiên định: “Hawthorne là một trong những người nhìn xa trông rộng, và chúng ta không muốn một người như ông vô công rỗi nghề.” Cũng vì lẽ đó, trong một cuộc gặp mặt, Fields đã ngỏ lời sẽ in 2.000 bản “bất cứ thứ gì anh viết”. Đáp lại lời gợi ý đó, Hawthorne cho biết mình không có gì để cống hiến cả. Nhìn thấy một chiếc tủ có ngăn kéo có thể chứa bản thảo, Fields tò mò hỏi có gì trong đó. Bị Hawthorne khước từ, khi chuẩn bị quay lưng bước đi thì vị nhà văn đã kịp nắm bắt định mệnh của cuộc đời mình. Fields nhớ lại: “Khi tôi cất bước đi xuống cầu thang, ông ấy đã gọi tôi lại, muốn tôi nán lại chú ít. Đó cũng là lúc Hawthorne bước ra với một cuộn bản thảo trên tay và nói: ‘Làm sao anh biết có gì trong đó? Nó hoặc rất hay hoặc là rất dở - tôi không biết nữa’. Vậy là trên đường đến Boston, tôi đã đọc được bản thảo sơ khai của Chữ A màu đỏ, và trước khi ngủ đêm đó, tôi đã viết cho ông một bức thư đầy ngưỡng mộ về câu chuyện tuyệt vời mà Hawthorne đã trao cho mình.”
Khi tiến xa hơn, Hawthorne dự định rút gọn cuốn tiểu thuyết đó để đưa vào tuyển tập Nhà xứ cũ, nhưng Fields đã thuyết phục ông mở rộng nó và xuất bản riêng. Khi ấy ông khá lo lắng nó quá “ảm đạm”, vì vậy để cải thiện tình hình, ông đã viết một lời giới thiệu dài, trong đó nhắc đến tình cảnh của mình và là cơ hội để ông châm biếm những đồng nghiệp cũ. Fields thích phần bổ sung này mặc dù Hawthorne tự hỏi liệu độc giả có quan tâm đến những trải nghiệm của ông hay không. Khi hoàn thành tiểu thuyết vào tháng Hai, ông kể với một người bạn rằng Fields “hết lời khen ngợi; trong khi vợ tôi cũng có nhận xét tương tự. Tôi đã đọc phần kết cho bà ấy nghe tối qua. Nó khiến bà ấy đau lòng và lên cơn đau đầu dữ dội, điều tôi coi là một thành công lớn!”
Chữ A màu đỏ được xuất bản vào tháng 3 năm 1850. Lần in đầu tiên gồm 2.500 bản đã bán hết veo. Một tháng sau, thêm 2.500 bản nữa được in, và 5 tháng sau đó, thêm 1.000 bản nữa cũng tẩu tán hết. Cuối cùng, Hawthorne đã đạt được thành công về mặt thương mại. Hầu hết các bài phê bình đều rất tích cực. Tạp chí Massachusetts Quarterly Review hết lời ca ngợi khi cho rằng “chưa có tác phẩm nào mà qua đó [Hawthorne] khẳng định bản thân rõ ràng và mạnh mẽ đến vậy: Ông như một triết gia suy tư, một nhà tư tưởng đạo đức, một con người sống động.” Thế nhưng ngược lại, một số nhà phê bình theo tôn giáo lại lên án chủ đề và nhân vật của ông là “ghê tởm” và “trụy lạc”. Nhưng nhìn chung, và theo thời gian, Chữ A màu đỏ đã được chấp nhận là “tác phẩm quan trọng nhất của tác giả và là một trong những câu chuyện đáng chú ý nhất của giai đoạn đó.”
Tuy nhiên, thành công của cuốn tiểu thuyết không giúp Hawthorne “ăn nên làm ra”. Chỉ vài tháng sau, The Wide, Wide World của Susan Warner xuất hiện, lập tức trở thành hiện tượng và được gọi là best-seller đầu tiên của văn học Mĩ. Nó đã được tái bản 14 lần trong vòng 2 năm, và là một trong nhiều tiểu thuyết tình cảm đã đưa người viết trở thành một người phụ nữ giàu có. Trước tình thế ấy, Hawthorne phàn nàn cay đắng: “Nước Mĩ giờ đây đã bị chi phối bởi một đám phụ nữ viết lách đáng nguyền rủa, và tôi sẽ không có cơ hội thành công chừng nào thị hiếu còn nghiêng về thứ rác rưởi bọn họ làm ra.”
