Vào cuối những năm 1960, rất ít nhà phê bình có thể thâm nhập vào kệ sách của các gia đình trung lưu Mĩ, thế nhưng Sunsan Sontag lại là cái tên có phần đặc biệt.
Nhờ sự kết hợp mạnh mẽ giữa trí tuệ và phong cách, sách của bà đã tìm được đường vào những góc khuất ở vùng ngoại ô, nơi những người trẻ nổi loạn, khao khát một nền nghệ thuật phù hợp với những biến động chính trị của thời đại mới hiện đang náu mình. Ở đó, hình ảnh quen thuộc nhất của Sontag là một người phụ nữ cá tính, sở hữu ánh mắt mãnh liệt và mái tóc ngắn vén sang một bên trên bìa cuốn sách Chống lại sự diễn giải (1966).

Susan Sontag là cây cầu nối giữa nhà phê bình và người dẫn đường cho những trào lưu văn hóa đa dạng vào nước Mĩ.
Về đóng góp, có thể nói với văn phong giản dị và các chủ đề mới mẻ, Sontag đã tiên phong giới thiệu nền văn hóa Anh với những Yeats, Eliot, Pound, Joyce... vốn được coi là văn học cao cấp vào nước Mĩ. Song song đó, bà cũng mang đến những yếu nhân châu Âu cấp tiến khác như Lukács, Sartre, Camus, Leiris, Artaud, Weil, Sarraute, Pavese, Cioran, Ionesco, Godard, Bresson, Resnais, Bergman... cho độc giả nước này. Vào thời điểm đó, đây là những tên tuổi có phần xa lạ với độc giả Mĩ, tuy vậy điểm chung của họ (và cả của Sontag nữa khi giới thiệu họ) là đã vượt qua “hàng rào khuôn khổ” của văn hóa Mĩ, từ đó mang đến những hiểu biết mới.
Trong các bài viết, chính sự kết hợp giữa tính mạch lạc và tham vọng đã giúp Sontag trở nên hấp dẫn. Ở đó, phong cách của bà có thể gọi là “phong cách của ý chí cấp tiến”. Như nhiều người thường nhận xét, Sontag là người “phổ biến hóa”, nhưng ở khía cạnh nào đó, danh xưng phù hợp hơn cả phải là “người dẫn đường” – bởi bà đã giới thiệu những tên tuổi độc đáo bên ngoài nước Mĩ, từ WG Sebald, Alexander Kluge đến Tàn Tuyết, László Krasznahorkai... Ở những trang viết, có thể thấy bà là nhà phê bình theo chủ nghĩa tổng quát tận tâm hay dễ hiểu hơn, là một “bậc thầy tổng hợp” như bài cáo phó trên tờ New York Times đã viết. Mặc dù về nguyên tắc bà “phản đối việc diễn giải”, nhưng Sontag luôn ủng hộ nó theo nghĩa tin tưởng sâu sắc vào sứ mệnh truyền đạt cho những người không chuyên để họ quan tâm hơn nữa đến những trào lưu tiên phong mà thoạt nhìn có vẻ khó hiểu.
Một cách mô tả khác về các bài viết của Sontag là chúng có “lập trường” vô cùng mạnh mẽ. Theo đó, việc vội vàng tìm kiếm lập trường, điều đôi khi là đặc điểm cố hữu của giới phê bình, có thể trở thành thái độ giả tạo nếu không có được cơ sở chính trị vững vàng. Điều này không nhằm mục đích nghi ngờ sự tận tâm của bà đối với một số lí tưởng nhất định - điều đã được minh chứng bằng chuyến đi gây tranh cãi đến Hà Nội trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam và Sarajevo trong thời kì chiến tranh Bosnia; cũng như sự ủng hộ nhất quán của bà đối với các nhà văn bị áp bức thông qua Hiệp hội Văn bút (PEN); và những tuyên bố dũng cảm về AIDS, sự kiện 11/9, Abu Ghraib. Nhưng điều cần đặt câu hỏi là bao nhiêu trong số đó đã ảnh hưởng đến chính tác phẩm của bà?
Một lời chỉ trích thường gặp là sự nghiêm túc của bà thiên về thẩm mĩ hay đạo đức hơn là chính trị. Đơn cử ở Chuyến thăm Hà Nội (1968) vô cùng tâm huyết, người ta cho rằng Sontag nói về ý thức cá nhân nhiều hơn là về Việt Nam, nơi là bối cảnh của sự mất phương hướng cá nhân, mặc dù Sontag cũng có những lúc nhận thức được rằng chủ nghĩa phương Đông hiện đang hiện diện trong văn bản của mình. Đôi khi bà biến việc xử lí một vấn đề, dù là chính trị hay thẩm mĩ, thành lời giải thích về bản thân. Hơn nữa, một số bài luận của bà về các nhà phê bình đồng nghiệp cũng chứa đựng những lo ngại nghe có vẻ tự luyến: “Liệu tôi, giống như Cioran, có đủ độc đáo không? Hay lại giống Benjamin, quá là u ám? Hay tương tự Barthes, quá bị quyến rũ bởi sự nhạy cảm?” Trong bài viết cảm động Tưởng nhớ Barthes hướng đến nhà phê bình vĩ đại người Pháp này khi ông qua đời năm 1980, Sontag đề cập đến “sự tự mãn” của ông và không ít người tự hỏi điều tương tự về bản thân bà.