Cũng vì điều ấy mà bản thân ông vẫn cần có sự giúp đỡ của bạn bè mình. Khi một cặp vợ chồng đề nghị cho gia đình Hawthorne sử dụng một căn nhà nhỏ ở rìa khu đất Tanglewood của họ tại Lenox, Massachusetts, cả hai đã chấp thuận và chuyển đến đó vào tháng 3 năm 1850. Tại đây, Hawthorne đã viết Nhà có bảy đầu hồi cũng rất thành công, ra mắt năm 1851 và liền sau đó là The Blithedale Romance. Đây là tiểu thuyết thứ ba trong vòng 3 năm, khiến một số nhà viết tiểu sử nhận xét cảnh huống bị mất việc ở Cục Hải quan hóa ra lại là một món quà cho văn học Mĩ.

Liệu Herman Melville có từng tham khảo ý kiến của Hawthorne cho kiệt tác Moby Dick.
Bên cạnh cho ra đời những tác phẩm sống động, một lí do khác để biết ơn việc Hawthorne mất việc và chuyển đến Lenox vào năm 1850 là ông sẽ sớm gặp được một người hàng xóm gần đó: Herman Melville. Khi ấy nhà văn viết về biển cả này kém Hawthorne 15 tuổi, thế nhưng ở tuổi 31, sau khi trải qua 5 năm lênh đênh trên biển khi còn khá trẻ, ông đã xuất bản được 5 cuốn sách. Cuốn đầu tiên Typee: A Peep at Polynesian Life (1846) được cho là một tác phẩm hồi kí viết về 4 tháng lang thang trên quần đảo Marquesas thuộc Nam Thái Bình Dương sau khi trốn khỏi một tàu đánh bắt cá voi. Trên thực tế, Melville chỉ ở đó một tháng, và ông đã mượn (hoặc đạo) khá nhiều chi tiết từ những tác phẩm khác. Cuốn sách bất ngờ bán chạy ở Mĩ và Anh, trong khi Hawthorne cũng hết lời khen ngợi phong cách nhẹ nhàng, mạnh mẽ và bức chân dung “sống động” về cuộc sống trên đảo.
Trong khi một số nhà phê bình chỉ trích cuốn sách vì dường như quá đề cao sự hưởng lạc thì Hawthorne lại không đồng ý. Theo ông, Melville “có xu hướng tự do, vì vậy sẽ là khắc nghiệt nếu gọi đó là sự lỏng lẻo về mặt nguyên tắc - Điều khiến tác giả trở nên khoan dung với những quy tắc đạo đức mà có thể không phù hợp với chính chúng ta. Đó là chuyện thường với một thủy thủ trẻ tuổi và ưa phiêu lưu.” Có thể nói cuốn sách đầu tay là một khởi đầu đầy hứa hẹn cho Melville. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không cuốn sách nào sau đó bán chạy bằng tác phẩm đầu tay. Sau Typee, ông viết tiếp Omoo dựa trên một thời gian ngắn ở Tahiti cũng như những chuyến đi trên tàu săn cá voi; nhưng thậm chí còn hơn cả Typee, Melville đã “thay đổi sự thật và ngày tháng, thêm thắt các sự kiện, thêm vào đó ý tưởng từ các cuốn sách nước ngoài, bịa đặt các tình tiết và kịch tính hóa những trải nghiệm được ghi chép của người khác thành của chính mình.” Năm 1849, Melville chuyển hẳn sang viết tiểu thuyết với một chuyện tình lãng mạn về một thủy thủ người Mĩ bỏ tàu đánh cá voi để khám phá Nam Thái Bình Dương. Ông sau đó đã viết thêm hai tiểu thuyết về thuyền buồm, kết hợp giữa hư cấu và phi hư cấu, dựa vào kinh nghiệm trên một tàu buôn (Redburn) và một tàu chiến (Jacket trắng), nhưng cả hai đều không thành công.