Nhưng rồi “sự tự đắm chìm” lại là yếu tố trung tâm trong tác phẩm của Sontag. Phương pháp cốt lõi của bà là tái hiện những suy nghĩ trong khi đọc, kịch hóa cuộc đấu tranh hướng tới sự diễn giải, và đôi khi những thay đổi trong quan điểm đã dẫn Sontag đến việc suy nghĩ lại và viết tiếp. Bà có thể biến sự lưỡng lự về mặt chính trị thành cái nhìn sâu sắc mang tính phê phán, tái hiện điều mà Adorno - một nhà phê nổi tiếng khác - từng gọi là “mâu thuẫn trắng trợn”, rằng “nhà phê bình văn hóa không hài lòng với nền văn minh, nhưng chính nền văn minh đó lại là khởi nguồn cho sự bất mãn của chính y ta”.
Tuy nhiên, vượt ra ngoài những hiểu biết sâu sắc mang tính phê phán, Sontag đã cố đẩy sự lưỡng lự của bản thân thành “sự thiên vị đầy đam mê”, như bà đã trong lời tựa cuốn sách Chống lại sự diễn giải. Như bà cũng ngụ ý ở đó, phê bình, với bà, là một nhánh văn học, và đôi khi văn phong của bà gợi ý một phiên bản của tiểu thuyết sử thi trưởng thành (Bildungsroman). Sự tự mãn này có thể trở nên thái quá và đôi khi Sontag còn thúc đẩy nó, như bà đã làm trong bài luận năm 1967 khi viết về Cioran: “Thời đại của những tầm nhìn tập thể có lẽ đã qua… Nhu cầu về lời khuyên tinh thần cá nhân chưa bao giờ cấp thiết hơn lúc này đây. Còn ai tự cứu được mình?”
Chắc chắn việc bà đón nhận văn hóa đại chúng đương thời đã làm một số trí thức New York cảm thấy khó chịu, vì dường như nó làm suy yếu niềm tin của họ vào chủ nghĩa hiện đại như một nền văn hóa cao cấp. Do đó, một phần, họ vô cùng bất bình với phong trào phản văn hóa những năm 1960 vốn cũng chế giễu niềm tin nói trên, cùng lúc chuyển hướng rõ rệt từ chủ nghĩa tự do sang tân bảo thủ trong giai đoạn đó. Tuy nhiên, đối với Sontag, việc đón nhận văn hóa đại chúng là một thể nghiệm về đường ranh giới giữa cao cấp và bình dân, nó mang tính chất tiên phong chứ không đơn thuần là quân bình hóa.
Dấu hiệu rõ ràng về vị thế được kính trọng của bà như một trí thức New York là những lời ca ngợi mà tờ New York Times dành đến khi bà qua đời vào tháng 12 năm 2004. Charles McGrath, cựu biên tập viên của chuyên mục đánh giá sách của thời báo này đã tuyên bố Sontag là “trí thức xuất chúng nhất thời đại chúng ta”. Nhưng đánh giá này cũng bị hoài nghi, bởi chẳng phải so với Barthes, Sontag vẫn là cái tên thuộc về hậu bối? Một thước đo khác về sự ưu việt trong tư tưởng là liệu các nhà phê bình trẻ có tiếp tục quan tâm đến tác phẩm của bà hay không. Và không khó thấy Sontag hiện không nằm trong các danh sách đọc. Có lẽ bà quá “New York” hoặc quá “Hoa Kì”, không đủ “chất Pháp” có tính hệ thống trong tư tưởng, cũng không đủ “kiểu Đức” mang hơi hướng triết học, trong khi “kiểu Anh” nghiêng theo lịch sử xã hội cũng không phải là phong cách của bà...
Bà không tham gia các cuộc phản tư về Marx, Nietzsche và Freud - những cuộc đọc lại đã tạo ra một “sự đột phá triệt để về truyền thống phê bình thời hậu chiến”. Bà cũng không viết nhiều về những cuộc phiêu lưu vĩ đại của kí hiệu, tâm lí và tình dục - những điều đã định hình nên “các trí thức lỗi lạc của thời đại chúng ta”. Vấn đề bản sắc cũng không phải là sở trường của bà. Có lẽ sức mạnh trong tác phẩm của bà - sự tập trung vào các phong trào tiên phong châu Âu - giờ đây lại trở thành hạn chế khi thời gian trôi qua, nhưng bà không phải là người duy nhất cảm thấy như vậy.
Bởi lẽ trong mỗi thời kì chuyển giao văn hóa, luôn có một vài nhân vật mà thế hệ cũ và thế hệ mới nhất trí ngợi ca. Mahler là một nhà soạn nhạc như vậy ở Vienna vào cuối thế kỉ 19. Và Sontag cũng là một nhà phê bình như vậy trong những thập kỉ cuối cùng của thế kỉ trước, được giới trí thức New York nuông chiều như một thần đồng ngang bướng, nhưng lại được giới trí thức sau năm 1968 đánh giá cực cao như tiếng nói phản văn hóa độc đáo. Vì vậy, bà cũng đóng vai trò là cầu nối giữa hai thế hệ. Xét theo khía cạnh này, Sontag không phải là một hình mẫu trí thức thế hệ mới, mà chính xác hơn là một nhân vật mang tính chuyển tiếp giữa nhà phê bình và nhà lí luận - vị trí không ai soán được bởi những đóng góp của bản thân bà.
NGÔ THUẬN PHÁT dịch từ bài viết Hal Foster trên The MIT Press Reader
VNQD