Những tuyệt tác của thập niên 1850 vẫn không ngừng vọng tiếng đến ngày hiện tại.
Với 2 nhà văn, tính cách cũng như phong cách của họ thường rất khác biệt. Trong khi Melville có những giây phút tràn đầy năng lượng, liến thoắng không ngừng, thì Hawthorne thường trực im lặng. Tuy nhiên, họ lại kết nối với nhau ở một mức độ gần như sâu sắc. Họ gặp nhau lần đầu trong một chuyến leo núi Monument Mountain vào tháng 8 năm 1850 như Fields nhớ lại: “Chúng tôi hăng hái leo lên đỉnh núi, và khi đến nơi, tôi nhớ Melville đã ngồi trên một tảng đá nhọn nhô ra như mũi tàu, và kéo những sợi dây tưởng tượng để mua vui cho cả bọn.” 3 ngày sau, Melville đến thăm Hawthorne để cùng uống sâm panh và đi dạo. Hawthorne sau đó đã mời người bạn mới này ở lại vài ngày vào chuyến thăm sau. Để chuẩn bị, ông đã đọc ngấu nghiến 3 cuốn sách mới nhất của Melville, và viết thư cho bạn bè mình để khen ngợi chúng. Về phía mình, Melville đã đăng một bài phê bình ẩn danh gồm hai phần ca ngợi Mosses from an Old Manse của Hawthorne, thậm chí còn so sánh ông với Shakespeare: “Tôi không có ý nói rằng Nathaniel xứ Salem vĩ đại hơn William xứ Avon, hay vĩ đại ngang bằng. Nhưng sự khác biệt giữa hai người ấy chỉ là chút ít”.
Trong suốt những tháng viếng thăm này, Melville đã phải vật lộn với bản thảo Moby-Dick. Ông cũng lo lắng về thu nhập của mình. Vào tháng 6 năm 1851, ông viết cho Hawthorne rằng “tiền bạc đang giết chết tôi; và con quỷ độc ác cứ cười toe toét qua cánh cửa hé.” Moby-Dick được xuất bản vào tháng 10 năm 1851 tại Vương quốc Anh, và một tháng sau đó tại Mĩ. Theo những thư từ qua lại, Hawthorne đã viết thư cho bạn mình để ca ngợi cuốn sách và dường như còn đề nghị sẽ viết một bài phê bình dài. Từ lâu, các học giả đã tự hỏi liệu Hawthorne có ảnh hưởng gì đến kiệt tác của Melville hay không, bởi không thể phủ nhận thực tế bản thảo của cuốn sách vĩ đại ấy đã nằm trên bàn, ngay trước mắt Hawthorne trong một lần đến thăm. Trong thư từ qua lại, Melville cũng nhiều lần nhắc đến việc vật lộn với cuốn sách, và rõ ràng là nhà văn trẻ tuổi khi ấy rất ngưỡng mộ người bạn lão luyện của mình, vậy nên cũng có khả năng ông rất trân trọng bất cứ lời khuyên nào từ Hawthorne.
Xét đến sự khác biệt lớn giữa phong cách của hai người: những tiểu thuyết nổi tiếng của Hawthorne ngắn gọn và súc tích, bám sát một chủ đề hoặc câu hỏi duy nhất, trong khi tiểu thuyết của Melville lại phóng khoáng, là những cuộc hành trình dài xuyên qua đại dương và các nền văn hóa khác nhau, thì thật khó để tưởng tượng Hawthorne có thể nói gì để thuyết phục Melville chỉnh sửa Moby-Dick. Sự tương tác qua lại giữa hai người họ về tuyệt tác này là điều chúng ta không bao giờ biết. Tuy nhiên dường như vẫn có một dấu hiệu được cài cắm ngay từ trang đầu, khi Melville đề tặng nó cho Hawthorne: “Để bày tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi đối với tài năng của người bạn này”.
LINH TRANG dịch từ nghiên cứu của Bruce Nichols đăng trên LitHub
VNQD